TIỂU LUẬN: Phép biện chứng về mối liên hệ phố biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế doc - Pdf 11


TIỂU LUẬN:

Phép biện chứng về mối liên hệ phố
biến và vận dụng phân tích mối liên hệ
giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự
chủ với hội nhập kinh tế quốc tế

Lời nói đầu

Hiện nay hội nhập kinh tế quốc tế là vấn đề bức xúc của thời đại, mọi quốc
gia dù lớn hay nhỏ, dù giàu hay nghèo, dù muốn hay không cũng đều bị cuốn hút
hoặc chủ động tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Nhận biết được xu thế đó của thời đại Đảng và Nhà nước ta đã đề ra
phương hướng chủ động tham gia hội nhập vào kinh tế quốc tế và đang chuẩn bị
gia nhập vào tổ chức thương mại WTO. Tuy nhiên bên cạnh đó Đảng và Nhà

nước tăng cường hiểu biết lẫn nhau và hợp tác thông qua đối thoại đồng thời cải
thiện quan hệ chính trị giữa các quốc gia, thúc đẩy các nước trên thế giới cùng
nhau phát triển và mục đích cao hơn nữa đó là đem lại cuộc sống đầy đủ, đoàn
kết hoà bình cho tất cả nhân loại.
Chính vì những lợi ích to lớn đó mà hội nhập kinh tế quốc tế đang trở
thành vấn đề cấp bách đối với mỗi quốc gia trên thế giới. Với sự mở màn của liên
minh Châu Âu (EU) thông qua một thị trường chung một đồng tiền chung và việc
kết nạp thêm các nước thành viên mới. ở Đông Nam á, tiến trình này cũng đang
diễn ra rất sôi động và đã thu hút được những kết quả khả quan. Mà đỉnh cao của
quá trình hội nhạp kinh tế được thể hiện ở sự ra đời của tổ chức thương mại thế
giới WTO, đây là tổ chức thương mại lớn nhất thế giới được thành lập ngày
1.1.1985, ban đầu có 130 nước thành viên, đến nay tổng số thành viên WTO đã
lên 148 trong đó có 2/3 là các nước đang và kém phát triển.Ngoài các thành viên
chính thức, hiện nay còn 25 nước đang trong quá trình hội nhập trong đó có Việt
Nam. Thông qua tổ chức WTO các nước có thể tự do trao đổi mua bán trên cơ sở
cả hai bên cùng có lợi đồng thời giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển, tiếp thu được
những thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới.
Tuy nhiên vấn đề bức xúc đặt ra hiện nay đối với mỗi quốc gia trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế đó là xây dựng nền kinh tế được lập tự chủ. Bởi vì
hội nhập kinh tế quốc tế vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác
vừa có đấu tranh, vừa tạo ra những cơ hội cho sự phát triển nhưng cũng vừa có
những thách thức đối với các quốc gia nhất là đối với quốc gia đang ở giai đoạn
phát triển như nước ta. Do xu thế hội nhập kinh tế quốc tế dẫn đến sự tuỳ thuộc
lẫn nhau về kinh tế ngày càng gia tăng nên các nước trên thế giới đều rất coi
trọng đến khả năng độc lập tự chủ về kinh tế nhằm đảm bảo lợi ích chính đáng
của quốc gia, dân tộc mình trong cuộc cạnh tranh kinh tế gay gắt và để xác lập
một vị thế chính trị nhất định trên trường quốc tế.

