Luận văn: Đánh giá Quản lý tài nguyên nước mặt trong hệ thống quản lý tổng hợp lưu vực sông - Pdf 12


Luận văn Đánh giá Quản lý tài nguyên
nước mặt trong hệ thống
quản lý tổng hợp lưu vực
sông MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT LVS 3
1.1 Quản lý lưu vực sông 3
1.1.1 Khái niệm quản lý LVS và các khía cạnh liên quan đến quản lý LVS . 3
1.1.1.1 Lưu vực sông 3
1.1.1.2 Chức năng của sông và lưu vực sông 4
1.1.1.3. Quản lý tổng hợp lưu vực sông 5
1.1.2 Quá trình phát triển của quản lý lưu vực sông 9
1.2 Quản lý tổng hợp tài nguyên nước 12
1.2.1 Khái niệm quản lý tổng hợp tài nguyên nước 12
1.2.2 Các khía cạnh của QLTHTNN 13
1.2.3 Các nguyên tắc của QLTHTNN 17
1.2.4 Kinh nghiệm QL THTN nước mặt tại các LVS trên thế giới 20

2.5. Công tác Quản lý chất lượng nước tại LVS Cầu 50
2.5.1 Thể chế, chính sách 50
2.5.2 Tổ chức quản lý 51
2.5.3 Hoạt động nghiên cứu, công tác quan trắc và ĐTM 55
2.5.4 Công cụ kinh tế 58
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT
LƯU VỰC SÔNG CẦU 61
3.1 Cơ sở đề xuất các giải pháp 61
3.2 Các giải pháp 63
3.2.1 Nhóm giải pháp kỹ thuật 63
3.2.2 Nhóm giải pháp kinh tế 64
3.2.3 Nhóm giải pháp cơ chế, chính sách quản lý 64
3.2.4 Giáo dục, tuyên truyền, nâng cao nhận thức của mọi người 66
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT LVS: Lưu vực sông
QLLVS: Quản lý lưu vực sông
QLTH LVS: Quản lý tổng hợp lưu vực sông
QLTH TNN: Quản lý tổng hợp tài nguyên nước
TNN: Tài nguyên nước
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
VQG: Vườn quốc gia
BTTN: Bảo tồn thiên nhiên
GDP: Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)
IWMI: International Water Management Institute

trên sông Cầu đoạn chảy qua tỉnh Bắc Kạn 31
Hình 2.3 Giá trị SS trên sông Cầu đoạn chảy qua tỉnh Bắc Kạn 31
Hình 2.4 Diễn biến dầu mỡ trên sông Cầu đoạn chảy qua Thái Nguyên 33
_Toc229058171Hình 2.5 Diễn biến COD trên sông Cầu đoạn chảy qua Thái
Nguyên 33
Hình 2.6 Diễn biến dầu mỡ tên sông Công đoạn chảy qua Thái Nguyên 34
Hình 2.7 Diễn biến BOD
5
tại đoạn sông Cầu qua Bắc Giang, Bắc Ninh
trong các năm 2004 và 2005 34
Hình 2.8 Diễn Biến COD tại sông Ngũ Huyện Khê qua các năm 2004
và 2005 35
Hình 2.9 Tỷ lệ các làng nghề thuộc tỉnh/ thành phố trong lưu vực sông Cầu 40
Hình 2.10 Tỷ lệ nước thải sinh hoạt ước tính theo số dân của các tỉnh trong
LVS Cầu 42
Hình 2.11 Tỷ lệ nước thải y tế ước tính theo số giường bệnh của các
tỉnh trong LVS Cầu 44
Hình 2.12 Tỷ lệ các loại hóa chất dùng trong nông nghiệp tại LVS Cầu 45
Hình 2.13 Tỷ lệ trẻ em mắc bệnh trên tổng số người mắc bệnh của
Thái Nguyên 471

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tài nguyên nước có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con người,
sinh vật và sự phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của mỗi một vùng lãnh thổ,
mỗi một quốc gia và sự phát triển của cả nhân loại. Tuy nhiên trong những
thập kỷ gần đây, cùng với tốc độ gia tăng dân số, hoạt động công nghiệp cũng

