1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc làm và giải quyết việc làm là một vấn đề kinh tế - xã hội có tính
toàn cầu, là mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới. Ngày nay, quan
niệm về phát triển được hiểu đầy đủ là: Tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ,
công bằng xã hội; phải xoá đói, giảm nghèo, giảm thiểu thất nghiệp
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm
cho nhân dân lao động thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi người có công ăn
việc làm, được ấm no và được sống một đời hạnh phúc” [39, tr.17]. Tư tưởng
của Người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong các chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước ta về giải quyết việc làm cho người lao động
Ở nước ta hiện nay, nông thôn chiếm 74,37% dân số và 75,6% lực
lượng lao động (32,7 triệu trong 43 triệu lao động cả nước) và gần 90% số
người nghèo của cả nước vẫn đang sống ở nông thôn. Tỷ lệ thời gian nhàn rỗi
ở nông thôn chiếm 19,3%, thất nghiệp ở thành thị 5,1%. Văn kiện Đại hội Đại
biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhận định: "Tỷ trọng trong nông nghiệp
còn quá cao. Lao động thiếu việc làm và không có việc làm còn nhiều. Tỷ lệ
qua đào tạo rất thấp” [16, tr.166].
Thất nghiệp, thiếu việc làm đang và sẽ diễn biến rất phức tạp, cản trở
quá trình vận động và phát triển kinh tế đất nước. Vì vậy, tạo việc làm cho
người lao động là vấn đề nóng bỏng, cấp thiết cho từng ngành, địa phương và
từng gia đình. Tạo điều kiện cho người lao động có việc làm, một mặt, nhằm
phát huy tiềm năng lao động, nguồn lực to lớn ở nước ta cho sự phát triển
kinh tế - xã hội, mặt khác, là hướng cơ bản để xoá đói, giảm nghèo có hiệu
quả, là cơ sở để cải thiện và nâng cao đời sống cho nhân dân, góp phần quan
trọng giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tạo động lực mạnh
2
hoạch xây dựng nhà ở, khu vui chơi giải trí cho người lao động. Duy
trì và phát triển làng nghề truyền thống, xây dựng các trường dạy nghề.
Đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động, xây dựng cơ chế, chính sách về
đào tạo nguồn lao động, tích cực xuất khẩu lao động để giải quyết việc
làm và tăng thu nhập cho người lao động [17, tr.75].
Cũng xuất phát từ áp lực về lao động và việc làm ngày càng gia tăng,
đặc biệt là ở nông thôn Ninh Bình, vấn đề này đã được nhiều cơ quan, các nhà
khoa học quan tâm nghiên cứu.
Là một cán bộ công tác tại Hội Nông dân tỉnh Ninh Bình với nhiệm vụ
vận động hội viên, nông dân phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, xây dựng
nông thôn mới, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của hội viên, nông dân,
bản thân thấy đây là vấn đề cấp bách và trong chừng mực nhất định đã có quá
trình tích luỹ tài liệu. Xuất phát từ những lý do trên tác giả lựa chọn đề tài:
"Giải quyết việc làm ở nông thôn tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn hiện nay”
làm đề tài luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Giải quyết việc làm là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với
nhiều quốc gia. Do vậy, đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về lao
động, việc làm trong và ngoài nước. Tiêu biểu như:
- Thị trường lao động, thực trạng và giải pháp của PGS. Nguyễn
Quang Hiển, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1995
- Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam của PTS. Nguyễn Hữu
Dũng, PTS. Trần Hữu Trung, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997
- Thị trường lao động ở Việt Nam, định hướng và phát triển của Thạc
sĩ. Nguyễn Thị Lan Hương, Nxb Lao động - xã hội, Hà nội, 2002
Các tác giả cho vấn đề việc làm cho người lao động và thất nghiệp là
một trong những vấn đề toàn cầu, đề ra phương pháp tiếp cận tổng quát về
chính sách việc làm, hệ thống khái niệm về lao động, việc làm, đánh giá thực
4
phân tích, đánh giá vấn đề giải quyết việc làm ở nông thôn Ninh Bình dưới
dạng một luận văn khoa học kinh tế. Để thực hiện đề tài khoa học này, tác giả
có lựa chọn và kế thừa một số kết quả nghiên cứu đã công bố, kết hợp khảo
sát thực tiễn ở nông thôn Ninh Bình để phân tích, từ đó đưa ra các giải pháp
phù hợp với tình hình thực tế của địa phương trên cơ sở những đường lối,
quan điểm, chủ trương phát triển kinh tế xã hội của Đảng, Nhà nước và của
tỉnh Ninh bình đề ra trong những năm tới.