tiếp; có mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới, có mối liên hệ bao quát một
số lĩnh vực hoặc một lĩnh vực riêng biệt của thế giới đó, có mối liên hệ bản chất
và không bản chất, có mối liên hệ tất yếu và ngẫu nhiên…. các loại liên hệ khác
nhau có vai trò khác nhau đối với sự vận động và phát triển của sự vật về mối liên
hệ cũng đòi hỏi phải thừa nhận tính tương đối trong sự phân loại của các mối liên
hệ.
1.2. ý nghĩa của nguyên lý
Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, đòi hỏi trong quá
trình nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn chúng ta cần thực hiện nguyên tắc
toàn diện và lịch sử cụ thể.
Theo nguyên tắc về quan điểm toàn diện thì trong nhận thức và hoạt động
thực tiễn con người cần xem xét sự vật trong tính toàn vẹn của nhiều mối liên hệ
nhiều mặt, nhiều yếu tố vốn có của nó kể cả các quá trình, các giai đoạn phát triển
của sự vật, cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai, có như vậy mới nắm bắt được
thực chất của sự vật khi tuân thủ nguyên tắc con người sẽ tránh được sai lầm cực
đoan, phiến diện một chiều, không đồng nhất và san bằng các mối liên hệ, các
mặt của sự vật phải phản ánh đúng vai trò của từng mối liên hệ phải rút ra được
mối liên hệ bản chất chủ yếu của sự vật. Khi tuân thủ nguyên tắc này con người
sẽ tránh được mối quan hệ thứ yếu và chiết trung.
Theo quan điểm lịch sử cụ thể thì khi nghiên cứu xem xét sự vật phải đặt
nó trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể trong không gian và thời gian xác định mà nó
đang tồn tại phát triển, đồng thời phải phân tích vạch ra ảnh hưởng của điều kiện
hoàn cảnh đối với sự tồn tại của sự vật, với tính chất của sự vật và với xu hướng
vận động phát triển của nó. Khi vận dụng một lý luận nào đó vào trong thực tiễn
cần tính đến điều kiện cụ thể của nơi vận dụng, tránh bệnh giáo điều dập khuân
máy móc.
2. Vận dụng nguyên lý mối liên hệ phổ biến để phân tích mối quan hệ giữa

nhất thế giới hiện nay, là trung tâm khoa học kỹ thuật của thế giới nhưng để có sự
phát triển như vậy là do Mỹ có chính sách đúng đắn mở cửa hội nhập kinh tế và
thu hút nhân tài khắp thế giới cũng như mua được những nguyên vật liệu với giá
rẻ và có thị trường rộng lớn trên toàn thế giới. Đó là những quốc gia có nền kinh
tế phát triển bậc nhất thế giới phát triển được nền kinh tế như ngày nay là do sự
phối hợp kinh tế quốc tế. Còn các quốc gia đang phát triển và chậm phát triển thì
sao? Ta có thể khẳng định rằng dù quốc gia giàu hay nghèo cũng phải tham gia
vào hội nhập kinh tế quốc tế. Sở dĩ như vậy bởi vì các quốc gia nghèo có nền
kinh tế kém phát triển là do trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu, trình độ hiểu biết
thấp. Nên các nước này càng cần tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế để tiếp
thu thêm được những thành tựu khoa học kỹ thuật của các nước phát triển, các
nước đi trước, đồng thời trao đổi mua bán với các nước phát triển như xuất khảu
nhân công dư thừa, xuất khẩu nguyên nhân vật liệu và mua các thiết bị kỹ thuật
máy móc hiện đại nhằm nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật trong nước, phát
triển công nghiệp góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Cần phải khẳng định rằng trước xu thế toàn cầu hoá không một quốc gia
nào có thể đứng tách ra khỏi cộng đồng quốc tế. Sự xã hội hoá mạnh mẽ của lực
lượng sản xuất, sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện
đại đã làm nảy sinh yêu cầu hợp tác đa dạng nhiều chiều, ổn định và bền vững
trên phạm vi toàn cầu. Mỗi nước trở thành một bộ phận hữu của thế giới, nền
kinh tế của mỗi dân tộc được đặt trong sự phụ thuộc vào mối quan hệ qua lại với
nền kinh tế khu vực và thế giới.
Hội nhập kinh tế quốc tế chúng ta có cơ hội tích luỹ được những tiền đề,
những điều kiện cho một trình độ phát triển mới. Trước hết chúng ta có cơ hội
thu hút vốn, khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý kinh tế
từ bên ngoài và mở rộng thị trường để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển. Với một nền kinh tế yếu

