Lãi suất và vai trò của lãi suất trong huy động vốn - Pdf 11

Lời nói đầu
Ngân hàng thơng mại là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch
vụ - dịch vụ tài chính tiền tệ. Vì vậy ngân hàng chính là trung gian tài chính
đứng ra vay vốn của những ngời cho vay rồi dùng số vốn đó cho những ngời
thiếu vốn vay lại, góp phần làm cho các nguồn vốn "nhàn rỗi" không sinh lợi
của mọi ngời đợc tập trung chuyển đến cho những doanh nghiệp lớn, nhỏ
thiếu vốn đẻ mở rộng sản xuất kinh doanh sinh lợi nhuận.
Trong thực tế đời sống, những ngời mang tiền của mình đến các ngân
hàng gửi tiết kiệm bao giờ cũng muốn lãi suất tiền gửi càng cao càng tốt, còn
những ngời đi vay tiền ngân hàng thì bao giờ cũng muốn lãi suất càng thấp
càng tốt. Đứng trớc tình trạng đó, ngân hàng thơng mại đã phải tính toán,
điều chỉnh lãi suất, kể cả lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền cho vay cho phù
hợp với tình hình thực tiễn cuộc sống phát triển xã hội. Do đó bằng mọi cách
ngân hàng phải có biện pháp hữu hiệu để huy động ngày càng nhiều vốn cho
mình.
Vì vậy lãi suất cũng là một trong những biến số đợc theo dõi một cách
chặt chẽ, sát sao trong nền kinh tế. Bởi nó trực tiếp tác động, ảnh hởng lớn
đến đời sống sinh hoạt hàng ngày của mỗi chúng ta và ngoài ra nó còn có
những hệ quả quan trọng, hữu hiệu đối với sự phát triển của nền kinh tế.
Đất nớc ta những năm gần đây đã có nhiều chuyển biến phát triển
đáng kể về kinh tế. Chúng ta đã có sự hình thành thị trờng chứng khoán mặc
dù cha phổ biến. Nhng đó cũng là một dấu hiệu đáng mừng đối với sự phát
triển kinh tế của đất nớc. Nghị quyết IX của Đảng cũng luôn đề cao vai trò
phát triển của nền kinh tế trong đó phải kể đến sự phát triển rộng rãi của hệ
thống ngân hàng thu hút nguồn vốn nhàn rỗi để đa voà sử dụng và trả lãi
hàng tháng cho ngời gửi.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của hoạt động ngân hàng thơng mại
trong đó phải kể đến vấn đề lãi suất và với mong muốn nghiên cứu sâu hơn
1
về vấn đề này em đã chọn đề tài "Lãi suất và vai trò của lãi suất trong huy
động vốn". Giúp em hiểu rõ hơn vai trò của lãi suất trong đời sống của

