Đánh giá Quản lý tài nguyên nước mặt trong hệ thống quản lý tổng hợp lưu vực sông - Pdf 11


MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
LVS: Lưu vực sông
QLLVS: Quản lý lưu vực sông
QLTH LVS: Quản lý tổng hợp lưu vực sông
QLTH TNN: Quản lý tổng hợp tài nguyên nước
TNN: Tài nguyên nước
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
VQG: Vườn quốc gia
BTTN: Bảo tồn thiên nhiên
GDP: Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)
IWMI: International Water Management Institute
(Tổ chức quản lý nước quốc tế)
ADB: Asian Development Bank (Ngân hàng phát triển Châu Á)
KCN: Khu công nghiệp
SS: Suspended Sediment (Bùn, cát lơ lửng)
COD: Chemical Oxygen Demand (nhu cầu oxy hóa học)
BOD: Biochemical Oxygen Demand (nhu cầu oxy sinh hóa)
HTMT: Hiện trạng môi trường
BVTV: Bảo vệ thực vật
BVMT: Bảo vệ môi trường
KHĐT: Kế hoạch đầu tư
UBND: Ủy ban nhân dân
TN & MT: Tài nguyên và môi trường
NN & PTNT: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
ĐTM: Đánh giá tác động môi trường
DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG, BIỂU
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU

2. Mục tiêu nghiên cứu
Quản lý tài nguyên nước mặt trong hệ thống quản lý tổng hợp LVS là
một khái niệm quản lý tài nguyên mới ở Việt Nam, đòi hỏi sự tổng hợp trong
quản lý và cần phải có sự khoa học trong triển khai thực hiện. Chính vì lý do
đó mà đề tài được đề ra với mục tiêu:
• Nghiên cứu cơ sở lý luận trong công tác quản lý tài nguyên nước, cụ
thể tại LVS ở Việt Nam hiện nay.
• Nghiên cứu cơ sở thực tiễn hoạt động quản lý tài nguyên nước mặt tại
LVS ở Việt Nam nói chung và LVS Cầu nói riêng.
• Đề xuất một số biện pháp nhằm cải thiện những thực trạng trong
công tác quản lý tài nguyên nước mặt tại LVS Cầu.
3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là lưu vực sông Cầu. Lưu vực sông đi qua
6 tỉnh và thành phố là Bắc Kạn, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Ninh,
Hải Dương. Lưu vực sông Cầu là một trong những lưu vực sông lớn ở Việt
Nam, có vị trí địa lý đặc biệt, đa dạng và phong phú về tài nguyên cũng như
lịch sử phát triển kinh tế, xã hội của các tỉnh nằm trong lưu vực của nó.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT LVS
1.1Quản lý lưu vực sông
1.1.1 Khái niệm quản lý LVS và các khía cạnh liên quan đến quản lý LVS
1.1.1.1 Lưu vực sông
Nước trên bề mặt đất theo quy luật chung đều chảy từ nơi cao xuống nơi
thấp, lâu ngày các đường chảy tạo thành sông suối. Mỗi một dòng sông đều
có phần diện tích hứng và tập trung nước gọi là lưu vực sông.
Một LVS có thể xem như một vùng địa lý được giới hạn bởi đường chia
nước trên mặt và dưới đất. Đường chia nước trên mặt là đường nối các đỉnh
cao của địa hình. Nước từ đỉnh cao đó chuyển động theo hướng dốc của địa
hình để xuống chân dốc đó là các suối nhỏ rồi tập trung xuống các nhánh
sông lớn hơn để chảy về biển. Cứ như thế chúng tạo thành mạng lưới sông.

