Giáo trình Quản lý tổng hợp lưu vực sông - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
Nguyễn Văn Thắng, Phạm Thị Ngọc Lan

Giáo trình
QUẢN LÝ TỔNG HỢP LƯU VỰC SÔNG Hà Nội, 2010

LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay vấn đề quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên nước và môi
trường các lưu vực sông là yêu cầu rất cấp thiết đang được sự quan tâm rất lớn trên thế
giới và cả ở nước ta . Để thực hiện chúng ta phải từng bước chuyển đổi từ quản lý TNN
truyền thống sang quản lý TNN theo phương thức tổng hợp và việc quản lý TNN phải
theo lưu vực sông.
Quản lý tổng hợp lưu vực sông là một môn học mới được xây dựng để giảng dạy
cho sinh viên một số chuyên ngành của Trường Đại học Thuỷ lợi trong khuôn khổ dự án

QLTH Quản lý tổng hợp
QHTL Quy hoạch Thuỷ Lợi
QLLV S Quản lý lưu vực sông
QLTH-TNN Quản lý tổng hợp tài nguyên nước
QLKTCTTL Quản lý khai thác công trình thuỷ lợi
TNN Tài nguyên nước
TCLVS Tổ chức lưu vực sông
UBND Uỷ ban nhân dân
VBMT Ven biển Miền Trung VIẾT TẮT TÊN CÁC TỔ CHỨC CƠ QUAN
ADB Ngân hàng Châu á
CSD Hội đồng Liên Hiệp quốc về phát triển bền vững
ĐHTL Đại học Thuỷ Lợi
ESCAP Tổ chức Kinh tế văn hoá khu vực Thái Bình dương
FAO Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực thế giới
GIS Hệ thông tin địa lý
GWB Cộng tác vì nước toàn cầu
IWWI Viện quản lý tài nguyên nước quốc tế
IUCN Hiệp hội thế giới bảo vệ tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
KHCN&MT Khoa học Công nghệ và Môi trường
KH&ĐT Kế hoạch và Đầu tư
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
LHQ Liên Hợp quốc
TNMT Tài nguyên môi trường
UNDP Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc
UNEP Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc
YRCC Uỷ ban bảo vệ sông Hoàng Hà
WB Ngân hàng thế giới

Hình 1-1 Các lưu vực sông chính của Việt nam
Hình 1.2 Các thành phần và mối liên hệ của QLTH tài nguyên nước
Hình 1-3 Khái niệm tổng hợp xuyên ngành của QLTH tài nguyên nước
Hình 1-4 Khuôn khổ chung của QLTH-TNN
Hình 1-5 Tiếp cận các khía cạnh kinh tế, xã hội và sinh thái trong phát triển
b
ềnvững
Hình 2-1 Các ngưỡng nguồn nước của lưu vực sông và phạm vi có thể khai
thác s
ử dụng
Hình 2-2 Sơ đồ quá trình thực hiện chính sách quản lý lũ lụt
Hình 2.3 Tổng hợp các loại thiệt hại do lũ lụt
Hình 2.4 Các nguyên tắc cho việc xác định giá trị của nước
Hình 2-5 Nguyên tắc chung để tính giá nước cung cấp
Hình 3-1 Các thành phần của quản lý tổng hợp lưu vực sông
Hình 3-2 Sơ đồ phân tích lập quy hoạch quản lý tổng hợp Tài nguyên nước
lưuv
ực sông
Hình 4-1 Sơ đồ khối mô hình quản lý TNN của lưu vực sông
Hình 4-2 Cách nhìn hệ thống trong mô hình lưu vực sông
Hình 6-1 Mối liên hệ giữa các thành phần thể chế quản lý TNN lưu vực
sông
Hình 6-2 Môi trường thể chế quản lý tài nguyên nước lưu vực sông
Hình 6-3 Sơ đồ lồng ghép về thể chế thực thi quản lý TNN
Hình 6-4 Sơ đồ phân tích phát triển thể chế quản lý tài nguyên nước
Hình 6-5 Sơ đồ tổ chức các cơ quan liên quan đến quản lý tài nguyên nước

Chương 1 CÁC KHÁI NIỆM VÀ ĐỊNH NGHĨA VỀ QUẢN LÝ LƯU VỰC
SÔNG
1.1. KHÁI NIỆM QUẢN LÝ LƯU VỰC SÔNG VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

sông thường dễ bị phân nhánh, lòng sông biến dạng uốn khúc theo hình sin và thường
có sự biến đổi về hình thái dưới tác động của các quá trình bồi xói liên tục, như vùng hạ
lưu gần cửa của các sông Hồng và sông Cửu Long.

