Lớp Kinh tế đầu tư 48B Nhóm 13
Chương I:Những vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa đầu tư
vào tài sản hữu hình và tài sản vô hình.
I./ Một số vấn đề lý luận chung về đầu tư vào tài sản hữu hình và tài
sản vô hình:
1. Định nghĩa, phân loại và ý nghĩa:
1.1. Định nghĩa chung về tài sản doanh nghiệp:
Tài sản: Là một khái niệm pháp lý bao gồm tất cả các quyền, quyền
lợi, lợi nhuận có liên quan đến quyền sỏ hữu, bao gồm: quyền sở hữu cá
nhân, nghĩa là chủ sở hữu được hưởng những quyền lợi, lợi ích nhất định
khi làm chủ sở hữu tài sản đó. (Theo uỷ ban thẩm định giá quốc tế- IVSC)
Doanh nghiệp: Là một tổ chức được lập ra để tiến hành hoạt động
kinh doanh. Tài sản là yếu tố giữ vai trò quyết đinh trong doanh nghiệp để
tiến hành các hoạt động trong đầu tư như: sản xuất, mua bán hay dịch vụ
nhằm mục đích sinh lời…
Tài sản doanh nghiệp: Là toàn bộ tiềm lực kinh tế của đơn vị, biểu
thị cho những lợi ích mà doanh nghiệp thu được trong tương lai hoặc
những tiềm năng phục vụ cho hoạt động kinh doanh của đơn vị. Tài sản
của doanh nghiệp chính là toàn bộ những tài sản hữu hình và vô hình gắn
với lợi ích của doanh nghiệp, quyết định việc mang lại giá trị cho doanh
nghiệp trong tương lai và thoả mãn các điều kiện sau:
- Thuộc quyền kiểm soát lâu dài của đơn vị
- Có giá trị thực sự đối với doanh nghiệp
- Có giá trị xác định
1.2. Phân loại tài sản doanh nghiệp:
1.2.1. Tài sản hữu hình: (TSHH)
a) Khái niệm:
TSHH là những tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp, xí nghiệp…
mang thuộc tính vật chất. Ví dụ như: nhà xưởng, máy móc, dụng cụ, thiết
bị, nguyên nhiên vật liệu, hay những tài sản trong xây dựng và phát triển,
có khả năng mang lại lợi nhuận cho chủ sở hữu một cách trực tiếp hoặc
chất. Ví dụ như: hàng trong kho, các loại nguyện vật liệu mua về để tích
trữ, các sản phẩm gửi bán…
c) Ý nghĩa:
Tài sản hữu hình có ý nghĩa quyết định đối với nhà máy, xí nghiệp.
Nó vừa là nơi sản xuất, vừa là yếu tố tạo nên sản phẩm. Chính vì vậy, tài
sản hữu hình là cơ sở để quyết định chất lượng sản phẩm, giá thành sản
phẩm và số lượng sản phẩm. Nếu ta liên hệ nhà máy với một con người thì
tài sản hữu hình chính là phần xác thịt, nội tạng của con người và đồ ăn
thức uống nuôi sống con người hàng ngày (khung của người ứng với máy
móc, nguyên liệu ứng với lương thực thực phẩm hàng ngày…)
2
Lớp Kinh tế đầu tư 48B Nhóm 13
Nếu không có tài sản hữu hình thì quá trình sản xuất không thể tồn
tại. Muốn có hàng hoá con người cần phải sản xuất. Để sản xuất, chúng ta
cần có công cụ, địa điểm và các yếu tố cần thiết khác. Nói tóm lại tài sản
hữu hình chính là điều kiện để con người tạo ra sản phẩm.
Chính tài sản hữu hình là nền tảng, nguồn gốc tạo ra tài sản vô hình.
Mọi giá trị vô hình đều được tạo nên từ giá trị hữu hình của sản phẩm và
đây cũng chính là sản phẩm của quá trình sản xuất phát triển tài sản hữu
hình của doanh nghiệp. Như vậy, ta có thể nói tài sản hữu hình đã gián tiếp
tạo ra tài sản vô hình, giá trị vô hình.
Trên thực tế, có nhiều công ty chỉ chuyên bán thương hiệu của mình
cho các hãng khác. Đặc biệt trong lĩnh vực thời trang, những hãng nổi tiếng
có tầm ảnh hưởng lớn trên phạm vi toàn thế giới (Le’vis, D&G…). Có thể
không cần trực tiếp sản xuất ra sản phẩm, nhưng để có được sản phẩm các
công ty đó cũng phải có cơ sở sản xuất và cũng cần tới tài sản hữu hình, về
bản chất ta thấy nếu quy trụ sở chính của công ty với các cơ sở sản xuất mà
nó bán thương hiệu chỉ là một công ty lớn và nhiệm vụ được phân công
cho từng bộ phận thì sẽ thấy được thực ra mối quan hệ giữa chúng hoàn
toàn là gắn kết.
quyền này có thể tồn tại theo những điều kiện của một hợp đồng
dưới hình thức văn bản hay không bằng văn bản. Giá trị của
quyền phụ thuộc vào những lợi ích tài chính mà quyền đó mang
lại cho doanh nghiệp.