Quản lý tài nguyên nước mặt trong hệ thống quản lý tổng hợp LVS là
một khái niệm quản lý tài nguyên mới ở Việt Nam, đòi hỏi sự tổng hợp trong
quản lý và cần phải có sự khoa học trong triển khai thực hiện. Chính vì lý do
đó mà đề tài được đề ra với mục tiêu:
 Nghiên cứu cơ sở lý luận trong công tác quản lý tài nguyên nước, cụ
thể tại LVS ở Việt Nam hiện nay.
 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn hoạt động quản lý tài nguyên nước mặt tại
LVS ở Việt Nam nói chung và LVS Cầu nói riêng.
 Đề xuất một số biện pháp nhằm cải thiện những thực trạng trong công
tác quản lý tài nguyên nước mặt tại LVS Cầu.
3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là lưu vực sông Cầu. Lưu vực sông đi qua
6 tỉnh và thành phố là Bắc Kạn, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Ninh,
Hải Dương. Lưu vực sông Cầu là một trong những lưu vực sông lớn ở Việt
Nam, có vị trí địa lý đặc biệt, đa dạng và phong phú về tài nguyên cũng như
lịch sử phát triển kinh tế, xã hội của các tỉnh nằm trong lưu vực của nó. 3

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT LVS

1.1 Quản lý lưu vực sông
1.1.1 Khái niệm quản lý LVS và các khía cạnh liên quan đến quản lý LVS
1.1.1.1 Lưu vực sông
Nước trên bề mặt đất theo quy luật chung đều chảy từ nơi cao xuống nơi
thấp, lâu ngày các đường chảy tạo thành sông suối. Mỗi một dòng sông đều
có phần diện tích hứng và tập trung nước gọi là lưu vực sông.
Một LVS có thể xem như một vùng địa lý được giới hạn bởi đường chia

mùa lũ tại một số điểm nhất định. Tại hạ lưu gần biển các sông thường dễ bị
phân nhánh, lòng sông biến dạng uốn khúc theo hình sin và thường có sự biến
đổi về hình thái dưới tác động của các quá trình bồi, xói liên tục, như vùng hạ
lưu gần cửa của các sông Hồng và sông Cửu Long.
Lưu vực sông là một hệ thống mở và luôn tương tác với tầng khí quyển
bên trên thông qua hoạt động của hoàn lưu khí quyển và chu trình thuỷ văn,
nhờ đó hàng trăm lưu vực sông đều nhận được một lượng nước đến từ mưa để
sử dụng cho các nhu cầu của con người và duy trì hệ sinh thái.
1.1.1.2 Chức năng của sông và lưu vực sông
Sông, lưu vực hứng nước và hệ sinh thái thuỷ sinh có vai trò và vị trí vô
cùng quan trọng đối với con người, có thể ví như một cỗ xe sinh học của hành
tinh cung cấp nguồn sống và nuôi dưỡng sự sống của con người và các cộng
đồng sinh học trên lưu vực sông.
Đối với tự nhiên, sông có chức năng chủ yếu là chuyển tải nước và các
loại vật chất từ nguồn tới vùng cửa sông, thường là biển cả. Đối với con
người và hệ sinh thái, sông còn có các chức năng khác như là:
- Sông cung cấp nơi ở cho cá và các sinh vật của hệ sinh thái dưới nước, 5

nơi diễn ra các hoạt động sinh sống, nghỉ ngơi và giải trí của người dân sống
ven sông.
- Sông cung cấp nước cho các nhu cầu sử dụng của con người và cho
duy trì hệ sinh thái dưới nước và các hệ sinh thái ven sông.
- Sông có khả năng chuyển hoá các chất ô nhiễm thông qua sự tự làm
sạch của nước sông.
Lưu vực sông là nơi cư trú của con người và thế giới sinh vật, cung cấp
các tài nguyên đồng thời là nơi chứa đựng và đồng hoá các chất thải do quá
trình sống của con người và các sinh vật thải ra tạo dựng sự cân bằng của các