3. Mục đích, nhiệm vụ, nghiên cứu của luận văn
* Mục đích nghiên cứu của luận văn:
Trên cơ sở nhận thức lý luận, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về
giải quyết việc làm và đánh giá thực trạng việc làm và giải quyết việc làm ở
nông thôn Ninh Bình, luận văn đề xuất một số giải pháp giải quyết việc làm
lao động ở nông thôn tỉnh Ninh Bình
* Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:
- Khái quát những vấn đề cơ bản lý luận về việc làm và các nhân tố
ảnh hưởng đến vấn đề giải quyết việc làm ở nước ta hiện nay làm cơ sở cho
việc phân tích tình hình giải quyết việc làm ở nông thôn Ninh Bình.
- Đánh giá đúng thực trạng giải quyết việc làm ở nông thôn Ninh Bình,
tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng.
- Trình bày căn cứ và nội dung những giải pháp chủ yếu nhằm giải
quyết việc làm cho lao động ở nông thôn Ninh Bình.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu chủ yếu giải quyết việc làm cho các hộ nông
dân ở nông thôn tỉnh Ninh Bình.
- Luận văn nghiên cứu vấn đề lao động, việc làm trên địa bàn nông thôn
tỉnh Ninh Bình thời gian từ năm 2000-2005 và đưa ra giải pháp chủ yếu cho
giai đoạn 2006 - 2010.
6
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương, 8 tiết.
8
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở NÔNG THÔN
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở NÔNG THÔN
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan trực tiếp đến giải quyết
việc làm
* Dân số:
Dân số là cơ sở để hình thành lực lượng lao động. Dân số biến động có
tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quy mô, cơ cấu cũng như sự phân bố
theo không gian của dân số trong độ tuổi lao động.
Theo nghĩa rộng: Dân số là tập hợp những người cư trú thường xuyên
và sống trên một lãnh thổ nhất định (một quốc gia, một vùng lãnh thổ kinh tế,
một đơn vị hành chính).
Theo nghĩa hẹp: Dân số là một tập hợp người hạn định trong phạm vi nào
đó (về lãnh thổ và xã hội có tính chất gắn liền với sự tái sản xuất liên tục của nó).
Nhân khẩu thường trú: Là những người thường xuyên cư trú ở một địa
điểm nhất định, nó phản ánh quy mô dân số của địa phương.
Nhân khẩu tạm trú: Là những người ở thường xuyên tại một nơi khác
nhưng có mặt tại điểm dân cư đăng ký dân số.
Nhân khẩu có mặt: Là người đang ở tại một điểm dân cư không kể là
nhân khẩu thường trú hay tạm trú.
Nhân khẩu thành thị: Những người cư trú thường xuyên ở các điểm đã
quy định là thành thị gọi là nhân khẩu thành thị.
Nhân khẩu nông thôn: Những người cư trú thường xuyên ở ngoài các
địa điểm được quy định là thành thị.
về khả năng lao động có thể sử dụng.
Nhà kinh tế học Da Vid Begg cho rằng: Lực lượng lao động có đăng ký
10
bao gồm số người có công ăn việc làm cộng với số người thất nghiệp có đăng
ký.
Theo tổ chức lao động của (ILO): Lực lượng lao động là một bộ phận
dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những người
không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm.