- Mối quan hệ giữa các bên: Mọi doanh nghiệp đều phải thiết lập
mối quan hệ với các đơn vị,các chủ thể và các cá nhân bên ngoài
khác. Mối quan hệ này có thể không thể hiện thành hợp đồng
nhưng nó rất quan trọng đối với doanh nghiệp.
- Các tài sản vô hình lập thành nhóm: Là giá trị vô hình thặng dư
còn lại sau khi tất cả tài sản vô hình có thể nhận biết được đã
được đánh giá và trừ khỏi tổng tài sản vô hình, thường được gọi
là uy tín. Đặc biệt là đối với những công ty đang làm ăn tốt và có
lợi thế kinh doanh.
- Tài sản sở hữu trí tuệ: Là những tài sản vô hình không nằm ở
dạng vất chất nhưng chúng có giá trị vì chúng có khả năng sinh ra
dòng lợi nhuận trong tương lai. Tài sản sở hữu trí tuệ là loại đặc
biệt của tài sản vô hình, nó thường được luật pháp bảo vệ khổi
những sự sử dụng trái thẩm quyền của những người khác. Ví dụ
như: nhãn hiêu, bản quyền, bằng sáng chế…
2. Đầu tư vào tài sản vô hình và tài sản hữu hình:
2.1. Đầu tư vào tài sản hữu hình:
2.1.1. Khái niệm:
Đầu tư (đầu tư phát triển) là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến
hành các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo ra những năng lực sản xuất
tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển.
Như vậy, đầu tư vào tài sản hữu hình chính là hoạt động đầu tư vào
phần giá trị hữu hình của nhà máy, xí nghiệp nhằm mục đích nâng cao
năng suất sản xuất, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí…
4
Lớp Kinh tế đầu tư 48B Nhóm 13
K
GDP∆
H
K
=
K
VA∆
H
K
=
K
LN∆
Trong đó:
GDP - Tổng sản phẩm trong nước
VA - Giá trị tăng thêm
LN – Tăng lợi nhuận
K - Vốn đầu tư cơ bản
5
Lớp Kinh tế đầu tư 48B Nhóm 13
Tuỳ theo mức độ chính xác, cần phân biệt các chỉ tiêu hiệu suất vốn
đầu tư cơ bản khác nhau, có liên hệ với nhau:
H
K
=
K
GDP∆
=
MR
SX
K
: Vốn đầu tư cơ bản để tái sản xuất TSCĐ có tính chất sản xuất.
H
KSXMR
: Hiệu suất vốn đầu tư cơ bản để tái sản xuất mở rộng TSCĐ
có tính chất sản xuất.
d
KSX
: Tỷ trọng vốn đầu tư cơ bản để tái sản xuất mở rộng TSCĐ có
tính chất sản xuất trong vốn đầu tư cơ bản để tái sản xuất TSCĐ có
tính chất sản xuất.
d
SX
: Tỷ trọng vốn đầu tư cơ bản để tái sản xuất TSCĐ có tính
chất sản xuất trong toàn bộ vốn đầu tư cơ bản.
Quy mô vốn đầu tư cơ bản thường xuyên biến động qua các thời
điểm và thời kỳ nghiên cứu. Để nghiên cứu nó, ta thường sử dụng Bàn cân
đối vốn đầu tư cơ bản và Chỉ số:
Bảng cân đối vốn đầu tư cơ bản
Đơn vị tính: ….
Chỉ
tiêu
Loại
TSCĐ
Đầu kỳ Tăng trong kỳ Giảm trong kỳ Cuối kỳ
XD
dở
dang
SCL,
HĐH
chưa
HĐH
chưa
hoàn
thành
Tổng
số
A 1 2 3=2+
1
4 5 6=4+5 7 8 9=7+
8
10 11 12=
10+
11
6
Lớp Kinh tế đầu tư 48B Nhóm 13
b) Tiến bộ kỹ thuật:
Tiến bộ kỹ thuật là một trong những yếu tố quan trọng để phát triển
sản xuất, tăng GO và GDP. Nội dung tiến bộ kỹ thuật bao gồm:
- Điện khí hoá
- Cơ khí hóa
- Hoá học hoá
- Điện tử tin học
- Phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, quy trình công nghệ, hợp lý
hoá quá trình sản xuất.
Các chỉ tiêu thống kê quá trình cơ khí hoá, tự động hoá:
* Hệ số cơ khí hoá hoặc tự động hoá công tác ( H
CTHCT
)
H
CTHCT
và cuối cùng phải thanh lý. Đối với tài sản cố định dùng cho sản xuất, giá
trị được chuyển dần dần vào giá trị của sản phẩm mà TSCĐ tham gia sản
xuất ra theo mức độ hao mòn. Sau khi tiêu thụ sản phẩm thì phần chuyển
dịch của tài sản cố định vào giá trị của sản phẩm được thu hồi lại dưới dạng
trích khấu hao.