Lưu vực sông là một hệ thống mở và luôn tương tác với tầng khí quyển bên trên
thông qua hoạt động của hoàn lưu khí quyển và chu trình thủy văn, nhờ đó hàng năm
lưu vực sông đều nhận được một lượng nước đến từ mưa để sử dụng cho các nhu cầu
của con người và duy trì hệ sinh thái.
1.1.2. Chức năng của sông và lưu vực sông
Sông, lưu vực hứng nước và hệ sinh thái thủy sinh có vai trò và vị trí vô cùng
quan trọng đối với con người, có thể ví như một cỗ xe sinh học của hành tinh cung cấp
nguồn sống và nuôi dưỡng sự sống của con người và các cộng đồng sinh học trên lưu
vực sông [WDC, 2002].
Đối với tự nhiên, sông có chức năng chủ yếu là chuyển tải nước và các loại vật
chất từ nguồn tới vùng cửa sông, thường là biển cả. Đối với con người và hệ sinh thái,
sông còn có các chức năng khác như là:
- Sông cung cấp nơi ở cho cá và các sinh vật của hệ sinh thái nước, nơi diễn ra
các hoạt động sinh sống, nghỉ ngơi và giải trí của người dân sống ven sông.
- Sông cung cấp nước cho các nhu cầu sử dụng của con người và cho duy trì hệ
sinh thái nước và các hệ sinh thái ven sông.
- Sông có khả năng chuyển hóa các chất ô nhiễm thông qua sự tự làm sạch của
nước sông.
Lưu vực sông là nơi cư trú của con người và thế giới sinh vật, cung cấp các tài
nguyên đồng thời là nơi chứa đựng và đồng hóa các chất thải do quá trình sống của con
người và các sinh vật thải ra tạo dựng sự cân bằng của các quá trình sinh thái.
1.1.3. Tài nguyên của lưu vực sông
Trên lưu vực sông đều có các nguồn tài nguyên tự nhiên bao gồm tài nguyên
nước, đất và các tài nguyên sinh thái (như rừng và các hệ động thực vật trên cạn và
dưới nước). Trong lưu vực sông cũng chứa đựng các nguồn khoáng sản, các nguồn
năng lượng rất cần thiết cho cuộc sống và phát triển kinh tế xã hội của con người. Tất

vật thủy sinh rất phong phú và đa dạng ước tính có khoảng 1.300 loài cá phân bố ở
khắp các môi trường sống đa dạng ở trên lưu vực sông [Jensen, 2000]. Các dạng nơi cư
trú cho các loài cá khác nhau đó là:


Khu vực cửa sông ở châu thổ sông Mê Kông là nơi sinh sống của nhiều
loài cá sông và cá nước lợ theo mùa di cư ngược dòng để đẻ trứng ở môi trường nước lợ
hay nước ngọt;


Vùng thượng lưu của sông Mê Kông là nơi có rất nhiều loài nước ngọt (ví
dụ Cyprinidae, Siluridae, Claridae);


Các nhánh sông Mê Kông nằm sâu trong lục địa ở vùng Đông Bắc Thái
Lan, Lào và vùng đất ngập nước ở Campuchia, đóng vai trò là môi trường sống để các
loài động vật sinh sản và nuôi dưỡng cá con, trong đó có các loài có giá trị cả về mặt
kinh tế và sinh thái.

Người ta tìm thấy loài tôm lớn nước ngọt (Macrobrachium rosenvergii) ở sông
Mê Kông di cư từ nước ngọt đến vùng nước mặn và từ vùng cửa sông để đẻ trứng. Các
loài khác cũng đẻ trứng ở vùng cửa sông Mê Kông trong khoảng thời gian từ tháng III
đến tháng VIII. Thu hoạch tôm là hoạt động kinh tế ngày càng quan trọng ở lưu vực
sông Mê Kông, đặc biệt đối với thị trường xuất khẩu.
Vùng Đồng Tháp Mười ở hạ lưu sông Mê Kông có diện tích xấp xỉ 700.000 ha
thuộc Việt Nam và 300.000 ha thuộc Campuchia. Khu vực này có địa hình chủ yếu là
những vùng đất thấp bằng phẳng ngập lũ theo mùa với một diện tích lớn bị ngập từ

