Cơ sở kinh tế thuế môi trường, mức thải tối ưu, ưu nhược điểm và
vận dụng vào Việt Nam
PGS.TS. Nguyễn Văn Song – Đại học Nông Nghiệp Hà Nội
TÓM TẮT
Thuế môi trường và chuẩn mức thải là hai công cụ quan trọng để quản lý ô nhiễm môi trường.
Xác định được mức thải tối ưu (W*), mức thuế tối ưu (t*), đòi hỏi các nhà quản lý môi trường và
các cơ quan chức năng phải tính được mức thiệt hại do mỗi đối tượng gây ra (MEC), lợi ích ròng
biên của đối tượng (MNPB). Thuế môi trường và chuẩn mức thải không chỉ cần phải được xác
định đúng cho từng đối tượng thải mà còn phải được tính cho từng loại chất thải cụ thể. Thuế
môi trường thường được áp dụng và quản lý hữu hiệu trong trường hợp chất thải ít độc, ngược lại
chuẩn mức thải lại được sử dụng để quản lý và xử lý cho các loại chất thải độc. Thuế môi trường
sẽ hoạt động thông qua cơ chế giá thị trường, người chịu thuế còn tùy thuộc vào mức độ co giãn
của cung hoặc cầu loại hàng hóa người ta cung hoặc cầu. Vì vậy, nếu thuế môi trường được ban
hành dựa trên lượng đầu vào như hiện nay của Việt Nam sẽ không rõ được đối tượng chịu thuế
và không khuyến khích đối tượng gây ô nhiễm giảm thải. Chuẩn mức thải có nhược điểm cố hữu
là chi phí quản lý cao và thường rất hay bị vi phạm do lợi ích của đối tượng gây ô nhiễm lớn hơn
nhiều so với mức phạt, nhưng khi hãng vi phạm thì mức chi phí của xã hội lại rất lớn. Để giải
quyết vấn đề này, mức phạt phải được đưa ra lớn nhiều lần mà lợi ích mang lại cho đối tượng
gây ô nhiễm nếu vi phạm.
Từ khóa: tối ưu, ô nhiễm, thuế môi trường, chuẩn mức thải, mức thải tối ưu.
SAMMARY
Environmental tax (pollution tax) and emission standard are two measures used to control
pollution. Defining the optimal levels of waste and tax requires environmental managers,
governors to find out the level of marginal external cost (MEC), marginal net private benefit
(MNPB) of polluters. Pollution tax and emission standards are not only defined correctly for
each polluter but also computed correctly for each kind of waste. The pollution tax is efficiently
used for controlling light poisonous wastes; otherwise emission standard is efficiently used for
controlling strong poisonous wastes. Pollution tax is acted though the price system. Who will be
burdened pollution tax is depended on the demand and supply elasticity of the produced polluted
goods and services. Therefore, if the pollution tax level is based on the used input as Vietnam
Thuế bảo vệ môi
trường phải nộp
=
Số lượng đơn vị hàng hoá
tính thuế
x
Mức thuế tuyệt đối trên một
đơn vị hàng hoá
Nguồn: Điều 4, Chương 2, Thông tư 152/2011/TT-BTC
Từ các đối tượng chịu thuế và công thức tính thuế môi trường phải nộp như trên chúng ta
có thể nhận thấy ngay hạn chế của phương pháp này là dựa hầu hết vào đầu vào sản xuất để đánh
thuế ô nhiễm. Khi thuế dựa trên lượng đầu vào thì người chịu thuế lại sẽ là người tiêu dùng hoặc
người sản xuất, mức chịu thuế tùy thuộc vào độ co giãn của cầu hoặc cung hàng hóa này. Điều
đó có nghĩa là nếu cung (người sản xuất nếu gây ô nhiễm) co giãn thì gánh nặng thuế lại chuyển
sang cho người tiêu dùng phải chịu nếu cầu về hàng hóa này ít có giãn. Ngược lại, nếu cung ít co
giãn thì gánh nặng thuế này lại chuyển cho người sản xuất. Vậy câu hỏi đặt ra đối tượng gây ô
nhiễm là ai? Là người tiêu dùng hay người sản xuât? Thuế môi trường có đúng đối tượng là
người gây ô nhiễm phải nộp?