Tổng mức khấu hao tài sản cố định (M)
M = (G
)(kpbd
– G
lb
) + (G
scl
+ G
hdh
)
= M
CB
+ M
SH
G
)(kpbd
- giá trị ban đầu hoặc khôi phục hoàn toàn của TSCĐ
G
lb
- giá trị loại bỏ
G
scl
- Chi phí sửa chữa lớn TSCĐ dự kiến trong suốt thời gian hoạt động
của TSCĐ
G
phẩm, giá thành cao hay thấp. Như vậy, mặc dù đầu tư hướng ngoại không
trực tiếp tác động vào các yếu tố sản xuất nhưng lại làm tăng doanh thu và
lợi nhuận do hoạt động này, trực tiếp làm tăng lượng hàng hoá được tiêu
thụ. Trong nền kinh tế trọng cầu thì việc công ty tiêu thụ được bao nhiêu
sản phẩm có ảnh hưởng mang tính quyết định hơn cả việc công ty đó sản
xuất được bao nhiêu sản phẩm. Vì với công nghệ sản xuất tiên tiến như
ngày nay, một công ty có lượng hàng lớn thì họ hoàn toàn chủ động vay
vốn để mở rộng sản xuất cũng như tăng năng suất lao động.
3. Lợi nhuận và đặc điểm chung khi đầu tư vào tài sản vô hình và tài
sản hữu hình.
3.1. Lợi nhuận khi đầu tư vào tài sản hữu hình:
3.1.1. Cơ sở tạo ra lợi nhuận khi đầu tư vào tài sản hữu hình:
Khi công ty đầu tư vào tài sản hữu hình, năng suất lao động bình
quân sẽ tăng. Mà lợi nhuận của một công ty phụ thuộc vào hiệu số giữa
doanh thu và chi phí ( п = TR – TC) nên khi doanh thu tăng nhanh hơn
chi phí hoặc chi phí giảm dần làm cho lợi nhuận tăng lên. Doanh thu cận
biên MR là mức thay đổi của tổng doanh thu do tiêu thụ thêm một đơn vị
sản phẩm: MR =
Q
TR
∆
∆
. Những nhân tố tác động đến lợi nhuận : quy mô
sx hàng hoá, dịch vụ, quan hệ cung cầu hàng hoá; Giá và chất lượng của
các đầu vào và phương pháp kết hợp các đầu vào trong quá trình sản xuất
kinh doanh; giá bán hàng hoá dịch vụ và những hoạt động nhằm thúc đẩy
quá trình tiêu thụ và thu hồi vốn…
Trong trường hợp đầu tư vào tài sản hữu hình theo chiều rộng, tổng
doanh thu sẽ tăng lên vì số lượng sản phẩm tăng, nhưng chi phí biên sẽ
tăng lên nên chi phí khi sản xuất ra thêm một đơn vị sản phẩm sẽ tăng
những khó khăn khách quan, không thể thoát ra được nếu nhà máy chỉ
đứng bằng một chân là đầu tư vào tài sản hữu hình.
Từ phía tổng cung công ty gặp phải những trở ngại lớn khi đầu tư
tìm kiếm lợi nhuận. Quy luật năng suất cận biên giảm dần là một lực cản
khách quan mà công ty không thể tránh khỏi khi đầu tư vào tài sản hữu
hình. Nó làm cho hiệu quả trên mỗi đồng vốn giảm dần trong quá trình đầu
tư phát triển.
Lịch sử phát triển của Chủ nghĩa tư bản đi cùng với quá trình phát
triển, sáng tạo về cơ sở sản xuất ra sản phẩm. Cùng với thời gian, những
đợt sóng đầu tư đã lan rộng ra trên toàn thế giới. Thời gian đã san phẳng lợi
nhuận, những mảnh đất màu mỡ và những chiếc bánh ngọt thị trường đã
được chia hết. Con đường mở rộng sản xuất cả về quy mô lãnh thổ lẫn lĩnh
vực đầu tư đều đã tiến dần đến điểm bão hoà: khi khoa học, công nghệ
10
Lớp Kinh tế đầu tư 48B Nhóm 13
chưa đủ phát triển để cho ra đời những ngành sản xuất mới, các công ty
không còn tìm ra được những mỏ vàng như trước nếu vẫn đi theo lối mòn
cũ.
Tổng cầu cũng tạo nên những khó khăn không nhỏ. Nhu cầu là vô
tận nhưng nhu cầu của con người đối với hàng hoá không phải là vô tận.