giữa vùng thượng lưu và hạ lưu. Các mối quan hệ này đã khiến cho lưu vực sông từ một
vùng địa lý đã trở thành một hệ thống luôn kết dính với nhau [Bryan Bruns, D.J, 2001].
Lưu vực sông là một hệ thống mở và luôn tương tác với tầng khí quyển bên trên
thông qua hoạt động của hoàn lưu khí quyển và chu trình thủy văn để nhận được một
lượng nước đến hàng năm sử dụng cho các nhu cầu của con người và cho hệ sinh thái.
Lưu vực sông là một hệ thống vô cùng quan trọng của tự nhiên với các chức năng cũng
rất quan trọng đối với con người, thí dụ như cung cấp không gian sống cho con người
và các sinh vật, cung cấp các tài nguyên tự nhiên cho con người, đặc biệt là nước cho
sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, thủy sản, nghỉ ngơi giải trí,
Trong lưu vực sông, nước là một yếu tố môi trường thiết yếu, luôn liên quan tới
đất và các yếu tố môi trường tự nhiên khác. Sự phát triển kinh tế, xã hội và cuộc sống
của muôn loài trên lưu vực sông không thể bền vững nếu không được cung cấp đúng và
đủ nước theo thời gian và không gian, đảm bảo cả số lượng và chất lượng. Nước cũng
là một tài nguyên có khả năng tạo nên ”hình dáng” cho môi trường của con người đang
sống thông qua năng lực xói mòn đất trên các sườn núi dốc, sự vận chuyển bùn cát và
tạo nên đồng bằng ở vùng hạ lưu, gây nên lũ lụt và hạn hán. Nó mang lại cho con người
và các sinh vật cả niềm vui lẫn sự lo âu.
Theo ranh giới “thủy văn” của lưu vực sông thì trên một lưu vực sông, nhất là
lưu vực sông lớn xuyên quốc gia, có thể tồn tại nhiều ngôn ngữ, tộc người, các hình thái
kinh tế, chính trị xã hội khác nhau. Trong một quốc gia thì một lưu vực sông có thể
gồm ranh giới hành chính của nhiều tỉnh có trình độ phát triển khác nhau, trên đó tồn tại
các điều kiện tự nhiên, các dạng tài nguyên, các hệ sinh thái, các điều kiện kinh tế xã
hội không giống nhau.
Quản lý lưu vực sông (QLLVS) là quản lý tất cả những gì đã nêu ở trên, nó rộng
hơn nhiều quản lý nước truyền thống và bao gồm cả những phần vô cùng quan trọng
của quy hoạch sử dụng đất, các chính sách nông nghiệp và kiểm soát xói mòn, quản lý
môi trường và nhiều chính sách khác nữa [Van Beek E., 2000].
QLLVS bao trùm tất cả các hoạt động của con người cần phải sử dụng nước và
tác động tới hệ thống tài nguyên nước mặt. Nó là quản lý các hệ sinh thái nước như là
một phần của môi trường tự nhiên rộng lớn và trong mối quan hệ với môi trường kinh