Hơn thế nữa, khi thuế ô nhiễm chỉ dựa trên hầu hết đầu vào sẽ không khuyến khích được
đối tượng gây ô nhiễm lắp đặt thiết bị giảm thải vì hai nhà máy sử dụng lượng đầu vào như nhau
nhưng một nhà máy không gây ô nhiễm (do có thiết bị giảm thải tốt) cũng phải nộp thuế môi
trường như nhà máy gây ô nhiễm (do không lắp đặt thiết bị giảm thải).
Mục tiêu bài viết này nhằm làm rõ cơ sở lý luận kinh tế của mức thải tối ưu, mức thuế ô
nhiễm tối ưu, chuẩn mức thải tối ưu, ưu nhược điểm của những phương pháp quản lý môi trường
này và vận dụng vào Việt Nam.
Phương pháp được sử dụng trong phân tích là phương pháp mô hình hóa để nghiên cứu,
phân tích và mô tả, gắn kết giữa lý thuyết và thực tế vận dụng hai công cụ thuế và chuẩn mức
thải.
2. NỘI DUNG, KẾT QUẢ PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN
mà các nhà sinh thái môi trường và cộng đồng dân cư sống gần khu vực thải mong muốn (không
bị ô nhiễm).
Ở mức sản lượng là Q
p
, tương đương với lượng chất thải ra môi trường là W
p
, chi phí
ngoại ứng là tổng các diện tích tam giác B + C + D, lợi ích ròng biên của hãng là tổng các diện
tích S + A + B + C. Như vậy, lợi ích của xã hội sẽ là: S + A + B + C – (B + C + D) = S + A – D.
Mức sản lượng và ô nhiễm này không được cộng đồng và xã hội ưa thích. Ngược lại, các hãng
gây ô nhiễm lại muốn sản xuất và thải ra môi trường ở mức này, vì đến Q
p
lợi ích ròng biên của
các hãng mới bằng không (0), mặc dù tại đây gây ra cho môi trường một lượng chất thải và chi
phí lớn. Chú ý, các hãng không sản xuất vượt qua Q
p
vì vượt qua Q
p
lợi ích biên âm.
Ở mức sản lượng Q* tương đương với mức thải ra môi trường là W*, chi phí ngoại ứng
là diện tích tam giác B, lợi ích ròng biên của hãng là S + A + B. Kết quả cuối cùng lợi ích của xã
hội sẽ là: S + A.
Tóm lại: Nếu sản xuất tại Q
1
, mặc dù môi trường không bị ô nhiễm nhưng sản phẩm quốc
dân tăng chậm, lợi ích xã hội là diện tích S; sản xuất tại Q* môi trường sẽ bị ô nhiễm với mức
thải là W*, nhưng lợi ích xã hội là tổng diện tích S + A; sản xuất tại Q
p
, sản phẩm quốc dân tăng
nhanh, mức thải ra môi trường là W
D
W
1
S
Q
1
Hình 1. Cơ sơ kinh tế của mức ô nhiễm tối ưu ( nguồn: PEARCE, D. W. AND R. KERRY
TURNER. 1990)
Chi phí và lợi ích
hãng sản xuất tại Q* thải ra môi trường một lượng chất thải là W* sẽ mang lại hiệu quả môi
trường và kinh tế lớn nhất.