Quá trình phát triển sẽ nâng cao mức sống của con người ngày càng cao
hơn. Nhu cầu đối với hàng hoá cấp thấp và hàng hoá thông thường sẽ giảm
dần, con người sẽ có điều kiện tiêu dùng những hàng hoá, dịch vụ hàng hoá
cấp cao, hàng hoá xa xỉ- đó là thời kỳ phát triển của những hàng hoá cấp
cao (phát triển sau khi đã đảm bảo đầy đủ hàng hoá thiết yếu cho đại bộ
phận người dân).
3.1.2. Đầu tư vào tài sản vô hình – Đầu tư tìm kiếm siêu lợi nhuận:
Tài sản vô hình ra đời cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế
thị trường. Tuy nhiên giá trị của nó được quyết định chủ yếu về tâm lý, cho
nên nó chỉ thực sự phát triển mạnh tại những thời điểm mà nhu cầu về tâm
của sản phẩm. Mặc dù chất lượng và kiểu dáng của áo hãng Viettien tốt và
đẹp hơn với những hãng của Trung Quốc mà ta vẫn thường thấy nhưng nó
không đủ thuyết phục để giải thích giá trị của nó cao hơn gấp đôi những
hãng kia. Giá trị vật chất không phải là yếu tố duy nhất quyết định giá cả
của sản phẩm. Khách hàng sẵn sàng chi trả ra khi họ thấy được thoả mãn
mà yếu tố tâm lý lại là nguyên nhân chính của sự thoả mãn đó. Tâm lý
khách hàng rõ ràng là một yếu tố không thể bỏ qua mà muốn khai thác yếu
tố nguồn lợi này với phần giá trị sủ dụng đơn thuần chỉ mới cung cấp chỉ là
điều kiện cần. Điều kiện đủ chính là phần giá trị vô hình của chính sản
phẩm đó.
Các hãng sản xuất luôn luốn tối thiểu hoá số lượng cũng như sức
mạnh của các đối thủ. Thêm một đối thủ họ lại mất thêm nhân lực để điều
tra, tìm hiểu và tiền bạc để làm giảm sức mạnh của những hãng đó. Nhưng
với những hãng lớn thì những vị khách không mời mà đến này mới có thể
làm lung lay vị trí của họ trên thị trường. Khách hàng đã quá hiểu họ nên
sẽ ít người mạo hiểm thử sản phẩm của các hãng mới, trừ khi bạn phải hạ
giá thành và bù lỗ ban đầu. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng chính
những hãng mới, đối thủ mới xuất hiện thì tính cạnh tranh càng cao, dẫn tới
kết quả các bên đều lo nâng cấp sản phẩm của mình, làm cho nó ngày một
tốt hơn. Ví dụ: trong thị trường may mặc, mỗi tháng trên thế giới có rất
nhiều hãng mới được thành lập nhưng đối với thị trường máy tính thì số
lượng các thành viên mới xuất hiện rất ít, không đủ để thoát khỏi “bức
tường” thương hiệu mà các công ty cũ đã dựng sẵn trên phạm vi toàn cầu.
Tóm lại, một công ty, cũng như một con người thì không thể tách rời
hai yếu tố: tài sản hữu hình và tài sản vô hình- phần “con” và phần
“người”. Chúng là hai mặt của một thể thống nhất không thể tách rời.
II. Mối quan hệ giữa đầu tư vào tài sản vô hình và tài sản hữu hình:
1. Đầu tư vào tài sản hữu hình – Cơ sở, tiền đề để phát triển tài sản vô
hình:
1.1. Tài sản hữu hình là nền móng, nguồn gốc tạo ra tài sản vô hình:
cho giá trị tài sản vô hình thực sự vượt lên trên phần hữu hình nhưng nó
không bao giờ có khả năng thoát ly ra khỏi phần vật chất tạo ra nó.
2. Sự tác động của đầu tư vào tài sản vô hình đến tài sản hữu hình:
Tài sản vô hình ra đời và phát triển trên nền tảng cơ sở là tài sản hữu
hình. Tuy nhiên, nó không thụ động, phụ thuộc mà ngược lại, khi đã lớn
mạnh đến một mức độ nhất định sẽ tác động trở lại tài sản hữu hình,kéo tài
sản hữu hình cùng phát triển.
Đầu tư vào quảng cáo, mở rộng các mối làm ăn là một trong những
phương thức hiệu quả để công ty nâng cao giá trị vô hình. Với một thương
hiệu quen thuộc, danh giá và những mối làm ăn cùng bí quyết, công nghệ,
quyền lợi pháp lý có ưu thế hơn các đối thủ trên thị trường, lợi nhuận sẽ
chảy vào công ty và mang lại nguồn vốn tự có to lớn, vừa giúp công ty có
13
Lớp Kinh tế đầu tư 48B Nhóm 13
thể trực tiếp đầu tư vào tài sản vô hình lại vừa tạo điều kiện để có thể vay
ngân hàng, nâng nguồn vốn của công ty lên.
