ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Đề tài:
“Đánh giá tình hình giao đất, cho thuê đất đối với các dự án đầu tư trên
địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 - 2012”
Học viên: Phạm Anh Tú
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã ngành:
Khoa: Sau đại học
Lớp: Cao học K19 - QLĐĐ
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Thanh Hải
THÁI NGUYÊN - 2012
Mục lục
Trang
Mục lục 1
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích của đề tài 1
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4. Yêu cầu của đề tài 2
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Chương 1 3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
1.1. Cơ sở lý luận về giao đất, cho thuê đất đối với các dự án đầu tư 3
1.1.1. D án u t v vai trò c a d án u t trong vi c ho ch nh phát tri nự đầ ư à ủ ự đầ ư ệ ạ đị ể 3
1.1.2. t ai v vai trò c a t ai i v i các d án u tĐấ đ à ủ đấ đ đố ớ ự đầ ư 4
1.1.3. S c n thi t c a công tác giao t, cho thuê t i v i các d án u tự ầ ế ủ đấ đấ đố ớ ự đầ ư 6
1.1.3.1. Khái ni mệ 6
3.1.3.2. H th ng thu l iệ ố ỷ ợ 42
3.1.3.3. M ng l i y t , giáo d c, v n hoáạ ướ ế ụ ă 42
3.1.4. i u ki n kinh t c a t nh Thái NguyênĐề ệ ế ủ ỉ 44
3.1.5. ánh giá chung v i u ki n t nhiên, kinh t , xã h i , môi tr ngĐ ềđề ệ ự ế ộ ườ 45
3.1.4.1. L i th v k t qu t cợ ế à ế ảđạ đượ 45
3.2. Đánh giá tình hình giao đất, cho thuê đất đối với các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên 47
3.2.1. Tình hình phân b qu t cho các n v h nh chính trong t nh Thái Nguyênổ ỹđấ đơ ị à ỉ
47
3.2.2. C ch , chính sách trong vi c thu hút u tơ ế ệ đầ ư 53
3.2.3. Các v n b n ch o c a t nh trong vi c giao t, cho thuêă ả ỉ đạ ủ ỉ ệ đấ 53
3.2.4. ánh giá tình hình giao t, cho thuê t th c hi n d án u tĐ đấ đấ ự ệ ự đầ ư 53
3.2.5. ánh giá tình hình giao t i v i các d án xây d ng khu ô th , khu dân cĐ đấ đố ớ ự ự đ ị ư
56
3.2.6. ánh giá tình hình cho thuê t i v i các d án trong khu công nghi p, c mĐ đấ đố ớ ự ệ ụ
công nghi pệ 60
3.2.7. ánh giá k t qu t c trong công tác giao t, cho thuê tĐ ế ảđạ đượ đấ đấ 63
3.2.7.1. V trình t , th t cề ự ủ ụ 64
3.2.7.3. Th c hi n chính sách pháp lu tự ệ ậ 65
3.2.7.4. V qu n lý s d ng t ti t ki m v có hi u quề ả ử ụ đấ ế ệ à ệ ả 65
3.3. ánh giá tình hình s d ng t c a các t ch c c Nh n c giao t, cho Đ ử ụ đấ ủ ổ ứ đượ à ướ đấ
thuê t trên a b n t nh Thái Nguyênđấ đị à ỉ 66
3.3.1. ánh giá tình hình ch p h nh pháp Lu t t ai c a các t ch cĐ ấ à ậ Đấ đ ủ ổ ứ 66
3.3.2. ánh giá tình hình s d ng t i v i các d án thuê t ngo i khu công Đ ử ụ đấ đố ớ ự đấ à
nghi p, c m công nghi pệ ụ ệ 68
3.3.4. ánh giá k t qu thanh tra, ki m tra s d ng t c a các t ch c vi ph m pháp Đ ế ả ể ử ụ đấ ủ ổ ứ ạ
lu t v t ai t 2010-2012ậ ềđấ đ ừ 71
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
án đầu tư trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006 - 2010.