Thương mại số ra tháng 3/2004).
2.4. Khái niệm về nền kinh tế độc lập tự chủ
Một nền kinh tế độc lập tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hoá có thể được
hiểu là nền kinh tế có khả năng thích ứng cao với những biến động của tình hình
quốc tế và trong bất cứ tình huống nào nó cũng có thể cho phép duy trì các hành
động bình thường của xã hội và phục vụ đắc lực cho các mục tiêu phát triển kinh
tế xã hội của đất nước. Đó là nền kinh tế phải có cơ cấu kinh tế hợp lý, hiệu quả
và đảm bảo độ an toàn cần thiết, có tốc độ phát triển bền vững và năng lực cạnh
tranh cao, cơ cấu xuất nhập khẩu cơ bản cân đối, cơ cấu mặt hàng đa dạng, phong
phú với tỷ lệ các mặt hàng công nghệ và có giá trị gia tăng lớn chiếm ưu thế, cơ
cấu thị trường quốc tế; đối tác cũng đa dạng và tránh chỉ tập trung quá nhiều vào
một vài mục tiêu; đảm bảo nền tài chính lành mạnh, đặc biệt giữ cân bằng cần
thiết trong cán cân thanh toán và có nguồn dự trữ quốc gia mạnh.
(Nguồn: báo đầu tư chứng khoán).
Như vậy nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế không bị lệ thuộc, phụ
thuộc vào các nước khác, người khác hoặc một tổ chức kinh tế nào đó về đường
lối, chính sách phát triển, không bị bất cứ ai dùng những điều kiện kinh tế, tài
chính, thương mại, viện trợ để áp đặt khống chế, làm tổn hại chủ quyền quốc gia
và lợi ích cơ bản của dân tộc.
Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế trước những biến động của thị
trường, trước sự khủng hoảng của nền kinh tế tài chính bên ngoài, nó vẫn có khả
năng cơ bản duy trì sự ổn định và phát triển trước sự bao vây, cô lập và chống
phá của các thế lực thù địch, nên vẫn có khả năng đứng vững không bị sụp đổ,
không bị rối loạn.
(Tài liệu nghiên cứu văn kiện đại hội IX của Đảng, NXB CTQG, Hà Nội
2001, tr 109).
Trong thời đại ngày nay, độc lập tự chủ về kinh tế không còn được hiểu đó
là một nền kinh tế khép kín, tự cung tự cấp, mà được đặt trong mối quan hệ biện
thành con nợ lưu cữu”.
(Tài liệu nghiên cứu văn kiện đại hội IX của Đảng, nxb: CTQG Hà Nội
2001 tr25).
Qua những số liệu tổng kết ở trên chúng ta thấy rằng nếu một quốc gia
không tự mình xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ mà chỉ phụ thuộc vào các phe
phái mạnh hơn hoặc phụ thuộc vào một nước lớn hơn sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm
trọng làm cho nền kinh tế của quốc gia đó luôn chịu sự ảnh hưởng đối với từng
biến động của nền kinh tế quốc gia khác và sẽ không tự mình đứng dậy được khi
có sự biến kinh tế xảy ra. Như vậy nền kinh tế của quốc gia đó sẽ luôn lạc hậu và
chậm tiến. Đó chính là lý do vì sao trong quá trình hội nhập kinh tế phải gắn liền
với xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ.
Như vậy xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế
có mối quan hệ biện chứng với nhau, hỗ trợ và tác động lẫn nhau cùng đi đến
mục đích cuối cùng là tạo ra sự phát triển nền kinh tế của quốc gia đó. Đồng thời
giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế còn là mối
quan hệ bên trong và bên ngoài. Mối quan hệ bên trong là xây dựng nền kinh tế
độc lập tự chủ và mối quan hệ bên ngoài là hội nhập kinh tế quốc tế. Và cả hai
mối quan hệ này đều tác động trực tiếp đến sự phát triển đất nước trong đó xây
dựng nền kinh tế độc lập tự chủ là yếu tố quyết định đến vận mệnh của đất nước
còn hội nhập kinh tế quốc tế là nhân tố thúc đẩy, tạo điều kiện cho nền kinh tế
phát triển mạnh mẽ. Bởi chỉ có xây dựng được một nền kinh tế độc lập tự chủ
chúng ta mới có đầy đủ tư cách và thực lực để chủ động hội nhập đúng hướng và
hiệu quả kinh tế quốc tế và ngược lại, chỉ có chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
chúng ta mới nhanh chóng bổ xung sức mạnh nội lực còn khiếm khuyết, thiếu
hụt, rút ngắn con đường phát triển nhằm không ngừng tự hoàn thiện mình để giữ
vững hơn nữa độc lập tự chủ. Hơn nữa, muốn chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
một cách đúng đắn và mạnh mẽ không thể không bắt đầu từ nền tảng sức mạnh