bằng sự bền vững của các hệ sinh thái then chốt”.
Theo J.Buston thì “Quản lý tổng hợp lưu vực sông bao hàm việc các nhà
hoạch định chính sách xem xét tất cả các khía cạnh về các nguồn tài nguyên
có trên lưu vực, nhu cầu sử dụng các nguồn tài nguyên đó theo cách tiếp cận
hệ sinh thái nhằm đảm bảo những sự lựa chọn phương án phát triển kinh tế
xã hội có hiệu quả lâu dài thông qua sự phát triển các mối quan hệ hài hòa
giữa các hộ sử dụng tài nguyên và giữa cộng đồng dân cư sống trên lưu vực”.
Tất cả các định nghĩa trên đều nhấn mạnh những khía cạnh nổi bật của
quản lý tổng hợp lưu vực sông và cho thấy quản lý tổng hợp lưu vực sông là
sự hợp tác trong quản lý và khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên có trên
tòan bộ lưu vực một cách hợp lý, hiệu quả và công bằng để đạt được lợi ích
kinh tế và xã hội mà không làm tổn hại sự bền vững của hệ sinh thái.
QLLVS bao trùm tất cả các hoạt động của con người cần phải sử dụng
nước và tác động tới hệ thống tài nguyên nước mặt. Nó là quản lý các hệ sinh
thái nước như là một phần của môi trường tự nhiên rộng lớn và trong mối
quan hệ với môi trường kinh tế xã hội của chúng.
Quản lý tổng hợp lưu vực sông khác với cách quản lý theo địa giới hành
chính thông thường ở chỗ:
- Phạm vi không gian của quản lý là bao quát trên toàn bộ lưu vực sông. 7

- Cách quản lý dựa trên nguyên tắc của quản lý tổng hợp các nguồn tài
nguyên và bảo vệ môi trường lưu vực nhằm đạt đến mục tiêu bền vững, trong
đó trọng tâm là quản lý tổng hợp tài nguyên nước trong mối liên quan tới tài
nguyên đất và các tài nguyên liên quan khác.
Vì thế, quản lý tổng hợp lưu vực sông cần phải:
+ Chú ý quản lý các dạng khác nhau của nước: nước mặt và nước ngầm.
+ Chú ý quản lý cả số lượng và chất lượng nước trên lưu vực sông.

sông làm đơn vị quản lý sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi và cơ sở tốt xem
xét các mối quan hệ trên và hướng tới quản lý tài nguyên nước lưu vực một
cách tổng hợp và bền vững.
Với một lưu vực sông bao gồm nhiều tỉnh thì quản lý thống nhất theo lưu
vực sông sẽ tạo cơ sở thuận lợi để giải quyết tốt công việc quản lý, nhất là khi
cần giải quyết các mối quan hệ hay các mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình sử
dụng hay quản lý tài nguyên giữa các vùng khác nhau trên lưu vực như là
giữa thượng lưu, trung lưu và khu vực hạ lưu của sông. Thông qua hoạt động
của một cơ quan quản lý lưu vực sông, tất cả các hoạt động quản lý bảo vệ tài
nguyên được xem xét và xử lý một cách thống nhất và nhanh chóng không
phải thông qua bất cứ một cơ chế phối hợp phức tạp nào mà cơ chế quản lý
theo địa giới hành chính thường gặp phải.
Quản lý theo lưu vực sông sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho việc cải
thiện việc lập kế hoạch, bảo tồn, phát triển và quản lý nước, đất, rừng và các
nguồn lực dưới nước trong phạm vi lưu vực sông, nhằm tối đa hóa lợi ích
kinh tế và phúc lợi xã hội một cách công bằng mà không làm tổn hại đến tính
bền vững của hệ thống môi trường trọng yếu của lưu vực sông.
Xem xét một cách chi tiết thì quản lý lưu vực sông cần đạt được những
yêu cầu chủ yếu sau đây:
+ Phối hợp các chính sách, chương trình và các hoạt động trong mối 9

quan hệ của quản lý tổng hợp lưu vực sông.
+ Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tổng hợp lưu vực.
+ Khuyến khích sử dụng bền vững các tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là
các tài nguyên nước trong mối quan hệ với đất và các tài nguyên tự nhiên khác.
+ Xác định và phục hồi những nguồn tài nguyên thiên nhiên bị suy giảm
và xuống cấp.