- Công tác thanh tra, kiểm tra và quản lý tình hình sử dụng đất của các
tổ chức sau khi được giao đất, cho thuê đất.
- Các chính sách pháp luật có liên quan đến giao đất, cho thuê đất để
thực hiện dự án đầu tư.
4. Yêu cầu của đề tài
- Nghiên cứu các văn bản pháp luật; tài liệu liên quan
- Các chỉ tiêu đánh giá sát thực với tình hình thực tế
- Số liệu điều tra phải khách quan và đảm bảo độ tin cậy;
- Đưa ra các ý kiến đánh giá đảm bảo tính khách quan, chính xác
- Kết quả nghiên cứu phải đảm bảo cơ sở khoa học và thực tiễn.
- Đưa ra được những giải pháp có tính khả thi.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
* Ý nghĩa khoa học
- Vận dụng và làm sáng tỏ những luật định trong công tác quản lý giao
đất, cho thuê đất.
- Góp phần bổ sung và hoàn thiện những luật định, văn bản pháp luật
cho phù hợp trong công tác quản lý giao đất, cho thuê đất.
* Ý nghĩa thực tiễn
Thực hiện tốt Luật Đất đai và công tác quản lý Nhà nước về đất đai,
đặc biệt là trong công tác giao đất, cho thuê đất để thực hiện các dự án nhằm
sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả, phát huy tối đa tiềm năng, nguồn lực
về đất, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh.
2
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận về giao đất, cho thuê đất đối với các dự án đầu tư
1.1.1. Dự án đầu tư và vai trò của dự án đầu tư trong
việc hoạch định phát triển
Trong các hoạt động kinh tế hiện nay, chúng ta đã không còn xa lạ với
dịch vụ trên thị trường.
Thứ tư, dự án đầu tư góp phần cải thiện đời sống dân cư và cải biến bộ
mặt kinh tế - xã hội của từng vùng, của cả nước.
Do có các vai trò trên nên dự án đầu tư còn gọi là các dự án phát triển
rất được coi trọng trong hệ thống kế hoạch hóa hiện nay ở nước ta. Nó là công
cụ để triển khai thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu của kế hoạch với hiệu quả kinh
tế - xã hội cao nhất.
1.1.2. Đất đai và vai trò của đất đai đối với các dự án đầu tư
Khác với các ngành và lĩnh vực khác, đất đai trong các dự án đầu tư được
quan tâm dưới góc độ là địa điểm. Xác định đất đai, nói đúng hơn là xác định
địa điểm bố trí dự án là một trong những chìa khóa để thực hiện thành công
các dự án đầu tư. Trừ các dự án đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, các dự án
đầu tư ít quan tâm đến các tính chất vật lý, hóa học, sinh học, độ màu mỡ của
đất đai, mà quan tâm nhiều đến vị trí của đất đai, địa điểm. Địa điểm bố trí dự
án được đánh giá thông qua các khía cạnh sau:
- Vấn đề cung – tiêu: địa điểm bố trí dự án gây khó khăn hay thuận lợi cho
việc cung cấp các nguyên, nhiên vật liệu đầu vào và tiêu thụ sản phẩm của dự
án.
4
- Kết cấu hạ tầng (điện, cấp và thoát nước, nhà ở, thông tin liên lạc, giao
thông,…) có đáp ứng được yêu cầu của dự án hay không? Có thuận lợi và khó
khăn gì?
- Môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng: điều kiện mặt bằng, lao
động của địa phương, luật lệ và an ninh ở địa phương.
Như vậy, đất đai với các dự án đầu tư được quan tâm ở góc độ không
giống các lĩnh vực khác.
Đất đai từ lâu đã gắn liền với đời sống và sản xuất của con người, nó gắn
liền với lịch sử đấu tranh sinh tồn của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Vì vậy, đất
đai giữ một vai trò đặc biệt quan trọng. Đất đai được Hiến pháp nước ta
khẳng định với vai trò là một tài nguyên quốc gia, Giáo trình đăng ký –
tạo ra các thực phẩm nuôi sống con người.