giảm chất lượng nước do gia tăng tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hoá. Một số lưu vực
sông đã và đang bị suy thoái trầm trọng và ngày càng xa với các điều kiện bền vững
khiến cho năng lực của dòng sông ngày càng giảm sút, gia tăng các mâu thuẫn trong sử
dụng nước giữa các ngành dùng nước khác nhau cũng như giữa thượng lưu và hạ lưu.
Có thể thấy rõ một thực tế là các lưu vực sông ngày nay đáp ứng ngày càng khó
khăn hơn các nhu cầu xã hội khác nhau, bao gồm nhu cầu cơ bản của con người như
nước dùng cho sinh hoạt, nước cho các hoạt động sản xuất,… và cũng vì thế ngày nay
càng cần phải tăng cường hoạt động quản lý lưu vực sông. Sử dụng lưu vực như là đơn
vị không gian phân tích tổng hợp và xác định quan hệ qua lại giữa các thành phần của
hệ thống thủy văn, từ đó xác định các chính sách quản lý nước một cách phù hợp là một
khuynh hướng ngày nay đã được thế giới thừa nhận và ngày càng trở nên rất thông
dụng trên thế giới. Điều đó lý giải tại sao ngày nay quản lý lưu vực sông được coi là
một mục tiêu và sự quan tâm đặc biệt của hầu hết các nước trên thế giới trong một hai
thập kỷ gần đây.
Việc tiếp cận quản lý tài nguyên nước theo lưu vực sông để xây dựng các chính
sách, chiến lược quản lý và bảo vệ tài nguyên nước đã khiến cho tài nguyên nước được
xem xét một cách hệ thống, tránh được thói quen sử dụng nước một cách riêng rẽ và chỉ
dựa chủ yếu vào nguồn nước mặt đã có lâu đời ở nước ta. Cách tiếp cận này cũng
khuyến khích áp dụng phương pháp tự quản lý các nguồn tài nguyên khiến cho những
người sử dụng nước hiểu biết tốt hơn về các vấn đề thủy văn có liên quan [IWMI,
2000].
Định nghĩa
Hiện nay có nhiều định nghĩa về quản lý tổng hợp lưu vực sông của các cơ quan
nghiên cứu, tổ chức quốc tế, như là một số định nghĩa sau đây:
Tổ chức Cộng tác vì nước toàn cầu (GWP) thì cho rằng: “Quản lý tổng hợp lưu
vực sông là một quá trình mà trong đó con người phát triển và quản lý tài nguyên nước,
đất và các tài nguyên khác nhằm đạt được hiệu quả tối ưu của các thành quả kinh tế xã
hội một cách công bằng mà không đánh đổi bằng sự bền vững của các hệ sinh thái then
chốt”.
Theo J. Buston thì “Quản lý tổng hợp lưu vực sông bao hàm việc các nhà hoạch

hệ sinh thái lưu vực, quản lý các hoạt động của con người trên lưu vực có ảnh hưởng
đến các tài nguyên như là việc định cư dân số, phát triển đô thị, công nghiệp, nông
nghiệp…
Nước là một tài nguyên có thể tái tạo, sự hình thành và quy luật biến đổi của
nước phụ thuộc chặt chẽ vào chu trình thủy văn trên lưu vực sông. Việc khai thác và sử
dụng nước giữa các vùng khác nhau trên lưu vực đều tác động đến nhau. Thí dụ như lấy
quá mức nguồn nước ở thượng lưu sẽ ảnh hưởng rõ rệt làm suy giảm dòng chảy tại hạ
lưu. Vì thế, lấy toàn bộ lưu vực sông làm đơn vị quản lý sẽ tạo ra những điều kiện thuận
lợi và cơ sở tốt xem xét các mối quan hệ trên và hướng tới quản lý tài nguyên nước lưu
vực một cách tổng hợp và bền vững.
Với một lưu vực sông bao gồm nhiều tỉnh thì quản lý thống nhất theo lưu vực
sông sẽ tạo cơ sở thuận lợi để giải quyết tốt công việc quản lý, nhất là khi cần giải quyết
các mối quan hệ hay các mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình sử dụng hay quản lý tài
nguyên giữa các vùng khác nhau trên lưu vực như là giữa thượng lưu, trung lưu và khu
vực hạ lưu của sông. Thông qua hoạt động của một cơ quan quản lý lưu vực sông, tất cả
các hoạt động quản lý bảo vệ tài nguyên được xem xét và xử lý một cách thống nhất và
nhanh chóng không phải thông qua bất cứ một cơ chế phối hợp phức tạp nào mà cơ chế
quản lý theo địa giới hành chính thường phải gặp.
Quản lý theo lưu vực sông sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho việc cải thiện việc
lập kế hoạch, bảo tồn, phát triển và quản lý nước, đất, rừng và các nguồn lực dưới nước
trong phạm vi lưu vực sông, nhằm tối đa hóa lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội một cách
công bằng mà không làm tổn hại đến tính bền vững của hệ thống môi trường trọng yếu
của lưu vực sông.
Xem xét một cách chi tiết thì quản lý lưu vực sông cần đạt được những yêu cầu
chủ yếu sau đây:


Phối hợp các chính sách, chương trình và các hoạt động trong mối quan
hệ của quản lý tổng hợp lưu vực sông.