Nắm được kỳ vọng về nguồn lợi nhuận mà tài sản vô hình có thể
mang lại trong tương lai, những nhà lãnh đạo của công ty sẽ hướng cho
nâng cao chất lượng sản phẩm để tạo cơ sở thu về giá trị vô hình lớn cho
công ty. Với những sản phẩm tốt, khách hàng sẽ tự tìm đến, hàng hoá khi
bán được dễ dàng trên phạm vi rộng lớn thì uy tín, thưong hiệu, vị thế.. của
công ty chắc chắn sẽ được cải thiện trên sân chơi thị trường.
Đây là biện pháp nâng cao giá trị của tài sản vô hình một cách chắc
chắn, an toàn, hiệu quả và chủ động hơn so với quảng cáo, tiếp thị. Phương
pháp đầu tư vào tài sản hữu hình làm tăng giá trị vô hình là do chất lượng
của sản phẩm thực tế đã được cải thiện, khách hàng không chỉ nghe mà còn
trực tiếp thưởng thức, cảm nhận. Quảng cáo chỉ có thể làm cho sản phẩm
gần gũi hơn, quen thuộc hơn, còn khi nâng cao chất lượng sản phẩm thì
công ty còn tạo được niềm tin của khách hàng vào sản phẩm, không lo ngại
bong bóng thị trường sẽ dễ vỡ như những công ty chỉ đi khoa trương danh
phụ thuộc và trễ pha so với cầu của xã hội về tỷ lệ giữa phần giá trị vô hình
và giá trị hữu hình của sản phẩm.
Một xã hội chỉ coi trọng tài sản vô hình thì đến một thời điểm nào đó
sẽ rơi vào điểm dừng và khó có thể đi lên được. Hay một đất nước chỉ tập
trung vào đầu tư phát triển tài sản vô hình thì cũng sẽ gặp phải những khó
khăn nhất định và lệ thuộc tương đối vào những nền kinh tế khác.
3. Những nhân tố thúc đẩy và kìm hãm mối quan hệ giữa đầu tư vào
tài sản hữu hình và tài sản vô hình:
3.1. Những nhân tố thúc đẩy mối quan hệ giữa đầu tư vào tài sản hữu
hình và tài sản vô hình phát triển:
Tính mới là yếu tố mang lại giá trị to lớn về tài sản vô hình cho công
ty. Tính mới là những công dụng, hình dáng hay mẫu mã mà do chính công
ty đó phát hiện sáng tạo ra, được thị trường chấp nhận và thực sự mang lại
sự tiện dụng, tiện ích nhất định cho khách hàng. Điều đó khẳng định tính
mới gắn liền với sáng tạo, khoa học, tri thức…
Càng có nền tảng tri thức vững chắc, xã hội càng tạo ra được nguồn
cung lớn về tài sản vô hình. Những người không được đào tạo bài bản,
không được tiếp xúc với tri thức khoa học thì không thể lập trình phần
mềm hay tạo những công nghệ, bí quyết mới trong sản xuất.
Vai trò của tri thức ngày một to lớn hơn, làm cho mối quan hệ giữa
tài sản vô hình và tài sản hữu hình thêm khăng khít và vai trò của việc đầu
tư vào tài sản vô hình và tài sản hữu hình ngày càng được nhận thức một
cách thấu đáo, đúng đắn và khách quan hơn.
Yếu tố tâm lý quyết định nhu cầu của con người trong việc nhìn
nhận giá trị của tài sản vô hình và tài sản hữu hình. Tuỳ thuộc vào thu nhập
ở từng thời điểm, tâm sinh lý từng độ tuổi và văn hoá của từng khu vực mà
cầu về giá trị vô hình và giá trị hữu hình của khách hàng có những khác
biệt. Không ai bán hàng hoá xa xỉ ở những trại tế bần và cũng không ai
mang quần áo lỗi mốt đến những khu biệt thự sang trọng. Nắm được tâm lý
khách hàng, phân nhóm khách hàng ta sẽ có những hướng đi đúng trong
Tự cung tự cấp là hoạt động kinh tế cơ bản trong chế độ phong kiến.
Với trình độ sản xuất thấp kém , quan điểm về kinh tế hà khắc và hạn hẹp
đã hướng người dân vào lối sống khép mình, tự làm tự hưởng, không có
giao lưu, học hỏi với đối tượng bên ngoài. Sản xuất ra với số lượng ít, chỉ
đủ đảm bảo những nhu yếu phẩm cơ bản nhất và không giao lưu với bên
ngoài nên xã hội hoàn toàn không có giá trị vô hình. Sản phẩm sản xuất ra
chỉ nhằm mục đích nuôi sống bản thân người sản xuất, hoàn toàn được tính
toán giá trị tổng sản phẩm theo đơn vị tính toán cơ bản như kilogam hay số
sản phẩm. Đầu tư theo hướng tái sản xuất giản đơn vào tài sản hữu hình và
không có đầu tư vào tài sản vô hình là đặc trưng của nền kinh tế thời kỳ
phong kiến.