bên trên thông qua hoạt động của hoàn lưu khí quyển và chu trình thuỷ văn,
nhờ đó hàng trăm lưu vực sông đều nhận được một lượng nước đến từ mưa để
sử dụng cho các nhu cầu của con người và duy trì hệ sinh thái.
1.1.1.2 Chức năng của sông và lưu vực sông
Sông, lưu vực hứng nước và hệ sinh thái thuỷ sinh có vai trò và vị trí vô
cùng quan trọng đối với con người, có thể ví như một cỗ xe sinh học của hành
tinh cung cấp nguồn sống và nuôi dưỡng sự sống của con người và các cộng
đồng sinh học trên lưu vực sông.
Đối với tự nhiên, sông có chức năng chủ yếu là chuyển tải nước và các
loại vật chất từ nguồn tới vùng cửa sông, thường là biển cả. Đối với con
người và hệ sinh thái, sông còn có các chức năng khác như là:
- Sông cung cấp nơi ở cho cá và các sinh vật của hệ sinh thái dưới
nước, nơi diễn ra các hoạt động sinh sống, nghỉ ngơi và giải trí của
người dân sống ven sông.
- Sông cung cấp nước cho các nhu cầu sử dụng của con người và cho
duy trì hệ sinh thái dưới nước và các hệ sinh thái ven sông.
- Sông có khả năng chuyển hoá các chất ô nhiễm thông qua sự tự làm
sạch của nước sông.
Lưu vực sông là nơi cư trú của con người và thế giới sinh vật, cung cấp
các tài nguyên đồng thời là nơi chứa đựng và đồng hoá các chất thải do quá
trình sống của con người và các sinh vật thải ra tạo dựng sự cân bằng của các
quá trình sinh thái.
1.1.1.3. Quản lý tổng hợp lưu vực sông
Khái niệm
Lưu vực sông là một hệ thống mở và luôn tương tác với tầng khí quyển
bên trên thông qua hoạt động của hoàn lưu khí quyển và chu trình thủy văn để
nhận được một lượng nước đến hàng năm sử dụng cho các nhu cầu của con
người và cho hệ sinh thái. Lưu vực sông là một hệ thống vô cùng quan trọng
của tự nhiên với các chức năng cũng rất quan trọng đối với con người, thí dụ
như: cung cấp không gian sống cho con người và các sinh vật, cung cấp các

nước và tác động tới hệ thống tài nguyên nước mặt. Nó là quản lý các hệ sinh
thái nước như là một phần của môi trường tự nhiên rộng lớn và trong mối
quan hệ với môi trường kinh tế xã hội của chúng.
Quản lý tổng hợp lưu vực sông khác với cách quản lý theo địa giới hành
chính thông thường ở chỗ:
- Phạm vi không gian của quản lý là bao quát trên toàn bộ lưu vực
sông.
- Cách quản lý dựa trên nguyên tắc của quản lý tổng hợp các
nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường lưu vực nhằm đạt đến
mục tiêu bền vững, trong đó trọng tâm là quản lý tổng hợp tài
nguyên nước trong mối liên quan tới tài nguyên đất và các tài
nguyên liên quan khác.
Vì thế, quản lý tổng hợp lưu vực sông cần phải:
+ Chú ý quản lý các dạng khác nhau của nước: nước mặt và nước ngầm.
+ Chú ý quản lý cả số lượng và chất lượng nước trên lưu vực sông.
+ Chú ý các mối liên quan giữa các nguồn tài nguyên, đặc biệt là giữa
tài nguyên đất và tài nguyên nước.
+ Tổng hợp các giới hạn tự nhiên, các nhu cầu kinh tế xã hội.
+ Tổng hợp về luật pháp, chính sách và thể chế.
Mục đích của quản lý lưu vực sông
Theo quan điểm của phát triển bền vững thì quản lý lưu vực sông có ba
mục đích chủ yếu sau:
(i) Bảo vệ các chức năng của sông và lưu vực sông;
(ii) Quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên nước trong mối quan hệ
với đất và các tài nguyên sinh thái khác;
(iii) Hạn chế suy thoái và duy trì môi trường của sông và lưu vực sông
bền vững cho các thế hệ hiện tại và tương lai.
Thực vậy, việc thực hiện quản lý lưu vực sông sẽ giúp cho con người có
thể quản lý bảo vệ các chức năng của hệ sinh thái trên cạn và dưới nước, bảo
vệ và cải thiện chất lượng môi trường của lưu vực sông không cho nó suy