việc tổ chức thể chế cần có một cách nhìn chiến lược theo hướng tổng hợp, toàn diện và
lâu dài thì mới có thể giải quyết nổi.
1.2. VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ LƯU VỰC SÔNG TRONG BỐ́I CẢNH PHÁT TRIỂN CỦA
QUỐC GIA
Mỗi quốc gia tùy theo diện tích và điều kiện tự nhiên thường có một hoặc vài hệ
thống sông lớn, các lưu vực sông này với nguồn tài nguyên nước, đất và các nguồn tài
nguyên sinh thái luôn là cơ sở quan trọng để phát triển kinh tế của các vùng và nền kinh
tế chung của đất nước.
Ở nước ta, ngoài hai lưu vực sông quốc tế là lưu vực sông Hồng - Thái Bình và
lưu vực sông Mê Kông, còn có nhiều lưu vực sông lớn khác nằm trong một tỉnh hay
nhiều tỉnh như các lưu vực sông Cả, sông Mã, sông Quảng Trị, sông Hương, sông Thu
Bồn, Trà Khúc, sông Cái - Nha Trang, sông Kôn - Hà Thanh, sông Ba, sông Cái - Phan
Rang và sông Đồng Nai (xem hình 1-1 là bản đồ các lưu vực sông chính của Việt
Nam).
Trên các lưu vực sông, tài nguyên nước là đầu vào quan trọng tạo nên các của
cải vật chất khác nuôi dưỡng toàn bộ cư dân sống trên lưu vực sông và duy trì chức
năng của các hệ sinh thái. Tài nguyên đất và nước là cơ sở cho các hoạt động phát triển
nông nghiệp, lâm nghiệp. Các nguồn khoáng sản, năng lượng được khai thác và sử
dụng phục vụ công nghiệp. Ngoài ra tài nguyên của lưu vực sông còn là cơ sở để phát
triển thủy sản, du lịch và các ngành dịch vụ,
Nói chung với các sông quốc tế, việc phát triển kinh tế của các nước ven sông
luôn phụ thuộc rất lớn vào nguồn tài nguyên thiên nhiên của lưu vực sông, các hoạt
động đó lại tác động trở lại đến tài nguyên và môi trường của lưu vực sông. Mặt tiêu
cực của tăng trưởng kinh tế hiện nay trên các lưu vực sông là đã làm tăng tốc độ khai
thác và sử dụng tài nguyên của lưu vực sông, dẫn đến tăng sức ép đối với những hệ sinh
thái tự nhiên nhạy cảm và chất lượng môi trường sống của con người.
Các thách thức trong quản lý đối với nhà nước là phải đảm bảo lợi ích của tăng
trưởng kinh tế được phân bổ đều cho tất cả các vùng (nghĩa là xóa bỏ đói nghèo ở các
khu vực nông thôn) và đảm bảo được việc sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên
thiên nhiên trong khi hạn chế tối đa mức suy thoái môi trường.

động đến môi trường và quản lý thảm phủ rừng càng khó khăn.
Các hoạt động khai thác gỗ thương mại hiện cũng đe dọa nghiêm trọng tới hệ
sinh thái rừng của lưu vực sông. Bất chấp các lệnh cấm và tạm ngừng khai thác gỗ được
ban hành của nhà nước, nhiều hoạt động khai thác gỗ phi pháp vẫn không kiểm soát
được càng đe dọa thảm phủ rừng ngay cả ở khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn.

Bản đồ lưu vực sông

Hình 1-1. Các lưu vực sông có diện tích lớn hơn 2500 km
2
của nước ta
Hiện nay, nhà nước rất chú trọng phát triển chương trình trồng rừng nhưng một
số vùng trên các lưu vực sông diện tích rừng vẫn bị giảm do các hoạt động khai thác gỗ.
Rừng trồng thường bao gồm các loài cây tăng trưởng nhanh để cung cấp gỗ xây dựng,
nguyên liệu thô cho sản xuất bột gỗ và bột giấy, cung cấp gỗ nhiên liệu và phủ xanh
những vùng đất trọc. Cho dù với những nỗ lực lớn trồng cây gây rừng nhưng cũng phải
thừa nhận rằng các cánh rừng được trồng rất nghèo về đa dạng sinh học so với các cánh
rừng nguyên sinh. Thêm vào đó, nếu không nỗ lực tạo ra các vùng đệm xung quanh các
con suối và sông ngay khi các hoạt động khai thác bắt đầu xảy ra thì việc trồng rừng
không thể giải quyết được các ảnh hưởng tiêu cực lên nguồn nước ngọt trên bề mặt và
các nguồn tài nguyên trên cạn. Rừng trồng đơn loài thường không phải là một môi

Nuôi trồng bán thâm canh hoặc thâm canh với mục đích thương mại tại
một số khu vực nuôi tôm cá tập trung ở khu vực của sông ven biển.