2.2 Cơ sở kinh tế của thuế môi trường (ô nhiễm) tối ưu những thuận lợi và khó khăn
2.2.1 Cơ sở kinh tế của thuế môi trường (ô nhiễm) tối ưu (thuế Pigou)
Thuế ô nhiễm (pollution tax) là một công cụ quản lý ô nhiễm môi trường thông qua giá cả
sản phẩm và thị trường. Hình 2 cho thấy, nếu các nhà quản lý môi trường ban hành một mức
thuế ô nhiễm là t*, đường MNPB của các hãng sẽ chuyển xuống đường MNPB –t* và như vậy
với việc đóng thuế môi trường (lượng t*) các hãng sản xuất gây ô nhiễm chỉ sản xuất tới Q*,
lượng chất thải ra môi trường là W* chúng ta đạt đươc điểm tối ưu hoá ô nhiễm. Các hãng sẽ
0
M
ứ
c
th
ả
i
W
W*
A
B
C
D
W
1
S
Q
1
Chi phí và lợi ích
thường chuẩn mức thải là một công cụ thường bị vi phạm nếu không theo rõi quan sát liên tục.
Nếu nhà quản lý môi trường chuẩn mức thải chặt tại W
chặt
, thực hiện đúng hãng sẽ chỉ sản xuất
tới mức Q
chặt
, nhưng tại W
chặt
(xem hình 4), mức lợi ích ròng biên của hãng MNPB còn cao hơn
mức phạt rất nhiều, điều này kích thích hãng sẵn sàng vi phạm tới Q
vi phạm
, vì tới Q
vi phạm
, lợi ích
ròng biên của hãng mới bằng mức phạt. Nếu hãng vi phạm tới Q
vi phạm
hãng sẽ được các diện tích
a + b + c + d + e nếu phải trừ đi mức phạt là a + b thì hãng vẫn còn lãi phần c + d + e nhưng lúc
đó xã hội hay cộng động sẽ phải chịu phần chi phí ô nhiễm là diện tích f.
Wp
MNPB
MEC
Chi phí và lợi ích
Chuẩn mức
thải tối ưu
2.4 Vận dụng vào điệu kiện Việt Nam
Đối với môi trường Việt Nam khi mà công cụ quản lý môi trường bằng xác lập quyền sở
hữu rõ ràng, minh bạch chưa phát huy tác dụng tốt trong giai đoạn trước mắt thì thuế là một công
cụ hữu hiệu, cùng với chuẩn mức thải, giấy phép thải, chi phí giảm thải là các công cụ có tính
chất thực thi hơn. Cơ chế thuế ô nhiễm thịnh hành, phù hợp hơn trong điều kiện ở Việt nam hiện
nay. Điều hành sản xuất, tiêu dùng hoặc ô nhiễm dựa vào thuế là một công cụ thông qua cơ chế
giá của thị trường. Thuế môi trường đòi hỏi phải có thời gian cho thực thi và cơ cấu giá cả.
Chính vì vậy, đối với những yêu cầu khẩn cấp để hạn chế sản xuất, tiêu dùng hoặc gây ô nhiễm
(ví dụ: chất thải độc) thì không nên sử dụng thuế mà phải sử dụng chuẩn mức thải (emmision
standard). Chuẩn mức thải có một số nhược điểm như thường bị vi phạm và thường phi hiệu quả,
nhưng lại có ưu điểm hơn là được thực thi nhanh hơn để hạn chế chất thải độc. Vì chất thải độc
sẽ làm cho thiệt hại xã hội nhiều hơn trong một thời gian ngắn.
Một nhược điểm nữa cần phải nêu rõ khi sử dụng thuế môi trường như một loại thuế dựa
trên lượng đầu vào sử dụng như hiện nay của chúng ta sẽ không làm minh bạch người chịu thuế
a
e
d
b
W
1
S
Q
1
Hình 4. Cơ sơ kinh tế của chuẩn mức thải chặt thường bị vi phạm
Chi phí và lợi ích
Chuẩn mức
thải chặt
W
chặt
W
vi phạm
Q
vi phạm
c
Q
chặt
Mức phạt nếu vi phạm
PEARCE, D. W. AND R. KERRY TURNER. 1990. Economics of Natural Resources and the Environment,
Harvester Wheatsheaf, Inc.
Thông tư 152/2011/TT-BTC ngày 11 tháng 11 năm 2011 – Bộ Tài Chính