Vì vậy có thể khẳng định đất đai có vai trò vô cùng quan trọng đối với
sản xuất và đời sống của con người. Dưới bất cứ một thời đại nào, một chế độ
xã hội nào, đất đai cũng là một vấn đề được quan tâm hàng đầu của bộ máy
Nhà nước. Giao và cho thuê đất là một trong những công tác quan trọng của
quản lý Nhà nước về đất đai. Vì vậy công tác này có ảnh hưởng đến sản xuất
và đời sống của toàn xã hội. Vậy đối với các dự án đầu tư, công tác giao và
cho thuê đất có vai trò và tầm quan trọng như thế nào?
1.1.3. Sự cần thiết của công tác giao đất, cho thuê đất đối với các dự án đầu
tư
1.1.3.1. Khái niệm
Luật Đất đai 2003 đã đưa ra những khái niệm cụ thể về công tác giao
và cho thuê đất. Điều 4 của Luật giải thích:
6
- “Nhà nước giao đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng
quyết định hành chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất” [8].
- “Nhà nước cho thuê đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng
hợp đồng cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất”[8].
1.1.3.2. Tầm quan trọng của công tác giao đất và cho thuê đất đối với các
dự án đầu tư
Để thực hiện một dự án đầu tư thì cần phải có vốn. Bất kì một dự án
đầu tư nào cũng đòi hỏi một số vốn rất lớn mà bản thân các chủ đầu tư bằng
nguồn vốn tự có của mình không chắc đã có đủ mà phải huy động từ các
nguồn khác. Một trong các nguồn huy động vốn là ngân hàng. Tuy nhiên tiếp
cận được nguồn vốn này là không dễ. Cơ sở pháp lý của giao và cho thuê đất
là GCNQSDĐ tạo điều kiện cho các chủ đầu tư có thể tiếp cận nguồn vốn
ngân hàng bằng cách thế chấp quyền sử dụng đất. Nguồn vốn này cùng với
các nguồn vốn từ kênh huy động khác là điều kiện để chủ đầu tư có thể tiến
hành đầu tư vào đất đai, thực hiện dự án.
1.1.3.3. Nguyên tắc sử dụng đất
8
1.1.4.2. Cơ chế và hình thức giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án
Sơ đồ 1.1. Cơ chế, hình thức giao đất, cho thuê đất
Luật đất đai 2003 đưa ra 2 cơ chế để tạo quỹ đất cho dự án đầu tư: Nhà
nước thu hồi đất và nhà đầu tư tự thoả thuận với người đang sử dụng đất; đưa
ra 3 cơ chế giao đất, cho thuê đất đối với các dự án đầu tư: đấu giá đất, đấu
thầu dự án có sử dụng đất và giao đất trực tiếp cho nhà đầu tư. Trong 3 cơ chế
giao đất, cho thuê đất thì hiện nay các dự án đầu tư chủ yếu thực hiện theo cơ
chế Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng đất để giao trực tiếp cho
nhà đầu tư.
1.1.4.3. Thời hạn giao và cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư
Điều 66, Điều 67 của Luật Đất đai 2003 quy định thời hạn sử dụng của
các loại đất. Trong đó một số loại đất như đất ở; đất xây dựng trụ sở cơ quan,
xây dựng công trình sự nghiệp; đất quốc phòng, an ninh; đất tôn giáo là
9
Nhà nước thu hồi đất
của người đang sử
dụng
1.Thu hồi đất theo quy
hoạch
1. Thu hồi đất theo dự
án
Nhà nước cho thuê đất
hoặc giao đất cho nhà
đầu tư
1. Đấu giá đất
2.Đấu thầu dự án có sử
dụng đất
3.trực tiếp cho thuê đất
hoặc giao đất cho nhà
Luật còn quy định trong trường hợp đã hết thời hạn giao đất, cho thuê
đất, nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất đó thì nhà đầu tư có thể đăng ký xin
gia hạn thời hạn sử dụng đất. Có thể thấy rằng đây là một quy định tạo điều
kiện cho các nhà đầu tư tiếp tục khai thác những lợi ích mình đã bỏ ra đồng
thời khuyên khích họ đầu tư thêm vào đất.