+ Phối hợp các chính sách, chương trình và các hoạt động trong mối
quan hệ của quản lý tổng hợp lưu vực sông.
+ Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tổng hợp lưu
vực.
+ Khuyến khích sử dụng bền vững các tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là
các tài nguyên nước trong mối quan hệ với đất và các tài nguyên tự nhiên khác.
+ Xác định và phục hồi những nguồn tài nguyên thiên nhiên bị suy giảm
và xuống cấp.
+ Cung cấp đất canh tác ổn định, cung cấp đủ nước với chất lượng đảm
bảo bảo vệ lớp phủ thực vật trong lưu vực.
Trong quá trình khai thác và sử dụng tài nguyên tự nhiên trên lưu vực
sông từ thời xa xưa cho đến ngày nay, con người thường chú trọng đến việc
khai thác các nguồn lợi sẵn có của tự nhiên để sử dụng cho cuộc sống của
mình, điều đó không thể tránh khỏi các sự tổn thương đối với tài nguyên và
hệ sinh thái. Làm thế nào vừa khai thác sử dụng mà vẫn quản lý bảo vệ và
duy trì được các nguồn tài nguyên tự nhiên của lưu vực sông? Để đạt được
mục tiêu trên, quản lý lưu vực phải hướng vào các hoạt động chủ yếu sau:
- Ngăn ngừa và chặn đứng sự xuống cấp của các tài nguyên hiện có của
lưu vực sông, trong đó có chú trọng những tài nguyên thiên nhiên đã
bị xuống cấp (thí dụ như tài nguyên nước và đất), và tìm cách bảo tồn
chúng cho sử dụng lâu dài của con người.
- Tạo các phương thức phù hợp để sử dụng hợp lý các nguồn tài
nguyên thiên nhiên trong khả năng của chúng.
- Các biện pháp để giảm thiểu các tác động tiêu cực gây ra từ việc gia
tăng sử dụng tài nguyên của con người trong các thập kỷ gần đây.
Đây là một vấn đề rất phức tạp liên quan không những về mặt kỹ thuật
mà còn cả việc tổ chức thể chế cần có một cách nhìn chiến lược theo hướng
tổng hợp, tòan diện và lâu dài thì mới có thể giải quyết nổi.
1.1.2 Quá trình phát triển của quản lý lưu vực sông
Từ xa xưa khi con người bắt đầu sinh sống, khai thác tài nguyên môi

Campuchia.
Tại Trung Quốc, kế hoạch quản lý lưu vực sông đã được nhà nước thông
qua và hiện tại các lưu vực sông lớn như lưu vực sông Trường Giang, Hoàng
Hà,…đều đã thành lập các ban quản lý lưu vực sông và hoạt động có hiệu quả.
Tại Indonexia, Nhà nước cũng đưa ra chính sách mới về quản lý nước
và quản lý lưu vực sông, trong đó quản lý nước được lấy trung tâm ở cấp
lưu vực và tập trung trách nhiệm quản lý nước thông qua sự tham gia và
hợp tác hiệu quả của các đối tượng hưởng lợi trên lưu vực. Một số ban
quản lý lưu vực sông tại Indonesia đã được thành lập. Các nước khác trong
khu vực cũng đêu bắt đầu tiếp cận thực hiện quản lý lưu vực sông trong
một, hai thập kỷ qua.
Việc áp dụng cách tiếp cận quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu
vực sông để soạn ra các chính sách và chiến lược phát triển, quản lý và bảo vệ
tài nguyên nước đã giúp cho tài nguyên nước ngày nay được xem xét trêm cơ
sở hệ thống. Cách tiếp cận này cho phép những người sử dụng nước hiểu biết
tốt hơn về các vấn đề thủy văn có liên quan (IWMI, 2000).
Ở Việt Nam, ngay từ những năm 1960 quản lý lưu vực sông đã được nhà
nước quan tâm với việc thành lập Ủy ban trị thủy sông Hồng, một tổ chức có
trách nhiệm quy hoạch và quản lý tài nguyên nước cấp lưu vực đầu tiên ở
nước ta nhưng hoạt động của Ủy ban này cũng còn nhiều hạn chế.
Quản lý tài nguyên nước ở nước ta cho đến nay vẫn chủ yếu là quản lý
theo địa giới hành chính và riêng rẽ do từng ngành sử dụng nước tự đảm
nhiệm. Tình trạng đó kéo dài cho đến năm 1998 khi Luật Tài nguyên Nước ra
đời đã nêu định hướng cho việc thực hiện quản lý lưu vực sông.
Thực hiện Luật Tài nguyên nước, năm 2002 nhà nước đã thành lập 3
Ban quản lý quy hoạch lưu vực sông của ba lưu vực sông lớn là lưu vực sông
Hồng – Thái Bình, lưu vực sông Đồng Nai và lưu vực sông Cửu Long.
Nhiều đề tài và dự án nghiên cứu về quản lý lưu vực sông đã được thực
hiện do các cơ quan trong nước và các tổ chức quốc tế như dự án của ADB
cho lưu vực sông Hồng, dự án Danida của chính phủ Đan Mạch cho lưu vực