Sơ đồ 1.1: Cơ cấu lực lƣợng lao động
E
N U N
E: Người có việc làm
Ư: Người thất nghiệp
N: Người không tham gia hoạt động kinh tế
Theo thuật ngữ về lĩnh vực lao động của Bộ Lao động Thương binh và Xã
hội thì lực lượng lao động là những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và
những người thất nghiệp. Lực lượng lao động đồng nghĩa với dân số hoạt động
kinh tế; lực lượng lao động là bộ phận hoạt động của nguồn lao động [6, tr.11].
động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cung cấp
những vật liệu cho lao động đem biến thành của cải. Nhưng lao
động còn là một cái gì vô cùng lớn lao hơn thế nữa, lao động là điều
kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến
một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao động
đã sáng tạo ra bản thân loài người [38, tr.641].
Như vậy, có thể nói lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của
con người, trong quá trình lao động con người vận dụng sức lực tiềm tàng
trong thân thể của mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào đối tượng
lao động nhằm biến đổi nó phù hợp với nhu cầu của mình. Nói cách khác,
trong bất kỳ nền sản xuất xã hội nào, lao động bao giờ cũng là điều kiện để
tồn tại và phát triển của xã hội.
- Nguồn lao động và lực lượng lao động:
Nguồn lao động và lực lượng lao động là những khái niệm có ý nghĩa
12
quan trọng làm cơ sở cho việc tính toán cân đối lao động, việc làm trong xã hội.
Theo giáo trình Kinh tế phát triển của trường Đại học Kinh tế quốc dân
(2005) đưa ra khái niệm “Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao
động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham
gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động)
đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân” [5, tr.167].
Việc quy định độ tuổi lao động tuỳ mỗi nước có quy định khác nhau,
thậm chí khác nhau ở các giai đoạn của mỗi nước. Điều đó tuỳ thuộc vào trình
độ phát triển kinh tế. Ở nước ta, theo quy định của Bộ Luật lao động (2002)
độ tuổi lao động đối với nam từ 15-60 tuổi và nữ là từ 15-55 tuổi. Nguồn lao
động luôn được xem xét trên hai mặt, biểu hiện đó là số lượng và chất lượng.
Số lượng lao động: Là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả
năng lao động gồm: Dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và dân số trong độ tuổi
lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm
do và một bên là người có nhu cầu sử dụng lao động. Sự trao đổi
này được thoả thuận trên cơ sở các mối quan hệ lao động như tiền
công, tiền lương, điều kiện việc làm, bảo hiểm xã hội thông qua
một hợp đồng lao động bằng văn bản hoặc bằng miệng [53, tr.5].
Giáo trình của Khoa kinh tế lao động, Trường Đại học Kinh tế quốc
dân Hà Nội cũng đưa ra một số khái niệm về thị trường lao động như sau:
Là một không gian trao đổi tiến tới thoả thuận giữa người sở hữu sức
lao động và người cần có sức lao động để sử dụng.
Là mối quan hệ xã hội giữa người lao động có thể tìm được việc làm để
có thu nhập và người sử dụng lao động để thuê được công nhân bằng cách trả
công để tiến hành sản xuất kinh doanh.
Là toàn bộ những quan hệ kinh tế hình thành trong lĩnh vực thuê mướn
lao động [5].
Theo Tiến sĩ Nguyễn Quang Hiển (1995), trong tác phẩm Thị trường
lao động thực trạng và giải pháp, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội: "Thị
trường lao động là toàn bộ những quan hệ kinh tế hình thành trong lĩnh vực
14
thuê mướn lao động. Đối tượng tham gia thị trường lao động bao gồm những
người làm thuê và đang sử dụng sức lao động của mình để được nhận một
khoảng tiền công” [34, tr.9].
Theo ILO: Thị Trường lao động là thị trường trong đó các dịch vụ lao
động được mua và bán thông qua một quá trình để xác định mức độ có việc
làm của lao động cũng như mức độ tiền lương và tiền công.