1.1.4.4. Thẩm quyền giao đất và cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư
Thẩm quyền giao và cho thuê đất được quy định tại điều 37 Luật Đất
đai 2003. Điều này quy định ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương quyết định giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức trong
nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài
thực hiện các dự án đầu tư.
1.2. Tổng quan về công tác giao đất, cho thuê đất ở một số nước trên thế
giới và Việt Nam
1.2.1. Công tác giao đất, cho thuê đất ở một số nước trên thế giới
Một số nước trên thế giới, với tình hình kinh tế - xã hội riêng đều có cơ
10
chế xử lý vần đề đất đai phù hợp với đất nước mình để có thể tận dụng hiệu
quả tài sản đất, đảm bảo thu lợi từ quyền sở hữu đất đai và ngăn chặn tình
trạng thất thoát tài sản đất trong quá trình quản lý nền kinh tế - xã hội theo
hướng hội nhập kinh tế quốc tế.
a. Hungary:
Đất đai được phân chia lại theo quyền sở hữu Nhà nước, tư nhân và hỗn
hợp. Nhà nước chủ yếu nắm quyền sở hữu về đất đai dùng cho mục đích công
cộng, xã hội và những vùng quan trọng. Tư nhân chủ yếu nắm giữ quyền sở
hữu đất cho sản xuất, đặc biệt là đất nông nghiệp
* Đặc điểm chính sách đất đai của Cộng Hoà Hungary:
- Quyền sử dụng đất được quy định thống nhất, không phân biệt giữa tổ
chức, cá nhân mua hay thuê đất của Nhà nước. Nhà nước quản lý, giám sát
chặt chẽ mục đích sử dụng đất của mỗi tổ chức, cá nhân và hạn chế quyền sở
hữu đất đối với cá nhân và tổ chức nước ngoài, việc quản lý đất được phân
- Phương thức bán đất của Nhà nước: Thực hiện theo phương thức đấu
giá công khai, mọi đối tượng đều có quyền tham gia đấu giá. Một số trường
hợp được ưu tiên không đấu giá như ưu tiên đối với chủ cũ trước đây đã sử
dụng và bị quốc hữu hoá nay có nhu cầu mua lại, hoặc mua để sử dụng vào
các hoat động phục vụ phúc lợi xã hội………
- Phương thức cho thuê đất: Thuê với thời hạn từ 3 năm trở lên phải
đấu giá. Trong đó một số trường hợp không phải đấu giá như sử dụng vào các
hoạt động từ thiện……… Đối tượng áp dụng cho thuê đất là doanh nghiệp,
đất thuộc hành lang lưới điện quốc gia [7].
b. Trung Quốc:
Theo Hiến pháp của nước CHND Trung Hoa và Luật quản lý Nhà nước về
đất đai, đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước thống nhất quản lý. Là
người đại diện cho toàn dân, nhà nước Trung Quốc có toàn quyền của một
chủ sở hữu. Để có thể tận dụng hiệu quả tài sản đất, đảm bảo thu lợi từ quyền
sở hữu đất và ngăn trặn tình trạng thất thoát tài sản đã có những quy định hạn
chế việc lựa chọn phương thức xử lý đất đai theo pháp luật.
- Phương thức giao đất: Doanh nghiệp có quyền sử dụng đất đô thị sau
khi được Nhà nước giao đất. Trước khi tiến hành cổ phần hoá, doanh nghiệp
phải thông qua việc giao đất và phải làm thêm các thủ tục, nộp tiền giao đất
(nộp 1 lần) để có được quyền sử dụng đất, hoặc doanh nghiệp phải làm thủ
tục đăng ký liên quan để có được quyền sử dụng đất. Trung Quốc thực hiện 3
phương thức: đấu thầu, niêm yết giá và đấu giá trong giao đất.