16
Lớp Kinh tế đầu tư 48B Nhóm 13
4.2. Trong nền kinh tế bao cấp:
Trong nền kinh tế bao cấp, cỗ máy kinh tế được vận hành theo một
chủ đạo đồng bộ từ trên xuống dưới. Nhà nước là nơi vạch ra mọi kế
hoạch, mọi dự án mà cấp cơ sở buộc phải thực thi. Sau đó sản phẩm lại
được một cơ quan khác chỉ đạo xuống từng đơn vị sản phẩm trong việc
phân phối đến đối tượng nào. Quy luật cung cầu tồn tại một cách mờ nhạt.
Do hoạt động sản xuất theo mệnh lệnh đã giết chết động lực làm việc tích
cực và sáng tạo.
Đầu tư vào tài sản hữu hình theo định hướng của lãnh đạo là tái sản
xuất mở rộng nhưng hiệu quả kém của hoạt động sản xuất đã kéo lùi nền
kinh tế đi xuống. Và hoạt động tiêu thụ sản phẩm cũng hoàn toàn cấp phát
nên doanh nghiệp không phải lo lắng nâng cao giá trị thương hiệu hay uy
tín. Đơn giản vì nền kinh tế chỉ yêu cầu họ đảm bảo đủ số lượng sản phẩm
mà cấp trên đã đề ra.
Hàng hoá sản xuất ra hoàn toàn cơ học từ khâu thu mua nguyên vật
liệu cho đến tiêu thụ nên doanh nghiệp cũng chỉ phải thực hiện những hoạt
động cứng nhắc trong khuôn khổ cho phép, nên mọi sáng tạo đều bị triệt
lý do để doanh nghiệp mở rộng đầu tư vào tài sản vô hình, nhằm mục tiêu
tận dụng nguồn cầu về hàng hoá có chất lượng tốt xã hội. Trong thời kỳ
này, nhà tư bản một mặt tập trung đầu tư và nâng cấp, cải tiến hệ thống
máy móc và mặt khác chăm lo quảng bá thương hiệu, uy tín, mối quan hệ
trên thị trường và liên tục tìm tòi cái mới để tạo nên những bước nhảy vọt
về giá trị tài sản vô hình. Có thể nhận thấy trong nền công nghiệp hiện đại,
trí thức sáng tạo đã có vai trò,vị trí hết sức quan trọng, tạo cơ hội mới cho
giới tri thức phát triển và là điều kiện cần thiết, cơ sở để đưa nền kinh tế tri
thức thế giới bước sang một trang mới: Thời kỳ hậu công nghiệp hay thời
kỳ của nền kinh tế tri thức.
Kinh tế tri thức là sự phát triển cao hơn của nền kinh tế Đại công
nghiệp. Nó ra đời khi mà những nhu cầu về hàng hoá tiêu dùng cơ bản
không còn là nỗi lo, gánh nặng của người dân và khả năng sản xuất xã hội
đủ sức đáp ứng tối đa nhu cầu vật chất của xã hội, hướng sản xuất thời kỳ
này là tạo ra những sản phẩm, dịch vụ mang lại sự thoải mái, tiện nghi do
người sử dụng và giải phóng tối đa sức người lao động.
Đầu tư vào tài sản hữu hình đã ở điểm bão hoà. Quá trình tái sản xuất
theo chiều rộng không còn mang lại hiệu quả vì về phía cung đã có được
những bước tiến trong thời kỳ trước. Đầu tư vào tài sản hữu hình bây giờ
phần lớn là đầu tư duy trì hoạt động sản xuất và đổi mới công nghệ.
Đầu tư vào tài sản vô hình phát triển trên hai mặt: tăng phần chất
xám trên mỗi đơn vị sản phẩm và quảng bá sản phẩm ra thị trường.
Xã hội trong thời đại tri thức đã được hưởng thụ một nền giáo dục
tiên tiến, văn hoá và thu nhập cao đã tạo nên nhu cầu tận hưởng cuộc sống
tiện nghi, đầy đủ, và thoải mái hơn. Để đáp ứng nhu cầu này của khách
hàng, không còn cách nào khác doanh nghiệp sẽ phải tập trung, thu hút
nguồn lực chất xám để đảm bảo sản phẩm cung ứng ra thị trường, để được
thị trường khó tính này chấp nhận.
Đầu tư bây giờ có thể chia làm ba lĩnh vực lớn: Đầu tư vào tài sản
hữu hình, đầu tư tăng tỉ lệ chất xám trên mỗi sản phẩm và đầu tư mở rộng
được phân phối rộng.