a. Sự thay đổi của tổng cầu (viết tắt là GNP)
Khi tổng cầu tăng lên, thì nền kinh tế đòi hỏi phải tăng khối lợng tiền
cung ứng (nếu tốc độ lu thông tiền tệ không thay đổi), để đảm bảo cung cầu
tơng ứng. Nếu trong điều kiện đó, khối lợng cung ứng tiền (M1 hoặc M2)
tăng quá cầu thì MV > PQ, lúc này cung vốn đầu t lớn hơn cầu vốn đầu t sẽ
làm cho lãi suất giảm. Đồng thời, ngợc lại nếu khi GNP giảm thì khối tiền
cung ứng thực tế cũng giảm theo. Trong điều kiện đó nếu tốc độ lu thông tiền
tệ không thay đổi mà giảm khối cung ứng tiền tệ xuống quá thấp sẽ đa đến
tình trạng MV < PQ. Lúc này sẽ xảy ra trờng hợp cung vốn đầu t nhỏ hơn
cầu vốn đầu t nên lãi suất sẽ tăng lên.
Vì vậy sự thay đổi của GNP cũng có ảnh hởng không nhỏ tới việc
biến động của lãi suất, làm cho tỷ lệ lãi suất không có sự ổn định.
b. Sự chi tiêu của Chính phủ
Nếu trong thực tế khi lợng tiền cung ứng (M1 hoặc M2) không có sự
thay đổi mà Chính phủ lại chi tiêu quá nhiều sẽ dẫn đến làm giảm nhu cầu
chi cho đầu t và tiêu dùng của cá nhân, nhu cầu tiền của nhân dân trở nên
kham hiếm, nguồn cung ứng vốn nhỏ hơn nhu cầu vốn. Điều đó tất yếu sẽ
dẫn đến một hệ quả là lãi suất tăng lên một cách đáng kể, làm bất lợi cho
những ngời đi vay.
c. Chính sách tiền tệ của Chính phủ.
Nh ta đã biết chính sách tiền tệ của Chính phủ ban hành là nhằm mục
đích kiểm soát lợng cung ứng tiền tệ, kiểm soát tình trạng lạm phát và các tác
động đến lãi suất để thực hiện các mục tiêu đã định.
Khi lãi suất tăng giảm nhu cầu tiêu dùng và đầu t, ngân hàng Trung
Ương sẽ giảm lãi suất tái chiết khấu trừ cho các ngân hàng thơng mại. Lúc
này, các ngân hàng thơng mại đợc giảm lãi suất tái chiết khấu, hạ lãi suất cho
vay đối với các doanh nghiệp làm cho toàn bộ hệ thống lãi suất đối với các
thành phần kinh tế đều đợc giảm, các khoản cho vay tăng lên.
Ngợc lại khi khối lợng tiền cung ứng thừa thì lãi suất giảm. Lúc này,
ngân hàng Trung Ương sẽ tuỳ cho tình hình và mức độ để lựa chọn sử dụng

cùng với một khoản tiền phụ đợc gọi là tiền lãi.
5
Hình thức lãi suất trả dần cùng với vốn đợc sử dụng phổ biến trong
việc cho vay trung hạn và dài hạn trong lĩnh vực sản xuất, nhà đất mua sắm
máy móc công cụ, phơng tiện vận tải...
b. Lãi suất trả trớc.
Lãi suất trả trớc là loại lãi suất mà ngời đi vay phải trả cho ngời cho
vay trớc khi sử dụng tiền vay. Hình thức này thờng hay đợc áp dụng phổ biến
trong nghiệp vụ cho vay chiết khấu thơng phiếu (kỳ phiếu thơng mại) của các
ngân hàng thơng mại, trong nghiệp vụ phát hành trái phiếu chiết khấu của
kho bạc Nhà nớc.
Ngời đi vay trả cho ngời cho vay theo giá trị danh nghĩa (hay gọi mệnh
giá) của thơng phiếu hay trái phiếu khi đến hạn, nhng chỉ đợc nhận một số
tiền nhỏ hơn mệnh giá do ngời cho vay đã chiết khấu trớc khoản tiền lãi cảu
thơng phiếu hay trái phiếu.
c. Lãi suất trả sau, cùng với vốn.
Hình thức trả lãi này đợc áp dụng trong trờng hợp các doanh nghiệp
gia đình, cá nhân vay vốn ngân hàng hoặc gửi tiền tiết kiệm, tiền gửi có kỳ
hạn vào các ngân hàng. Trên thực tế, hình thức này còn đợc gọi là cho vay
đơn. trong hình thức vay đơn này, ngời đi vay đợc ngân hàng, hoặc là ngời
cho vay, cho vay một số tiền nhất định gọi là vốn gốc. Sau đó ngời đi vay
phải cam kết trả lại cho ngời cho vay đủ số vốn gốc ban đầu và kèm theo
một khoản tiền lãi nhất định tuỳ theo sự quy định thoả thuận của các bên.
d. Trả lãi bằng phiếu lợi tức (Coupon)
Hình thức này do những ngời đi vay (các doanh nghiệp, các ngân hàng
và kho bạc Nhà nớc) thực hiện khi họ bán ra loại trái phiếu làm phiếu lợi tức
(coupon). Ngời mua trái phiếu kèm phiếu lợi tức đợc trả lợi tức làm nhiều
lần đều đặn (6 tháng hay một năm một lần) và đợc thu hồi vốn gốc khi hết
hạn lu hành trái phiếu.
Gọi là tiền coupon vì ngời giữ trái khoán thờng nhận đợc tiền thanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status