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu đều
thống nhất với nhau về nội dung cơ bản để hình thành nên thị trường lao động
đó là: Không gian, người cần bán sức lao động, người cần mua sức lao động,
giá cả sức lao động và những ràng buộc giữa các bên về nội dung này, và
cũng từ những quan điểm đó, thị trường lao động được hiểu là: Biểu hiện
quan hệ lao động diễn ra giữa một bên là người lao động và một bên là người
làm có được, sau khi đã tính đến các yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm trong
tương lai như vốn, đất đai, tư liệu sản xuất, công nghệ, chính trị, xã hội” [53, tr.8].
Cầu tiềm năng = cầu thực tế + số chỗ làm việc sẽ được tạo ra trong tương lai.
+ Quan hệ cung, cầu lao động:
Thể hiện trên 3 trạng thái: Trạng thái cân bằng cung - cầu lao động,
trạng thái rối loạn cân bằng cung cầu lao động và trạng thái cân bằng mới.
Trong thị trường sức lao động quy luật cầu - cung thể hiện khá rõ. Nếu mức
tiền công quá cao (xem sơ đồ 1.2) U
1
P
1
thì có hiện tượng cung lao động lớn
hơn về cầu lao động. Nghĩa là số người muốn đi làm việc sẽ lớn hơn số người
tìm được việc làm ở mức tiền công này.
Đoạn D
1
S
1
là số người bị thất nghiệp trên thị trường lao động. Ngược
lại, khi mức tiền công thấp U
2
P
2
thì khả năng thu hút lao động sẽ lớn hơn và
xuất hiện cầu về lao động lớn hơn cung, đoạn S
2
D
2
là sự thiếu hụt về lao
động. Như vậy, theo quy luật của thị trường lao động thì giá cả tiền công luôn
P
2
Trong đó: OL: là số chỗ làm việc OUP: Tiền công
S
L
: Cung lao động D
L
: Cầu lao động
Cầu, cung lao động là hai vế của thị trường lao động, sử dụng nguồn
lao động có hiệu quả, hoặc tận dụng nguồn lao động chỉ có thể đạt được khi
cân bằng cung - cầu lao động được duy trì ở một mức độ nhất định. Mỗi vế
cầu cung lao động luôn luôn biến đổi theo những nguyên nhân riêng của
chúng và do tác động tương hỗ giữa chúng.
Trong các biện pháp tác động tới tương quan cầu - cung lao động thì
tiền công có tác động mạnh và trực tiếp nhất.
Sơ đồ 1.2 dưới đây thể hiện các thành phần chủ yếu của tương quan cầu
- cung lao động và các nhân tố tác động tới tương quan cầu - cung lao động.
Sơ đồ 1.3: Tƣơng quan cầu cung lao động và các nhân tố tác động
Đặc điểm nhân khẩu học
của nguồn lao động (dân
số, cơ cấu giới, tuổi, tỡnh
- Năng suất lao động:
Năng suất lao động là “Sức sản xuất của lao động cụ thể có ích” [37, tr.104].
Nói lên kết quả hoạt động của con người trong một đơn vị thời gian nhất định.
Năng suất lao động được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong
một đơn vị thời gian; hoặc bằng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị
sản phẩm [38, tr.22].
Từ định nghĩa năng xuất lao động của C.Mác, mức năng suất lao động
được xác định bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một thời gian lao động.
Công thức tính:
T
Q
W
Trong đó:
W: Là số lượng sẩn phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian
hay là năng xuất lao động.
Q: Là khối lượng sản phẩm sản xuất ra trong một thời gian nhất định.
T: Là tổng thời gian hao phí để sản xuất ra Q sản phẩm
W thường được biểu diễn dưới dạng chỉ tiêu kép: Hiện vật, thời gian
hay giá trị thời gian.
Tương quan cầu – cung lao động
Sự phát triển kinh tế kéo theo sự phân công sử dụng
nguồn lao động
Theo
ngành
kinh tế
Theo
vựng
lónh thổ
Theo
dưới nhiều góc độ khác nhau như kinh tế, xã hội học, lịch sử Khi nghiên
cứu dưới góc độ lịch sử thì việc làm liên quan đến phương thức lao động kiếm
sống của con người và xã hội loài người. Các nhà kinh tế coi sức lao động
thông qua quá trình thực hiện việc làm của người lao động là yếu tố quan
trọng của đầu vào sản xuất và xem xét vấn đề thu nhập của người lao động từ
việc làm.