Đầu tư vào tài sản hữu hình và tài sản vô hình là hai mặt không thể
thiếu trong hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp. Hai mặt này liên hệ chặt
chẽ với nhau và tác động qua lại lẫn nhau. Khi doanh nghiệp muốn định
vị một sản phẩm cao cấp trên thị trường thì phải tập trung vào mua sắm
máy móc thiết bị phù hợp đồng thời phải tìm hiểu bí quyết công nghệ,
đào tạo cán bộ khoa học nghiên cứu trong lĩnh vực này, phải xác định
được khách hàng mục tiêu trên thị trường, tức là phải đầu tư vào nguồn
nhân lực để tìm hiểu, nghiên cứu thị trường. Đồng thời doanh nghiệp cần
có các chiến lược Marketing như: đóng gói bao bì, quảng cáo, khuyến
mại, và xúc tiến bán cho phù hợp với nhãn hiệu đang được định vị, tức là
chúng ta phải đầu tư đồng bộ vào cả tài sản cố định hữu hình và tài sản vô
hình một cách hợp lý. Nếu không thực hiện được đồng bộ những công
việc nói trên, thì sản phẩm của doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn
trong việc chiếm lĩnh thị trường. Chẳng hạn, nhãn hiệu bia Laser được
định vị là một sản phẩm cao cấp, được khách hàng chấp nhận là một sản
phẩm có chất lượng cao vì công ty đã đầu tư rất nhiều vào hoạt động
quảng cáo, công nghệ, kĩ thuật sản xuất… Nhưng do sự đầu tư không hợp
lý đồng bộ vào kênh phân phối nên nhãn hiệu này đã thất bại trong quá
19
Lớp Kinh tế đầu tư 48B Nhóm 13
trình xâm nhập thị trường. Mặt khác, nếu doanh nghiệp chỉ quan tâm đến
các vấn đề đầu tư vào tài sản vô hình như: nhãn hiệu hàng hoá, thương
hiệu… mà không chú ý một cách đúng mức đến tài sản hữu hình thì cũng
khó có thể thành công trong việc sản xuất kinh doanh. Một doanh nghiệp
không thể thu được lợi nhuận cao nếu không có hệ thống máy móc, trang
thiết bị hiện đại với quy mô sản xuất và chi phí hợp lý. Chẳng hạn như
hãng café Trung Nguyên, một thương hiệu nổi tiếng trên thị trường trong
nước và quốc tế nhưng trong những năm gần đây, do Trung Nguyên quá
chú trọng vào việc mở rộng thương hiệu thông qua hình thức nhượng
giữa người đó với những cá nhân khác là những khía cạnh không thể tách
rời để biến một đứa trẻ thành một con người. Để có được những con người
theo đúng nghĩa đòi hỏi đầu tiên là phải có ba khía cạnh trên kết hợp lại.
20
Lớp Kinh tế đầu tư 48B Nhóm 13
Chương II: Thực trạng của hoạt động đầu tư vào tài sản
hữu hình và tài sản vô hình trong các doanh nghiệp
Việt Nam
I. Tình hình đầu tư vào tài sản hữu hình và tài sản vô hình ở các
nước trên thế giới:
Tài sản của doanh nghiệp có thể được chia thành 2 loại: tài sản hữu
hình – bao gồm nhà xưởng, máy móc, tài sản tài chính và cơ sở hạ tầng,
và tài sản vô hình – được tính từ nguồn nhân lực, bí quyết kỹ thuật đến
các ý tưởng, thương hiệu, kiểu dáng và các kết quả vô hình khác có được
từ năng lực đổi mới và sáng tạo của doanh nghiệp. Theo truyền thống, tài
sản hữu hình là tài sản chính của doanh nghiệp và có ý nghĩa quyết định
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Trong những năm
gần đây, tình hình đã thay đổi đáng kể. Các doanh nghiệp đang nhận ra
rằng tài sản vô hình trở nên có giá trị hơn so với tài sản hữu hình của
mình. Do thành quả của cuộc cách mạng công nghệ thông tin và sự tăng
trưởng của nền công nghiệp dich vụ, các nhà xưởng và nhà máy lớn đang
dần được thay thế bởi các phần mềm và các ý tưởng đổi mới mạnh như là
phần thu nhập chính của phần lớn các doanh nghiệp trên toàn thế giới. Do
đó, tài sản vô hình đóng vai trò trung tâm và doanh nghiệp cần tìm ra
cách thức sử dụng tốt nhất các tài sản vô hình của mình.