Grig thì cho rằng “ QLTHTNN là một khuôn khổ được tạo nên cho việc
quy hoạch, tổ chức và kiểm sóat hệ thống nước nhằm làm cân bằng tất cả
những quan điểm và mục tiêu của những người bị ảnh hưởng”.
Mạng lưới cộng tác vì nước tòan cầu (GWP, 2000) với mục đích đưa ra
một khuôn khổ chung trong quản lý tài nguyên nước đã nêu lên định nghĩa “
QLTHTNN là một quá trình đẩy mạnh sự phối hợp phát triển và quản lý tài
nguyên nước, đất và các tài nguyên liên quan khác để tối ưu hóa lợi ích kinh tế
và phúc lợi xã hội một cách công bằng mà không tổn hại đến sự bền vững của
các hệ sinh thái thiết yếu”.
Định nghĩa trên đã nhấn mạnh QLTHTNN là một quá trình, và trong đó
khái niệm “quản lý” phải được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả “phát triển và
quản lý ” nhằm đạt tới 3 mục tiêu cơ bản về kinh tế, xã hội và môi trường.
1.2.2 Các khía cạnh của QLTHTNN
Trong QLTHTNN có một từ then chốt đó là từ “tổng hợp”, vậy khái
niệm tổng hợp ở đây là gì và cần hiểu như thế nào? Điều này chúng ta cũng
cần làm rõ và từ đó sẽ hiểu các nội dung của quản lý tổng hợp đối với tài
nguyên nước.
Theo (TAC, 2000) thì khái niệm tổng hợp trong cụm từ quản lý tổng
hợp tài nguyên nước phải xem xét trong hai hệ thống chủ yếu, đó là trong hệ
thống tự nhiên và hệ thống nhân văn. Hệ thống tự nhiên (netural system) với
đặc trưng chủ yếu là lượng và chất lượng của các tài nguyên tự nhiên như
nước, đất, không khí và các tài nguyên sinh học, là đầu vào quan trọng cho hệ
thống nhân văn (human system) khai thác và sử dụng.
Quản lý Tổng hợp trong hệ thống tự nhiên bao gồm:
(1). Quản lý tổng hợp nước và đất: Nước và đất là hai thành phần của
môi trường tự nhiên, chúng có mối liên quan và tác động với nhau trong quá
trình diễn ra của tự nhiên. Trong chu trình thủy văn, nước được vận chuyển
giữa các thành phần của khí quyển, đất, lớp phủ thực vật và các nguồn nước
mặt, nước ngầm. Các kiểu khác nhau của sử dụng đất và lớp phủ thực vật sẽ
có các ảnh hưởng khác nhau đến khả năng giữ nước trong đất và trên các tán