chơi do họ đặt ra. Mỹ, châu Âu, Nhật Bản đã thành công trong việc buộc các
nước khác gỡ bỏ những rào cản để hàng công nghiệp và dịch vụ của mình tràn
vào các nước này. Ngược lại họ cũng lại thành công trong việc duy trì mức thuế
cao đánh vào hàng nông sản nhập khẩu đơn giản là vì luật chơi trong tay kẻ mạnh
Nói như vậy, không có nghĩa là sân chơi không “đẹp” thì không chơi mà
việc tham dự một cách tích cực vào sân chơi này là chuyện tất yếu và không thể
phủ nhận, vì bên cạnh những mặt chưa được vẫn còn rất nhiều mặt được và vấn
đề là tận dụng các cơ hội này như thế nào? Về thực chất hội nhập kinh tế quốc tế
là sự kết hợp nội lực với ngoại lực, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh
của thời đại nhằm bảo vệ lợi ích của dân tộc, phát triển kinh tế đất nước.
3. Sự vận dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến một cách sáng tạo của
đảng và Nhà nước ta việc kết hợp quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập tự
chủ với hội nhập kinh tế quốc tế.
3.1 Những thách thức đối với nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đang là vấn đề
nổi bật của kinh tế thế giới , tạo ra sức ép buộc chúng ta phải chấp nhận “cuộc
chơi” nếu không cố gắng đi cùng nhịp với các nước trong khu vực thì Việt Nam
có nguy cơ bị tụt hậu và chịu thua thiệt của người đi sau Hội nhập kinh tế hiện
luon có hai mặt, trước hết hội nhập kinh tế khiến các nước phải mở cửa thị trường
về thương mại hàng hoá, làm giảm những khác biệt thông qua việc tiến tới bãi bỏ
hàng rào và biện pháp phi thuế quan mở cửa thị trường dịch vụ và đầu tư.
Với việc tham gia vào quá trình này chúng ta sẽ có cơ hội mở rộng thị
trường xuất nhập khẩu, thu hút được một nguồn đầu tư trực tiếp của nước ngoài,
nhất là tranh thủ được nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) ngày càng lớn,
đồng thời giảm đáng kể nợ nước ngoài. tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến, kỹ
năng quản lý, đào tạo được một đội ngũ cán bộ năng lực để tham gia hội nhập.
Nhưng quan trọng hơn cả là thực hiện được chủ trương chuyển toàn bộ nền kinh

đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế một cách tích cực theo định hướng tăng dần
tỷ trọng giá trị công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng giá trị nông nghiệp
trong cơ cấu thu nhập quốc dân. Cơ cấu vùng kinh tế cũng bắt đầu thay đổi theo
hướng hình thành các vùng trong điểm , các khu xuất nhập khẩu tập trung , các
khu chế xuất, chuyển toàn bộ nền kinh tế sang môi trường cạnh tranh lấy mục
đích và hiệu quả kinh tế xã hội làm cơ sở, thay đổi thói quen trông chờ vào sự
bảo hộ của Nhà nước của các doanh nghiệp.
Mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu, thúc đẩy sản xuất trong nước
phát triển tạo thêm việc làm , tăng thu ngân sách. Năm 1990 kim ngạch xuất khẩu
mới đạt 2,404 tỷ USD và nhập khẩu 2,752 tỷ USD thì năm 2001 kim ngạch xuất
khẩu đã đạt 15 tỷ USD (nếu tính cả dịch vụ thì đạt 17,6 tỷ USD), tăng mỗi năm
trung bình trên 20%, có năm tăng 30% (gấp 7 lần năm 1990). Năm 2003 xuất
khẩu đạt 20,176 tỷ USD. Xuất khẩu bình quân đầu người đạt 200 USD, đây là
mức được thế giới công nhận là quốc gia có nền xuất khẩu bình thường. Bên cạnh
đó nước ta còn thu hút được một nguồn lớn đầu tư trực tiếp của nước ngoài
(FDI). Đến nay ta đã thu hút được trên 41,538 tỷ USD vốn đầu tư từ 64 quốc gia
và vùng lãnh thổ với trên 4.370 dự án trong đó đã thực hiện trên 24,654 tỷ USD.
Nguồn đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta, chiếm
gần 30% vốn đầu tư xã hội, 35% giá trị sản xuất công nghiệp, 20% xuất khẩu,
giải quyết việc làm cho khoảng 40 vạn lao động và hàng chục vạn lao động gián
tiếp . Tranh thủ được kỹ thuật tiên tiến và khoa học quản lý mới. Tranh thủ được
nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) ngày càng lớn, đồng thời giảm đáng
kể nợ nước ngoài. Các nhà tài trợ đã cam kết giành cho nước ta 20 tỷ USD , chủ
yếu là cho vay ưu đãi và một phần là viện trợ không hoàn lại.
Tuy nhiên bên cạnh đó nước ta còn tồn tại không ít khó khăn hạn chế đó là
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhìn chung còn yếu, chính sách vĩ mô
chưa tạo được động lực khuyến khích doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh

Đây là bước mở đầu cho quốc tế hội nhập, quyết định sáng suốt có tính
bước ngoặt về chính sách đối ngoại trong thời kỳ đổi mới
Để phát triển kinh tế , đảng ta chỉ rõ phải tận dụng tối đa ngoại lực, trên cơ
sở dựa vào sức mình là chính. Giữ vững độc lập tự chủ, đi đôi với mở rộng hợp
tác quốc tế, đa dạng hoá , đa phương hoá quan hệ đối ngoại. Dựa vào sức mình là
chính , đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài xây dựng một nền kinh tế
mở, hội nhập khu vực và thế giới hướng mạnh vào xuất khẩu (Văn kiện đại hội
đại biểu VIII, nxb Quốc gia Hà Nội , 1996 tr84-85)
Cũng trong văn kiện đại hội VIII, đảng ta nêu rõ “Điều chỉnh cơ cấu thị
trường để vừa hội nhập khu vực, vừa hội nhập toàn cầu, xử lý đúng đắn lợi ích
giữa ta và đối tác, chủ động tham gia cộng đồng thương mại thế giới, các diễn
đàn , các tổ chức , các định chế quốc tế, một cách chọn lọc, bước đi thích hợp.”
Đến đại hội IX, chính sách đối ngoại của đảng từng bước được bổ xung
hoàn thiện hơn. Đảng ta tiếp tục khẳng định “chủ động hội nhập kinh tế tranh thủ
mọi thời cơ để phát triển trên nguyên tắc giữ vững độc lập tự chủ và định hướng
XHCN, chủ quyền quốc gia và bản sắc văn hoá dân tộc, bình đẳng cùng có lợi,
vừa có hợp tác, vừa đấu tranh đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ kinh tế
đối ngoại, đề cao cảnh giác trước mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch”.
(Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, nxb : CTQG, Hà Nội
2001, tr167)
Chương III

Phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội
nhập kinh tế quốc tế, chúng ta có thể khẳng định một lần nữa giữa xây dựng nền
kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có mối quan hệ biện
chứng. Chỉ có xây dựng được một nền kinh tế độc lập tự chủ chúng ta mới có đầy
đủ tư cách và thực lực để chủ động hội nhập đúng hướng và có hiệu quả. Và

3. Tạp chí nghiên cứu - trao đổi - Vương Thị Bích Thuỷ
4. Tạp chí thương mại số ra tháng 3/2004 bài viết của thứ trưởng bộ
thương mại Lương Văn Tự
5. Báo đầu tư chứng khoán
6. Thời báo tài chính, bài viết của Bộ trưởng Trương Đình Tuyển
7. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nxb Sự thật, Hà Nội
1991
8. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc VII, nxb QGHN 1996 Mục lục
Mục lục 19
Lời nói đầu 1
Chương I 3
Chương II 5
1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. 5
1.1. Nội dung của nguyên lý 5
1.2. ý nghĩa của nguyên lý 5
2. Vận dụng nguyên lý mối liên hệ phổ biến để phân tích mối quan hệ giữa
xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế . 6
2.1. Khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế 6
2.2. Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với sự phát triển của đất
nước. 6
2.3. Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế trên thế giới 8
2.4. Khái niệm về nền kinh tế độc lập tự chủ 9
2.5. Mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập
kinh tế quốc tế 10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status