Đất đai trong thời hạn được giao sẽ thuộc tài sản của doanh nghiệp, vì
vậy doanh nghiệp không chỉ được sử dụng và thu lợi từ đất mà còn có thể tiến
13
hành các hoạt động kinh doanh như chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp quyền
sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Nhà nước Trung Quốc quy định kỳ hạn cao nhất đối với việc giao
quyền sử dụng đất: đất nông nghiệp 50 năm, đất ở 70 năm, đất dùng cho
thương mại, du lịch, giải trí có kỳ hạn 40 năm, đất dùng cho giáo dục, khoa
Việc khai thác và sử dụng đất đai là vấn đề trọng tâm trong lịch sử phát
triển của Việt Nam. Điều này cũng đúng cả với những nước khác trên thế
giới. Những phương cách trong đó đất đai được sử dụng, được xác lập quyền
sở hữu hay chuyển giao giữa các thế hệ có ảnh hưởng sâu rộng đến các mặt
kinh tế, xã hội và chính trị của mỗi nước. Điều này đặc biệt đúng với Việt
Nam nơi đã có những thay đổi lớn về chính sách sử dụng đất đai trong thời
gian qua. Trong những năm qua, công tác quản lý đất đai đã đạt được nhiều
thành tựu quan trọng góp phần đẩy mạnh sự nghiệp phát triển và hội nhập
kinh tế quốc tế, từng bước “nắm chắc, quản chặt, khai thác có hiệu quả”
nguồn tài nguyên đất đai.
Theo đánh giá tổng quan, công tác quản lý đất đai theo quy hoạch ngày
càng đi vào thực chất, việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng
đất đã bám sát và tuân thủ quy hoạch, góp phần tích cực vào việc sử dụng đất
hợp lý và có hiệu quả. Tình trạng vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở
các địa phương đã giảm đáng kể. Vai trò giám sát của người dân được tăng
cường, phát huy tính dân chủ, minh bạch và hạn chế tiêu cực trong quản lý đất
đai. Đặc biệt, đã khoanh định quỹ đất sản xuất nông nghiệp hợp lý, bảo vệ
quỹ đất trồng lúa, đảm bảo mục tiêu an ninh lương thực quốc gia. Đất dành
cho phát triển công nghiệp, dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển đô
thị cũng được mở rộng, đáp ứng nhu cầu đô thị hóa và công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý đất đai hiện
nay. Đó là, chất lượng dự báo nhu cầu quỹ đất cho phát triển của các ngành,
lĩnh vực, các dự án đầu tư và kế hoạch sử dụng đất ở nhiều địa phương còn
chưa tính toán khoa học, chưa sát với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và
nhu cầu của thị trường bất động sản dẫn tới tình trạng vừa thiếu, vừa thừa quỹ
đất, phải liên tục điều chỉnh quy hoạch. Quy hoạch đất chủ yếu thiên về các
16
mục tiêu quản lý hành chính mà chưa tính tới hiệu quả kinh tế - xã hội - môi
trường, đảm bảo sự phát triển bền vững nên chưa phát huy tối đa tiềm năng
Quảng Nam, Nam Định [19].
Hiện nay trên địa bàn toàn quốc có 260 khu công nghiệp hiện có, chiếm
khoảng 71.000 ha đất với tỷ lệ lấp đầy là 46%, cộng với gần 300 khu công
nghiệp dự kiến sẽ được thành lập từ nay tới năm 2020 theo phê duyệt của Thủ
tướng Chính phủ và diện tích tăng thêm là 128.000 ha đất mà tỷ lệ lấp đầy đạt
thấp. Chỉ tiêu Quốc hội chỉ cho phép giao đất 44.000 ha vào năm 2010, nhưng
trên thực tế, các địa phương đã giao mặt bằng sản xuất, kinh doanh phi nông
nghiệp cho các doanh nghiệp lên tới 93.000 ha, vượt 211,26%. Điều này cũng
xảy ra tương tự tại các khu kinh tế, khu công nghệ cao trên địa bàn cả nước,
dẫn tới tình trạng giữ nhiều đất nhưng triển khai chậm vì không thu hút được
đầu tư, hoạt động xuất nhập khẩu yếu kém nên không tạo được động lực phát
triển [19].