thường làm suy giảm chất lượng nước khu vực hạ lưu, việc thay đổi sử dụng
đất tại thượng lưu sẽ ảnh hưởng tới nước ngầm chảy vào sông và làm biến đổi
dòng chảy của sông trong các tháng kiệt ở hạ lưu. Vì thế các mâu thuẫn về lợi
ích trong sử dụng nướ giữa thượng lưu và hạ lưu thường là không thể tránh
khỏi và phải được xem xét và giải quyết dựa trên các nguyên tắc của quản lý
tổng hợp.
Quản lý tổng hợp trong hệ thống nhân văn bao gồm quản lý tất cả
các hoạt động quản lý và sử dụng tài nguyên nước của con người như là:
(1). Tổng hợp liên ngành trong quy hoạch và quản lý nguồn nước: xem
xét các điều kiện kinh tế xã hội và môi trường tác động lên tất cả các ngành
sử dụng nước trong quá trình xây dựng các phương án quy hoạch phát triển
TNN cũng như xác định các biện pháp quản lý nguồn nước đáp ứng yêu cầu
phát triển của con người.
(2). Tổng hợp các chính sách về nước vào trong chính sách phát triển
kinh tế xã hội quốc gia: Nước là đầu vào quan trọng của các hoạt động phát
triển kinh tế xã hội, vì thế chính sách nước phải được tổng hợp trong các
chính sách kinh tế của quốc gia cũng như trong chính sách của ngành ở cấp
quốc gia. Ngược lại, các chính sách kinh tế xã hội cũng phải xem xét mối liên
quan đến nước, chẳng hạn chính sách phát triển năng lượng hay lương thực
đều có ảnh hưởng rất lớn tới tài nguyên nước và ngược lại.
(3). Tổng hợp tất cả những thành phần liên quan trong quy hoạch và quá
trình ra quyết định: Sự tham gia của tất cả các thành phần có liên quan trong
quy hoạch và quản lý tài nguyên nước là một yếu tố chủ yếu để sử dụng cân
bằng và bền vững tài nguyên nước. Việc quản lý tổng hợp cả nước và nước
thải sẽ giúp cho duy trì chất lượng nước trong sông cũng như khiến cho các
dòng nước thải có thể là dòng bổ sung có ích đối với dòng sông và sử dụng
của con người. Trong cấp nước sinh hoạt và công nghiệp, nếu không phối hợp
quản lý cả nước thải thì dòng nước thải sẽ làm giảm lượng nứơc cấp hữu ích
do nó làm giảm chất lượng nước và tăng chi phí cấp nước tương lai.
(4). Tổng hợp các chính sách, luật pháp và thể chế trong phát triển tài

quản lý sử dụng nước.
Nguyên tắc 2: Phát triển và bảo vệ nguồn tài nguyên nước cần phải
dựa trên phương pháp tiếp cận có sự tham gia của tất cả các thành phần
bao gồm những người dùng nước, người lập quy hoạch và người xây dựng
chính sách ở tất cả các cấp.
Quản lý truyền thống không chú trọng tới sự tham gia của các thành
phần, nhất là của người dùng nước. Nguyên tắc 2 đưa ra một cách tiếp cận
mới về mặt quản lý có tính quyết định để nâng cao hiệu quả của việc sử dụng
nguồn nước, trong đó vai trò của người dùng nước cũng phải coi trọng như
của người lập quy hoạch cũng như xây dựng chính sách về nước.
Nguyên tắc này nhấn mạnh cần có sự tham gia thật sự của các thành
phần liên quan là một phần của quá trình ra quyết định. Có sự tham gia thể
hiện ở các khía cạnh như cộng đồng dân cư tập hợp nhau lại để chọn cách sử
dụng cũng như quản lý cung cấp nước, hoặc bầu một cách dân chủ các cơ
quan quản lý phân phối nước. Sự tham gia thật sự yêu cầu những người có
liên quan ở mọi cấp của xã hội đều phải có tác động trong việc ra quyết định
của tất cả các cấp của quá trình quản lý nước, không chỉ dừng ở việc hỏi ý
kiến đơn thuần.
Phương pháp tiếp cận có sự tham gia là cách duy nhất để đạt tới các sự
thỏa thuận chung có tính lâu dài trong quản lý và sử dụng nước. Để đạt được
điều đó các thành phần liên quan và các cán bộ của cơ quan quản lý nước cần
phải nhận thức được sự bền vững của nguồn nước là vấn đề chung nhất và tất
cả các bên cần phải biết hy sinh một số mong muốn nào đó cho kết quả chung
tốt đẹp. Tham gia nghĩa là nhận các trách nhiệm, là sự ghi nhận những ảnh
hưởng các hoạt động của mỗi ngành đến người dùng nước và hệ sinh thái
nước, là chấp nhận các sự thay đổi để nâng cao hiệu quả của sử dụng nước và
phát triển vền vững tài nguyên nước. Tham gia không có nghĩa là luôn luôn
thống nhất mà cũng có lúc nảy sinh mâu thuẫn và phải có cơ chế để giải quyết
các mâu thuẫn đó.
Thực hiện quản lý theo cách tiếp cận có sự tham gia thì chính quyền các