động tiêu cực của các hoạt động phát triển của con người để lại những hậu
quả xấu tới môi trường, như làm gia tăng tình trạng suy thoái tài nguyên và
môi trường các lưu vực sông, làm ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội của
đất nước.
Có thể nói rằng hầu hết các lưu vực sông trên thế giới đều trải qua một
thời gian dài được quản lý một cách riêng rẽ do nhiều ngành và nhiều người
sử dụng tài nguyên trong suốt quá trình phát triển của lưu vực sông. Đó là thực
tế của việc quản lý và sử dụng tài nguyên môi trường lưu vực sông trong nhiểu
thế kỷ trước đây, khi mà khái niệm quản lý tổng hợp chưa ra đời và được coi
trọng. Thực trạng này vẫn còn đang diễn ra trên nhiều sông trên thế giới cũng
như ở nước ta khi mà việc quản lý lưu vực sông chưa được quan tâm hay mới
chỉ bắt đầu tiếp cận nên chưa có được thể chế và chính sách phù hợp.
Do yêu cầu cấp thiết của vấn đề quản lý lưu vực đáp ứng yêu cầu của
phát triển kinh tế xã hội, nhất là phát triển công nghiệp ở các nước phát
triển trong thời đại công nghiệp hóa, vấn đề quản lý lưu vực sông đã được
đặt ra và được các nước quan tâm ngay từ đầu thế kỷ 19 với sự ra đời của
một số tổ chức lưu vực sông ở các nước công nghiệp như Mĩ, Anh,
Pháp…Trong thực tế vấn đề quản lý lưu vực sông thực sự được thế giới
quan tâm và thực hiện kể từ giai đoạn phát triển mạnh của kinh tế thế giới
sau chiến tranh thế giới thứ 2.
Hiện nay trên thế giới đã có hàng trăm tổ chức quản lý lưu vực sông 11
được thành lập và hoạt động nhất là trên các con sông quốc tế. Tình hình này
đặc biệt phát triển mạnh nhất là trong khoảng 30 năm trở lại đây.
Tại khu vực Đông Nam Á, Ủy ban quốc tế sông Mê Kông được thành
lập năm 1957 với 4 nước thành viên là Thái Lan, Việt Nam, Lào và
Campuchia.
Tại Trung Quốc, kế hoạch quản lý lưu vực sông đã được nhà nước thông

cho lưu vực sông Hồng, dự án Danida của chính phủ Đan Mạch cho lưu vực
sông Serepok và lưu vực sông Cả, dự án của Nhật quy hoạch quản lý lưu vực
cho 12 lưu vực sông lớn của nước ta,…Các đề tài và dự án này đã chuẩn bị
tiền đề tốt cho việc tìm một mô hình phù hợp cho thực hiện việc quản lý lưu
vực sông ở nước ta.
1.2 Quản lý tổng hợp tài nguyên nước
1.2.1 Khái niệm quản lý tổng hợp tài nguyên nước
Quản lý tài nguyên nước
Quản lý tài nguyên nước theo Savanie (1997) là “tập hợp hợp tất cả các
hoạt động thuộc về kỹ thuật, tổ chức, quản lý và vận hành cần thiết để quy
hoạch, xây dựng các công trình sử dụng nguồn nước cũng như thực hiện quản
lý nguồn nước của lưu vực sông”.
Như vậy, quản lý tài nguyên nước bao gồm tất cả các hoạt động từ quy
hoạch, thiết kế, xây dựng và vận hành khai thác các hệ thống nguồn nước và
là hoạt động gồm nhiều thành phần, nhiều mục tiêu và có nhiều ràng buộc.
Quản lý tổng hợp tài nguyên nước
QLTHTNN ra đời thay thế cho khái niệm quản lý nguồn nước truyền
thống. Khái niệm này đang tiếp tục được bổ sung và phát triển, hiện vẫn đang
còn những ý kiến tranh luận. Trong Chương 18 của Chương trình nghị sự 21
có nêu rõ: “Quản lý tổng hợp tài nguyên nước dựa trên nhận thức nước là một
bộ phận nội tại của hệ sinh thái, một nguồn tài nguyên thiên nhiên và một loại 13
hàng hóa kinh tế và xã hội, mà số lượng và chất lượng quyết định bản chất
của việc sử dụng. Vì mục đích này, tài nguyên nước cần phải được bảo vệ, có
tính đến chức năng của các hệ sinh thái nước và tính tồn tại mãi mãi của tài
nguyên, để có thể thỏa mãn và dung hòa các nhu cầu về nước cho các họat
động của con người”. Sau đây là một số định nghĩa cụ thể về QLTHTNN.
Michell (1990) đã đưa ra định nghĩa “ QLTHTNN là một quá trình giải