Hiện nay nhiều hoạt động của con người gây ảnh hưởng lớn tới số lượng cá của
các quần thể cá tự nhiên, như việc đánh bắt một cách rộng rãi hai loài cá da trơn
(catfish) ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng trung và hạ lưu các sông ven biển
miền Trung, trong đó phải kể đến hình thức đánh bắt cá có tính hủy diệt bằng xung điện
đang phổ biến và khó ngăn chặn trong thập kỷ gần đây. Điều này đã làm cho nguồn cá
của nhiều lưu vực sông đang bị suy kiệt và tổn thất nặng nề. Khi việc đánh bắt các loài
thủy sản trong các thủy vực sông hồ đã bị suy giảm thì việc mở rộng hoạt động nuôi
trồng thủy sản là tất yếu như tình hình thực tế ở nước ta trong những năm gần đây. Mặc
dù việc nuôi trồng thủy sản có thể bù đắp phần suy giảm sản lượng đánh bắt nhưng
cũng có một số vấn đề liên quan đến nuôi trồng thủy sản cũng cần phải xem xét và điều
chỉnh, thí dụ như là:


Mô hình nuôi trồng thủy sản quy mô nhỏ truyền thống trong những năm
gần đây cũng đã phát sinh các vấn đề về vệ sinh và Sức khỏe, làm tăng ô nhiễm nước.
Thí dụ thói quen sử dụng các chất thải của con người làm thức ăn cho cá tại một số nơi
của người dân đã làm lan truyền các bệnh trong môi trường nước.


Việc phát triển nuôi trồng thủy sản nếu không được quy hoạch đầy đủ sẽ
gây ảnh hưởng xấu tới môi trường và sẽ không bền vững, không thể tránh khỏi đến việc
phá hủy hệ thực vật trên cạn. Thí dụ, phát triển quá mức nuôi tôm ở một số vùng cửa
sông ven biển của nước ta trong những năm gần đây cũng đã làm phá hủy môi trường
sống tại các vùng ngập mặn và giảm chất lượng nguồn nước vùng ven biển. Thí dụ
khác cũng có hậu quả tượng tự là việc phát triển quá mức nuôi tôm trên cát đang làm ô
nhiễm, suy thoái và nhiễm mặn nguồn nước ngầm nhiều khu vực cồn cát ven biển.


axit ảnh hưởng đến chất lượng nước uống và nước cung cấp cho tưới tiêu và
thủy sản).


Làm tăng ô nhiễm không khí, như có thể góp phần tăng mưa axit.


Có các tác động thứ cấp khác như tác động tới giao thông, và nguồn năng
lượng thủy điện phục vụ công nghiệp luyện quặng.

Ngoài các tác động kể trên, việc sử dụng tài nguyên nước trên lưu vực sông có
vai trò đặc biệt to lớn đối với phát triển kinh tế của các tỉnh trên lưu vực và đóng góp
cho phát triển kinh tế chung của đất nước.
Một lưu vực sông có tiềm năng nguồn nước lớn là tiền đề rất thuận lợi cho phát
triển kinh tế của khu vực hơn rất nhiều so với lưu vực sông có tiềm năng nguồn nước
hạn chế hoặc đang bị đe dọa của sự thiếu nước.
Trong bối cảnh nước ta hiện vẫn là một nước nông nghiệp nên tài nguyên nước
của lưu vực sông ở nước ta hiện nay được sử dụng chủ yếu cho tưới. Tuy nhiên các nhu
cầu dùng nước khác như cho sinh hoạt, công nghiệp, du lịch, dịch vụ, sẽ tăng lên theo
thời gian trong khi nước ta cố gắng trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020. Cho
mục tiêu phát triển này, nước vẫn là một tài nguyên thiết yếu và điều kiện không thể
thiếu, cần phải quản lý và bảo vệ một cách bền vững.
Ngoài sử dụng nước cho các nhu cầu trên, nước của sông còn có vai trò tạo
nguồn điện năng cho đất nước thông qua năng lực thủy điện của sông. Thí dụ trong các
sông của nước ta, nhiều lưu vực sông có tiềm năng thủy điện rất lớn và đang trong quá
trình khai thác như sông Đà, sông Lô ở khu vực phía Bắc, sông Đồng Nai, sông Ba ở
vùng ven biển miền Trung, sông Sê San, Serepok ở Tây Nguyên Động lực chủ yếu của phát triển thủy điện ở các lưu vực sông hiện nay là do nhu