Trong nền kinh tế thị trường, một trong những mục tiêu quan trọng
của các doanh nghiệp là phải làm gia tăng được giá trị của doanh nghiệp
mình, giá trị này bao gồm cả giá trị của tài sản hữu hình và giá trị của tài
sản vô hình. Những năm 70 của thế kỷ XX, tỉ lệ trung bình giữa giá trị thị
trường (dựa vào giá cổ phiếu trên thị trường) với giá trị sổ sách (dựa vào
thương của mình, chuyển “sản xuất tại TQ” (made in China) sang “sáng
chế tại TQ” (created in China)
II. Tình hình đầu tư vào tài sản hữu hình và tài sản vô hình ở Việt
Nam:
1. Đầu tư vào tài sản hữu hình:
Tài sản cố định hữu hình có vai trò vô cùng quan trọng đối với
nền kinh tế cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo cách nói của C.Mac: tài sản cố định hữu hình với tư cách là công cụ
sản xuất là hệ thống “xương cốt và bắp thịt của sản xuất”. Tài sản cố định
hữu hình là “lực lượng vật chất” quyết định trình độ phát triển của nền
sản xuất xã hội. tài sản cố định hữu hình với tư cách là kết cấu hạ tầng
của sản xuất như đường xá, bến cảng, sân bay, phương tiện giao thông
vận tải, điện, nước, thuỷ lợi, bưu điện, thông tin liên lạc… là điều kiện
cần thiết đối với quá trình sản xuất, quyết định thành bại của doanh
nghiệp.
1.1. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng:
Cơ sở hạ tầng là rất quan trọng trong sự phát triển của nền kinh
tế, không có cơ sở hạ tầng thì không thể có điểm tựa cho nền kinh tế
được. Cơ sở hạ tầng là điều kiện thiết yếu đầu tiên cho việc xây dựng một
doanh nghiệp và là điều kiện cần để doanh nghiệp có thể đi vào hoạt
động. Những năm gần đây, cùng với việc tăng trưởng nền kinh tế thì tốc
độ đô thị hóa xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật ở nước ta cũng
22
Lớp Kinh tế đầu tư 48B Nhóm 13
tăng một cách nhanh chóng, bộ mặt đất nước cũng có những biến chuyển
rõ rệt
Năm 2005 2006 2007
Vốn đầu tư CSHT 3275 4023 4272
GTVT 1162 2201 2541
Trạm nước 240 355 235
gì sau khi mất đất
Giá đất tại một số khu đô thị mới ở miền Đông Nam Bộ
Hệ thống điện nước và cảng biển cũng gây không ít khó khăn.
Điện năng hiện nay chưa đủ để đáp ứng nhu cầu trong các trung tâm công
nghiệp chủ chốt. Chi phí điện năng và viễn thông quá cao, thêm vào đó là
tình trạng thiếu điện nước vẫn xảy ra thường xuyên gây ảnh hưởng xấu
đến việc sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Năm nay có khá
nhiều công ty thuộc nhiều ngành nghề khác nhau của Nhật đầu tư sang
VN, đặc biệt trong đó có sự tham gia của nhiều nhà cung cấp cho các
công ty sản xuất lớn như ô tô, xe máy, máy móc thiết bị văn phòng... Đại
diện của Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản tại VN cho biết, thời gian tới,
sẽ có thêm nhiều nhà đầu tư từ xứ sở mặt trời mọc đến với VN. Trong
bình chọn của các công ty Nhật về địa điểm đầu tư có triển vọng về trung
hạn, VN đứng thứ 4 sau Trung Quốc, Ấn Độ và Thái Lan. Tuy nhiên,
hiện không ít nhà đầu tư Nhật rất lo lắng về sự yếu kém của cơ sở hạ tầng
của VN, đặc biệt là vấn đề điện năng
Đặc biệt hạ tầng kỹ thuật của các cảng biển tại Việt Nam cũng còn
nhiều vấn đề đáng lo ngại. Theo nhận xét của các đại diện những tập đoàn,
cảng biển tại Việt Nam đang có dấu hiệu tắc nghẽn, nhất là tại khu vực
TP.HCM. Việc huy động vốn vào đầu tư các cảng biển hiện còn chậm trễ,
cụ thể là một số dự án như cảng Cái Lân, Sao Mai, Vân Phong... Chính vì
vậy các cảng biển vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hóa
24
Lớp Kinh tế đầu tư 48B Nhóm 13
cho nhà đầu tư. Bên cạnh đó, trong quá trình phát triển hạ tầng kỹ thuật,
không nên quá coi trọng về số lượng mà cần quan tâm đến hiệu quả của
các dự án. Các hạng mục hạ tầng phải bảo đảm sự kết nối, đáp ứng được
yêu cầu vận chuyển cũng như tiến độ, thời gian...
Đầu tư CSHT nhiều khi bị phung phí hoặc là đối tượng của tham
nhũng. Ngay cả những dự án cấp thiết cũng thường bị chậm tiến độ so với
cách chậm chạp và việc thực hiện và mong muốn thực sự cho phép đầu tư
của tư nhân và nước ngoài vào cơ sở hạ tầng vẫn còn vắng bóng. Vì vậy
sự cần thiết phải huy động nguồn vốn mới bởi hiện nay nguồn tài chính
quốc tế tài trợ gần 40% đầu tư cơ sở hạ tầng tại Việt Nam. Khi Việt Nam
giàu mạnh, hỗ trợ từ nguồn này sẽ đóng vai trò thứ yếu
25