Quản lý Tổng hợp trong hệ thống tự nhiên bao gồm:
(1). Quản lý tổng hợp nước và đất: Nước và đất là hai thành phần của
môi trường tự nhiên, chúng có mối liên quan và tác động với nhau trong quá
trình diễn ra của tự nhiên. Trong chu trình thủy văn, nước được vận chuyển
giữa các thành phần của khí quyển, đất, lớp phủ thực vật và các nguồn nước
mặt, nước ngầm. Các kiểu khác nhau của sử dụng đất và lớp phủ thực vật sẽ
có các ảnh hưởng khác nhau đến khả năng giữ nước trong đất và trên các tán
lá cây và ảnh hưởng đáng kể tới sự biến đổi của số lượng và chất lượng nước
để sử dụng. Vì thế, việc quản lý sử dụng nước không thể tách rời với quản lý
sử dụng đất và các biện pháp canh tác trên đất nông nghiệp, nhất là quản lý
các lưu vực nhỏ để bảo vệ đất chống xói mòn.
(2). Quản lý tổng hợp các thành phần nước xanh lá cây và nước xanh da trời:
Có hai thành phần liên quan đến việc quản lý nước, đó là:
+ Nước liên quan đến sử dụng của hệ sinh thái như nước mưa và bốc
thoát hơi (còn gọi là nước xanh lá cây).
+ Nước sử dụng trực tiếp của con người như nước trong sông, hồ và
nước ngầm (còn gọi là nước xanh da trời).
Quản lý truyền thống thường chỉ quan tâm quản lý nước xanh da trời
trong các sông hồ, nhưng quản lý tổng hợp cần chú trọng thêm cả nước mưa
và nước trong tầng đất ẩm bởi vì thông qua các biện pháp canh tác có thể đem
lại tiềm năng đáng kể đối với tiết kiệm nước, nâng cao hiệu quả sử dụng nước 15
và bảo vệ các hệ sinh thái.
(3) Quản lý tổng hợp nước mặt và nước ngầm: Tài nguyên nước của lưu
vực bao gồm cả nước mặt và nước ngầm, giữa nước mặt và nước ngầm lại có
mối liên hệ thủy lực với nhau nên việc khai thác quá mức một thành phần nào
cũng ảnh hưởng đến thành phần kia. Vì thế để sử dụng hiệu quả và bền vững,
cần phải quản lý tổng hợp cả về số lượng và chất lượng của nước mặt và nước

quốc gia. Ngược lại, các chính sách kinh tế xã hội cũng phải xem xét mối liên
quan đến nước, chẳng hạn chính sách phát triển năng lượng hay lương thực
đều có ảnh hưởng rất lớn tới tài nguyên nước và ngược lại.
(3). Tổng hợp tất cả những thành phần liên quan trong quy hoạch và quá
trình ra quyết định: Sự tham gia của tất cả các thành phần có liên quan trong
quy hoạch và quản lý tài nguyên nước là một yếu tố chủ yếu để sử dụng cân
bằng và bền vững tài nguyên nước. Việc quản lý tổng hợp cả nước và nước
thải sẽ giúp cho duy trì chất lượng nước trong sông cũng như khiến cho các
dòng nước thải có thể là dòng bổ sung có ích đối với dòng sông và sử dụng
của con người. Trong cấp nước sinh hoạt và công nghiệp, nếu không phối hợp
quản lý cả nước thải thì dòng nước thải sẽ làm giảm lượng nứơc cấp hữu ích
do nó làm giảm chất lượng nước và tăng chi phí cấp nước tương lai.
(4). Tổng hợp các chính sách, luật pháp và thể chế trong phát triển tài
nguyên nước: Thực hiện QLTHTNN rất phức tạp đòi hỏi phải có những thay
đổi kể cả trong chính sách luật pháp nếu có những điểm không phù hợp. Thí
dụ như những chính sách làm tăng yêu cầu nước, chính sách ảnh hưởng tới
phân chia nguồn nước cho các mục tiêu sử dụng nước là những chính sách
thường phải cải tiến hay xây dựng mới cho phù hợp với QLTHTNN. Người
lập chính sách phải biết cân bằng giữa lợi ích trước mắt và cái giá lâu dài phải
trả của việc không mạnh dạn đổi mới các chính sách không phù hợp, từ đó có 17
quyết định đổi mới chính sách
1.2.3 Các nguyên tắc của QLTHTNN
Hiện nay, có thể coi 4 nguyên tắc được thảo luận và thống nhất trong hội
nghị về Nước và Môi trường năm 1992 tại Dublin (gọi tắt là nguyên tắc
Dublin là những nguyên tắc nền tảng của QLTHTNN). Những nguyên tắc này
đã phản ánh sự thay đổi những nhận thức về tài nguyên nước.
Nguyên tắc 1: Nước ngọt là tài nguyên hữu hạn, không tài nguyên