Ở Việt Nam trước đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu
bao cấp, người lao động được coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận,
trân trọng là người làm việc trong thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc
doanh, tập thể). Theo cơ chế đó, xã hội không thừa nhận việc làm ở các thành
phần kinh tế khác và cũng không thừa nhận thiếu việc làm, thất nghiệp
Ngày nay các quan niệm về việc làm đã được hiểu rộng hơn, đúng đắn
và khoa học hơn, đó là các hoạt động của con người nhằm tạo ra thu nhập, mà
19
không bị pháp luật cấm. Điều 13, chương II Bộ Luật lao động Nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn
thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [44, tr.42].
Theo quan niệm trên, việc làm là các hoạt động lao động được hiểu như sau:
Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương hoặc hiện vật cho
công việc đó.
Làm những công việc tự làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo thu
nhập cho gia đình, cho cộng đồng, kể cả những công việc không được trả
công bằng hiện vật.
Như vậy, một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn hai
điều kiện:
Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động
và các thành viên trong gia đình.
Hai là, người lao động được tự do hành nghề, hoạt động đó không bị
pháp luật cấm. Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm.
gặp gỡ và tiến hành trao đổi thì khi đó việc làm được hình thành. Giải quyết
việc làm cần phải được xem xét cả phía người lao động, người sử dụng lao
động và vai trò của nhà nước.
Vì vậy “giải quyết việc làm là tổng thể các biện pháp, chính sách kinh
tế, xã hội từ vi mô đến vĩ mô tác động đến người lao động có thể có việc làm”
[33, tr.18].
*Thiếu việc làm:
Theo ILO người thiếu việc làm là người trong tuần lễ tham khảo có số
giờ làm việc dưới mức quy định chuẩn cho người có đủ việc làm và có nhu
cầu thêm việc làm.
Theo một số chuyên gia về chính sách lao động việc làm thì cho rằng:
Người thiếu việc làm là những người đang làm việc có mức thu nhập dưới
mức lương tối thiểu và họ có nhu cầu làm thêm. TS. Trần Thị Thu đưa ra khái
21
niệm “Thiếu việc làm còn được gọi là bán thất nghiệp hoặc thất nghiệp trá hình
là hiện tượng người lao động có việc làm ít hơn mức mà mình mong muốn” [54,
tr.17].
Từ khái niệm người thiếu việc làm trên có thể hiểu như sau: Người
thiếu việc làm là người lao động đang có việc làm nhưng họ làm việc không
hết thời gian theo pháp luật quy định hoặc làm những công việc mà tiền lương
thấp không đáp ứng đủ nhu cầu của cuộc sống, họ muốn tìm thêm việc làm để
bổ xung thu nhập.
ILO cũng khuyến nghị các nước dùng khái niệm người thiếu việc
làm hữu hình (dạng nhìn thấy được) và dạng người thiếu việc làm vô hình
(khó xác định).
Thiếu việc làm hữu hình: Là khái niệm để chỉ hiện tượng người lao
động làm việc có thời gian ít hơn thường lệ, họ không đủ việc làm đang tìm
kiếm thêm việc làm và sẵn sàng để làm việc.
Tình trạng việc làm hữu hình được biểu thị bởi hàm số sử dụng thời
trong độ tuổi lao động có khả năng lao động muốn làm việc và đã đăng ký ở
cơ quan mô giới về lao động nhưng chưa được giải quyết.