nhiên có thể sử dụng tự do hoàn toàn miễn phí. Điều này khiến cho nước
được sử dụng một cách tùy tiện và kém hiệu quả trong các thời gian của quá
khứ và người dùng không có ý thức bảo vệ năng lực tái tạo của tài nguyên
nước. Nguyên tắc 4 chỉ ra giá trị kinh tế của nước là nhận thức mới nhất của
nhân loại tìm ra trong mấy chục năm trở lại đây. Điều đó đã đặt ra những yêu
cầu đổi mới của con người trong cách thức quản lý, cách thức sử dụng nước
theo hướng thực sự tiết kiệm và phải làm sao phát huy được giá trị của nước
như bất cứ một loại hàng hóa nào khác. Trong QLTHTNN cần phải tính toán
đầy đủ giá trị của nước bao gồm giá trị kinh tế và giá trị nội tại của tài nguyên
nước, và phải tạo cơ chế cho người dùng nước có đủ khả năng sử dụng nước
và trả đủ các chi phí cho “ việc mua nước” cũng như làm trách nhiệm của họ
trong bảo vệ nguồn nước.
Bốn nguyên tắc của Hội nghị Dublin đã chỉ ra những thay đổi trong nhận
thức và cách quản lý sử dụng nước cần thiết để tháo gỡ những tồn tại hiện
nay. Từ những nguyên tắc này, khái niệm và một phương pháp mới quản lý
mới quản lý tài nguyên nước trên nguyên tắc tổng hợp đã hình thành, đáp ứng
yêu cầu thực tế.
1.2.4 Kinh nghiệm QL THTN nước mặt tại các LVS trên thế giới
Tổng hợp một số mô hình của cơ quan quản lý LVS trên thế giới (Sông
Hoàng Hà tại Trung Quốc, sông Muray-Darling tại Australia, sông Lerma-
chapala tại Mexico) có thể rút ra một số nhận xét:
Về hình thức
Có một số hình thức của cơ quan quản lý lưu vực sông hiện hành trên thế
giới, nhưng có thể quy thành ba hình thức phổ biến nhất đó là: (i) cơ quan
thủy vụ lưu vực sông; (ii) ủy hội lưu vực sông, và (iii) hội đồng lưu vực sông.
Mỗi loại có một mức độ tập trung quyền lực cũng như mức độ tham gia vào
quản lý nước khác nhau.
(i) Cơ quan thủy vụ lưu vực sông (River basin Authority):
Đây là hình thức cơ quan quản lý lưu vực sông có đầy đủ quyền hạn và
phạm vi quản lý lớn nhất. Thí dụ như là Cơ quan thủy vụ thung lũng

cơ quan liên quan thuộc ban ngành của các tỉnh, cán bộ chuyên môn giỏi của
tỉnh hoặc cơ quan trung ương và có sự hỗ trợ của một ban thư ký nhỏ. Nói
chung, hình thức này có vai trò trong giới hạn trong quy hoạch dài hạn, điều
phối các vấn đề chính sách và chiến lược cấp cao, không có vai trò vận hành
hoặc quản lý hàng ngày. Thí dụ về hình thức này như Hội đồng LVS Lerma –
Chapala được thành lập năm 1993 của Mexico,…
Về chức năng nhiệm vụ
Chức năng và nhiệm vụ của cơ quan quản lý LVS có thể nhiều hay ít tùy
theo mục tiêu của cơ quan quản lý LVS được đặt ra khi thành lập. Việc xác
định các chức năng và nhiệm vụ của cơ quan quản lý LVS phải tương xứng
với yêu cầu quản lý của LVS cần phải thực hiện.
Nói chung các cơ quan quản lý LVS đều có chức năng về lập quy hoạch

Trích đoạn Hoạt động làng nghề Hoạt động nông nghiệp Ảnh hưởng tới môi trường và hệ sinh thá Ảnh hưởng tới phát triển kinh tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status