1.2.2.2. Những tồn tại chính
- Tiềm năng đất đai chưa thực sự được khai thác đầy đủ, đất đai còn để
hoang hoá, lãng phí; việc chấp hành chính sách pháp luật đất đai của một số
tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chưa nghiêm, tình trạng vi phạm pháp luật đất
đai vẫn còn xẩy ra ở hầu hết các địa phương dưới nhiều hình thức như: tự ý
làm nhà xuống ruộng, chuyển nhượng đấ đai và chuyển mục đích sử dụng đất
trái phép, không đúng quy hoạch, cơ chế tài chính đối với đất đai chưa phát
huy được hiệu quả còn để tình trạng dây dưa, nợ đọng các nguồn thu từ đất
gây thất thu cho ngân sách.
- Về công tác quy hoạch sử dụng đất, nhìn chung chất lượng còn hạn
chế chưa có dự báo chính xác về nhu cầu sử dụng đất, các ngành, các địa
phương khi xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa sát với định
hướng phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của các địa phương dẫn đến
18
tình trạng liên tục phải điều chính bổ sung.
- Hệ thống hồ sơ địa chính chưa đầy đủ, không đồng bộ, thống nhất,
thiếu thông tin so với nhu cầu, gây không ít khó khăn cho công tác giao đất,
cho thuê đất để thực hiện dự án.
thúc đẩy sản xuất phát triển, thu hút nguồn vốn đầu tư. Những chủ trương, cơ
chế đúng đắn góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế, phát triển nông
nghiệp nông thôn, phát triển kết cấu hạ tầng, công nghiệp và dịch vụ, thúc đẩy
sự ra đời nhanh chóng của thị trường quyền sử dụng đất, góp phần tích cực
trong việc ổn định chính trị, kiềm chế lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội.
1.2.3.1. Công tác cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai
Công tác cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai tỉnh Thái
Nguyên đã có những chuyển biến tích cực, được dư luận đánh giá cao, nhất là
trong công tác giao đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Trình tự,
nội dung và các mẫu đơn, tờ khai được niêm yết công khai, thời gian thực
hiện thủ tục hành chính được giảm thiểu thông qua việc lồng ghép các thủ tục,
xây dựng, đất đai, môi trường ngay từ khâu chấp thuận dự án đầu tư đến khâu
bồi thường, giải phóng mặt bằng, triển khai dự án được thực hiện quan cơ chế
“ một cửa liên thông” của tỉnh [16].
1.2.3.2. Công tác ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
Căn cứ các quy định của Luật đất đai năm 2003, tỉnh Thái Nguyên đã
xây dựng và ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về
đất đai phù hợp với yêu cầu thực tiến của địa phương, trong đó có các Nghị
quyết về Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Nghị quyết về cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, Nghị quyết về công tác bồi thường giải phóng mặt
bằng, Nghị quyết về giá đất hàng năm. Chủ động triển khai có hiệu quả các
văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai, đặc biệt là các văn bản liên quan
20
đến công tác giao đất, cho thuê đất, bồi thường giải phóng mặt bằng……
được dư luận đánh giá tích cự, tháo gỡ được nhiều khó khăn, giải phóng rào
cản để huy động nguồn lực đất đai cho đầu tư phát triển [16].
1.2.3.3. Công tác Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh đã được triển
khai rất sớm và đồng bộ ở cả 3 cấp: tỉnh, huyện và xã, được Chính phủ xét
duyệt tại Nghị quyết số 20/2006/NQ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2006. Hiện nay