Như vậy, những người thất nghiệp tất yếu họ phải thuộc lực lượng lao động
hay dân số hoạt động kinh tế. Một người thất nghiệp phải có 3 tiêu chuẩn:
+ Đang mong muốn và tìm việc làm
+ Có khả năng làm việc
+ Hiện đang chưa có việc làm
Với cách hiểu như trên, không phải bất kỳ ai có sức lao động nhưng
chưa làm việc đều được coi là thất nghiệp. Do đó một tiêu thức quan trọng để
xem xét một người được coi là thất nghiệp thì phải biết được người đó có
muốn đi làm hay không. Bởi lẽ, trên thực tế nhiều người có sức khoẻ, có nghề
nghiệp song không có nhu cầu làm việc, họ sống chủ yếu dựa vào “nguồn dự
trữ” như kế thừa của bố mẹ, nguồn tài trợ.
* Phân loại thất nghiệp.
- Xét về nguồn gốc thất nghiệp có thể chia thành:
23
Thất nghiệp tự nhiên: Là loại thất nghiệp khi có một tỷ lệ nhất định số
lao động ở trong tình trạng không có việc làm
Thất nghiệp tạm thời: Là loại thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển
không ngừng của ngành lao động giữa các vùng, giữa các loại công việc hoặc
giữa các giai đoạn khác nhau của cuộc sống.
Thất nghiệp cơ cấu: Là loại thất nghiệp xảy ra khi có sự mất cân đối
giữa cầu - cung lao động trong một ngành hoặc một vùng nào đó.
Thất nghiệp chu kỳ: Là loại thất nghiệp xảy ra do giảm sút giá trị
tổng sản lượng của nền kinh tế. Trong giai đoạn suy thoái của chu kỳ kinh
doanh, tổng giá trị sản xuất giảm dần, hầu hết các nhà sản xuất giảm sản
lượng cầu đối với các đầu vào, trong đó có lao động. Đối với loại thất
nghiệp này, những chính sách nhằm khuyến khích tăng cầu thường mang
lại kết quả tích cực.
Lý luận và thực tiễn đã khẳng định: Bất kỳ một quá trình sản xuất nào
cũng đều là sự kết hợp của ba yếu tố cơ bản đó là sức lao động, tư liệu lao
động và đối tượng lao động. Đó là những yếu tố vật chất cho quá trình lao
động diễn ra. Thực vậy, tư liệu sản xuất tự nó không thể tạo ra các sản phẩm
phục vụ cho nhu cầu cần thiết của con người và xã hội, nếu như không có sự
kết hợp của sức lao động.
C.Mác và Ph.Ăngghen khi nghiên cứu vai trò của sản xuất xã hội và
các yếu tố cơ bản của quá trình lao động sản xuất đã cho rằng: Sản xuất ra của
cải vật chất là cơ sở của đời sống xã hội loài người và là hoạt động cơ bản
nhất trong tất cả các hoạt động của con người.
Ngày nay, con người với trình độ khoa học - công nghệ cao là một
thành tố quan trọng của lực lượng sản xuất cũng như trong công cuộc xây
dựng đổi mới đất nước. Các chính sách của Đảng và Nhà nước ta là chăm sóc,
bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người với tư cách vừa là động lực, vừa là
mục tiêu chung của cách mạng. Đảng ta coi việc phát huy nhân tố con người
như là một nguồn lực quan trọng nhất của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước. Đây chính là nguồn tài nguyên vô giá, nguồn nội lực dồi
25
dào cần được chăm sóc để phát triển. Đầu tư vào con người và phát huy
nguồn lực con người là yếu tố cơ bản để phát triển nhanh và bền vững.
- Việc làm đối với người lao động là nhu cầu để tồn tại và phát triển, là
yếu tố khách quan của người lao động. Con người tồn tại phải được tiêu dùng
một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định như: Thức ăn, đồ mặc, nhà ở, học tập,
phương tiện đi lại Để có những thứ đó con người phải sản xuất và tái sản
xuất với quy mô ngày càng mở rộng. Như vậy, để tồn tại và phát triển con
người bằng sức lao động của mình, là yếu tố của quá trình sản xuất, là lực
lượng sản xuất cơ bản nhất tạo ra giá trị hàng hoá dịch vụ.
Sự phát triển kinh tế - xã hội, suy cho cùng, là nhằm mục tiêu phục vụ
con người làm cho cuộc sống mỗi người ngày càng tốt đẹp hơn, xã hội ngày