Nguyên tắc này nhấn mạnh cần có sự tham gia thật sự của các thành
phần liên quan là một phần của quá trình ra quyết định. Có sự tham gia thể
hiện ở các khía cạnh như cộng đồng dân cư tập hợp nhau lại để chọn cách sử
dụng cũng như quản lý cung cấp nước, hoặc bầu một cách dân chủ các cơ
quan quản lý phân phối nước. Sự tham gia thật sự yêu cầu những người có
liên quan ở mọi cấp của xã hội đều phải có tác động trong việc ra quyết định
của tất cả các cấp của quá trình quản lý nước, không chỉ dừng ở việc hỏi ý
kiến đơn thuần.
Phương pháp tiếp cận có sự tham gia là cách duy nhất để đạt tới các sự
thỏa thuận chung có tính lâu dài trong quản lý và sử dụng nước. Để đạt được
điều đó các thành phần liên quan và các cán bộ của cơ quan quản lý nước cần
phải nhận thức được sự bền vững của nguồn nước là vấn đề chung nhất và tất
cả các bên cần phải biết hy sinh một số mong muốn nào đó cho kết quả chung
tốt đẹp. Tham gia nghĩa là nhận các trách nhiệm, là sự ghi nhận những ảnh
hưởng các hoạt động của mỗi ngành đến người dùng nước và hệ sinh thái
nước, là chấp nhận các sự thay đổi để nâng cao hiệu quả của sử dụng nước và
phát triển vền vững tài nguyên nước. Tham gia không có nghĩa là luôn luôn
thống nhất mà cũng có lúc nảy sinh mâu thuẫn và phải có cơ chế để giải quyết
các mâu thuẫn đó.
Thực hiện quản lý theo cách tiếp cận có sự tham gia thì chính quyền các 19
cấp từ trung ương tới địa phương cần phải tạo các cơ chế thuận lợi cho sự
tham gia của các bên, đặc biệt là của cộng đồng dân cư những người trực tiếp
được hưởng lợi hay bị thiệt hại. Thí dụ như xây dựng các cơ chế cho tư vấn
của các thành phần liên quan tham gia trên mọi quy mô, như là quốc gia, lưu
vực, tiểu lưu vực hoặc cộng đồng. Các cấp chính quyền cũng cần hỗ trợ để
nâng cao năng lực tham gia của cộng đồng, nhất là của phụ nữ và những
tầng lớp dân cư có trình độ thấp trong xã hội. Sự tham gia còn là một

nhân loại tìm ra trong mấy chục năm trở lại đây. Điều đó đã đặt ra những yêu
cầu đổi mới của con người trong cách thức quản lý, cách thức sử dụng nước
theo hướng thực sự tiết kiệm và phải làm sao phát huy được giá trị của nước
như bất cứ một loại hàng hóa nào khác. Trong QLTHTNN cần phải tính toán
đầy đủ giá trị của nước bao gồm giá trị kinh tế và giá trị nội tại của tài nguyên
nước, và phải tạo cơ chế cho người dùng nước có đủ khả năng sử dụng nước
và trả đủ các chi phí cho “ việc mua nước” cũng như làm trách nhiệm của họ
trong bảo vệ nguồn nước.
Bốn nguyên tắc của Hội nghị Dublin đã chỉ ra những thay đổi trong nhận
thức và cách quản lý sử dụng nước cần thiết để tháo gỡ những tồn tại hiện
nay. Từ những nguyên tắc này, khái niệm và một phương pháp mới quản lý
mới quản lý tài nguyên nước trên nguyên tắc tổng hợp đã hình thành, đáp ứng
yêu cầu thực tế.
1.2.4 Kinh nghiệm QL THTN nước mặt tại các LVS trên thế giới
Tổng hợp một số mô hình của cơ quan quản lý LVS trên thế giới (Sông
Hoàng Hà tại Trung Quốc, sông Muray-Darling tại Australia, sông Lerma-
chapala tại Mexico) có thể rút ra một số nhận xét:
Về hình thức
Có một số hình thức của cơ quan quản lý lưu vực sông hiện hành trên thế
giới, nhưng có thể quy thành ba hình thức phổ biến nhất đó là: (i) cơ quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status