Thủy sản là đối tượng bị tác động nặng nề nhất do sự phát triển của thủy điện.
Các tác động tiềm ẩn tới thủy sản là do các nguyên nhân:


Sự biến đổi khác thường của mực nước sông ở hạ lưu không phù hợp với
đời sống của cá;


Các nguồn dinh dưỡng bị giữ lại trong hồ nên thủy sản ở hạ lưu bị ảnh
hưởng;


Nơi cư trú và môi trường sinh sản của cá bị tác động xấu do nhiều vùng
đất ngập nước ven sông không còn được duy trì như trước do chế độ lũ của sông bị biến
đổi;


Sự di chuyển của cá lên thượng nguồn đẻ trứng bị ngăn cản do đập ngăn
nước ngang sông.

Từ các phân tích trên có thể thấy các lưu vực sông và tài nguyên của lưu vực và
trong sông luôn có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế của quốc gia. Việc khai
thác và sử dụng tài nguyên tự nhiên của sông là rất cần thiết nhưng cũng phải đúng
cách, không phá vỡ hoặc mất đi tình trạng tự nhiên, đồng thời cũng phải luôn xem xét
đánh giá tác động tiêu cực tới môi trường. Tài nguyên của lưu vực sông cần phải quản
lý sử dụng một cách tổng hợp theo chương trình hay kế hoạch quản lý lưu vực sông.
Cũng vì lẽ đó, vấn đề quản lý bảo vệ lưu vực cũng là một phần quan trọng trong chiến
lược phát triển kinh tế của đất nước, luôn được nhà nước rất quan tâm.
1.3. QÚA TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA QLLVS

hiện tại các lưu vực sông lớn như lưu vực sông Trường Giang, Hoàng Hà, đều đã
thành lập các ban quản lý lưu vực các sông và hoạt động có hiệu quả.
Tại Inđônêxia (Indonesia), Nhà nước cũng đưa ra chính sách mới về quản lý
nước và quản lý lưu vực sông, trong đó quản lý nước được lấy trung tâm ở cấp lưu vực
và tập trung trách nhiệm quản lý nước thông qua sự tham gia và hợp tác hiệu quả của
các đối tượng hưởng lợi trên lưu vực. Một số ban quản lý lưu vực sông tại Indonesia đã
được thành lập. Các nước khác trong khu vực cũng đều bắt đầu tiếp cận thực hiện quản
lý lưu vực sông trong một hai thập kỷ qua.
Việc áp dụng cách tiếp cận quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông
để soạn ra các chính sách và chiến lược phát triển, quản lý và bảo vệ tài nguyên nước
đã giúp cho tài nguyên nước ngày nay được xem xét trên cơ sở hệ thống. Cách tiếp cận
này cho phép những người sử dụng nước hiểu biết tốt hơn về các vấn đề thủy văn có
liên quan [IWMI, 2000].

Ở Việt Nam, ngay từ những năm 1960 quản lý lưu vực sông đã được Nhà nước
quan tâm với việc thành lập ủy ban trị thủy sông Hồng, một tổ chức có trách nhiệm quy
hoạch và quản lý tài nguyên nước cấp lưu vực đầu tiên ở nước ta nhưng hoạt động của
ủy ban này cũng còn nhiều hạn chế.
Quản lý tài nguyên nước ở nước ta cho đến nay vẫn chủ yếu là quản lý theo địa
giới hành chính và riêng rẽ do từng ngành sử dụng nước tự đảm nhiệm. Tình trạng đó
kéo dài cho đến năm 1998 khi Luật Tài nguyên nước ra đời đã nêu định hướng cho việc
thực hiện quản lý lưu vực sông.
Thực hiện Luật Tài nguyên nước, năm 2002 nhà nước đã thành lập 3 Ban quản
lý quy hoạch lưu vực của ba lưu vực sông lớn là lưu vực sông Hồng - Thái Bình, lưu
vực sông Đồng Nai và lưu vực sông Cửu Long.
Nhiều đề tài và dự án nghiên cứu về quản lý lưu vực sông đã được thực hiện do
các cơ quan trong nước và các tổ chức quốc tế như dự án của ADB cho lưu vực sông
Hồng, dự án Danida của chính phủ Đan Mạch cho lưu vực sông Serepok và lưu vực
sông Cả, dự án của Nhật quy hoạch quản lý lưu vực sông cho 12 lưu vực sông lớn của
nước ta, Các đề tài và dự án này đã chuẩn bị tiền đề tốt cho việc tìm một mô hình phù

QLTHTNN ở nước mình và đã thu được những kết quả ban đầu rất khả quan. Hộp 1-1: Tầm nhìn an ninh về nước thế kỷ 21 của Việt Nam
Trong "Tầm nhìn an ninh nước thế kỷ 21 của Việt Nam" thông qua
năm 2000 với tiêu chí "Sử dụng tổng hợp, bảo vệ tài nguyên nước vững
bền và phòng chống có hiệu quả các tác hại về nước" đã đưa ra bảy thông
điệp trong đó có ba thông điệp liên quan đến quản lý sử dụng bền vững
tài nguyên nước đó là:

Đủ nước cho an ninh lương thực và phát triển kinh tế xã hội.

Định giá nước hợp lý.

Cộng tác nhiều bên để quản lý thống nhất và tổng hợp tài nguyên
nước có hiệu lực và hiệu quả.
Tầm nhìn an ninh về nước thế kỷ 21 của Việt Nam cũng vạch ra
một khung hành động gồm bốn chiến lược, trong đó chiến lược đầu tiên
cũng là thực hiện QLTHTNN:

Thực hiện quản lý thống nhất tổng hợp tài nguyên nước để bảo
đảm nước cho dân sinh, kinh tế, xã hội, vững bền môi trường và phòng
chống lũ lụt.

Thực hiện quản lý thống nhất tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực
sông.

Nâng cao nhận thức và ý chí chính trị, tăng cường thể chế và
năng lực để thực hiện quản lý thống nhất tổng hợp tài nguyên nước.


khuôn khổ chung trong quản lý tài nguyên nước đã nêu lên định nghĩa “QLTHTNN là
một quá trình đẩy mạnh sự phối hợp phát triển và quản lý tài nguyên nước, đất và các
tài nguyên liên quan khác để tối ưu hóa lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội một cách công
bằng mà không tổn hại đến sự bền vững của các hệ sinh thái thiết yếu ”.
Định nghĩa trên đã nhấn mạnh QLTHTNN là một quá trình, và trong đó khái
niệm “quản lý ” phải được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả “phát triển và quản lý ”
nhằm đạt tới ba mục tiêu cơ bản về kinh tế, xã hội và môi trường.
Trong QLTHTNN, hệ thống nguồn nước được coi như một hệ thống hở, biểu thị
như hình 1-2, trong đó quản lý nước phải xem xét các mối liên hệ với yêu cầu phát triển
kinh tế xã hội, môi trường và với tất cả những người dùng nước.
Trong QLTHTNN có một từ then chốt đó là từ “tổng hợp”, vậy khái niệm tổng
hợp ở đây là gì và cần hiểu như thế nào? Điều này chúng ta cũng cần làm rõ và từ đó sẽ
hiểu các nội dung của quản lý tổng hợp đối với tài nguyên nước. Hình 1-2: Các thành phần và mối liên hệ của Quản lý tổng hợp tài nguyên nước
(Nguồn: Koudstaal, Rijsberman, Savenije) Theo [TAC, 2000] thì khái niệm tổng hợp trong cụm từ quản lý tổng hợp tài
nguyên nước phải xem xét trong hai hệ thống chủ yếu, đó là trong hệ thống tự nhiên và
hệ thống nhân văn. Hệ thống tự nhiên (natural system) với đặc trưng chủ yếu là số

Trích đoạn QÚA TRÌNH THỰC HIỆN QUẢN LÝ LƯU VỰC SÔNG Các nội dung đánh giá Đánh giá và quản lý các hoạt động phát triển thủy lợi thủy điện Quy hoạch lưu vực sông và trình tự của việc lập quy hoạch Xây dựng chiến lược và chính sách quản lý lưu vực sông 1 Phương pháp tiếp cận để xây dựng chiến lượ c và chính sách
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status