Báo cáo " Những hạn chế trong việc thực hiện quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can và bị cáo " doc - Pdf 11



nghiên cứu - trao đổi 40

tạp chí luật học số
10
/2008
TS. Hoàng Thị Minh Sơn *
heo quy nh ti iu 12 B lut t tng
hỡnh s (BLTTHS) nm 2003 thỡ ngi
b tm gi, b can, b cỏo cú quyn t bo
cha hoc nh ngi khỏc bo cha. Theo
quy ny thỡ ch th cú quyn bo cha ch
thuc v ngi b tm gi, b can v b cỏo.
Nhng ch th ny cú th t mỡnh bo cha,
nu h khụng t bo cha thỡ cú th nh
ngi khỏc bo cha. Ngi khỏc cú th l
lut s, bo cha viờn nhõn dõn hoc ngi
i din hp phỏp ca ngi b tm gi, b
can, b cỏo. Nh vy, khỏc vi ch th cú
quyn bo cha, ch th thc hin quyn bo
cha khụng ch thuc v ngi b tm gi, b

ớt khi tham gia t tng vi t cỏch l ngi
bo cha. Nhỡn chung, i a s lut s ó
tớch cc s dng nhng bin phỏp c phỏp
lut quy nh bo v quyn v li ớch hp
phỏp cho b can, b cỏo nhng cng khụng ớt
nhng lut ó thc hin nhim v ca mỡnh
mt cỏch hỡnh thc, qua loa, c bit l i
vi nhng trng hp bo cha ch nh.
Vic khụng coi trng bo cha ch nh v
thiu trỏch nhim ca lut s trong nhng
trng hp ny khụng mang li hiu qu v
thng c biu hin nh sau:
- Cú lut s nhn bo cha nhiu v,
T

* Ging viờn chớnh Khoa lut hỡnh s
Trng i hc Lut H Ni nghiên cứu - trao đổi

tạp chí luật học số
10
/200841

cui cựng ti phiờn to ch bo cha qua loa,
bo cha khụng da vo nhng tỡnh tit g

- iu 190 BLTTHS quy nh rt rừ l
trong trng hp bt buc phi cú ngi bo
cha theo quy nh ti khon 2 iu 57
BLTTHS m ngi bo cha vng mt thỡ
hi ng xột x phi hoón phiờn to. Tuy
nhiờn trong thc t vn cũn cú trng hp
ngi bo cha ch nh khụng n d phiờn
to m khụng bỏo trc cho to ỏn bit dn
n tỡnh trng to ỏn phi hoón phiờn to vỡ
vng mt ngi bo cha gõy khú khn cho
hot ng xột x v tn kộm cho Nh nc.
- Trong hot ng bo cha ca mỡnh
cũn cú lut s thiu tinh thn trỏch nhim
vi b can, b cỏo. Ti phiờn to cú lut s
cũn phỏt biu chung chung, khụng i sõu vo
vic phõn tớch, ỏnh giỏ cỏc tỡnh tit, chng
c ca v ỏn cú li cho b cỏo mt cỏch c
th; chuyờn mụn, nghip v ca lut s yu,
k nng hnh ngh cũn hn ch. Mt s
ngi bo cha li buc ti b cỏo, trỏi vi
nhim v ca ngi bo cha m phỏp lut
quy nh hoc lp lun b cỏo khụng cú ti
nhng li ngh hi ng xột x cho hng
ỏn treo. S tham gia ca ngi bo cha ti
phiờn to cú vai trũ quan trng. Ti phiờn to
ngi bo cha gúp phn cung cp thờm
chng c cú li cho b cỏo ng thi giỳp
cho hi ng xột x cú c nhn nh
khỏch quan hn v v ỏn ra bn ỏn thu
tỡnh t lớ. Trong phiờn to xột x cỏc v ỏn

quan tiến hành tố tụng chứng minh là có tội
trở thành vô tội. Điều này là không tưởng,
bởi hội đồng xét xử quyết định bị cáo có
phạm tội hay không phạm tội phải căn cứ
vào các chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà
theo quy định của pháp luật chứ không thể
dựa vào lí luận suông.
- Có những vụ án cần có người bào chữa
theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng
thì luật sư nhận nhiệm vụ này lại quá thờ ơ
với việc nghiên cứu hồ sơ, đến khi đưa vụ án
ra xét xử, luật sư bỏ quên cả những tình tiết
giảm nhẹ của bị cáo mà những tình tiết đó
nếu được luật sư quan tâm đúng mức, nêu ra
để hội đồng xét xử xem xét thì chắc chắn bị
cáo sẽ được hưởng sự khoan hồng, nhân đạo
của pháp luật.
Nguyên nhân của việc người bào chữa
quá hết lòng với vụ án này nhưng lại thờ ơ
với vụ án khác có lẽ ít nhiều phụ thuộc vào
thù lao bào chữa. Hầu hết các thẩm phán đều
cho rằng có luật sư tham gia bào chữa cho bị
cáo tại phiên toà bao giờ cũng giúp cho thẩm
phán có nhiều góc nhìn hơn về vụ án đang
xét xử. Tuy nhiên, có nhiều vụ án mà chứng
cứ đã rõ ràng nhưng luật sư lại không đưa ra
những lập luận xác đáng để chứng minh sự
vô tội của bị cáo mà lại dùng những lí lẽ
“cùn” để gạt phăng những chứng cứ khẳng
định bị cáo có tội. Chính vì thế mà nhiều khi

của pháp luật, gây mất lòng tin của hội đồng
xét xử và không được những người tham dự
phiên toà ủng hộ”.
(1)

Bên cạnh những luật sư chịu khó làm rõ
tính chất của vụ án, tìm ra những tình tiết,
những chứng cứ có lợi cho bị can, bị cáo mà
mình bảo vệ theo quy định của pháp luật nghiªn cøu - trao ®æi

t¹p chÝ luËt häc sè
10
/200843

(bằng những biện pháp hợp pháp), lại có
những luật sư muốn giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự cho bị can, bị cáo bằng những biện
pháp trái với quy định của pháp luật. Thay vì
động viên bị can, bị cáo thành khẩn khai báo
để cơ quan tiến hành tố tụng nhanh chóng
làm rõ sự thật của vụ án và bị can, bị cáo
được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì người
bào chữa lại nói chuyện với họ bằng cách úp
úp mở mở mà bị can, bị cáo thường rất nhạy

của luật sư, gây khó khăn cho luật sư khi
thực hiện nhiệm vụ của mình. Việc này
thường được biểu hiện cụ thể như sau:
- Theo quy của BLTTHS thì luật sư tham
gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Trong
trường hợp người có hành vi phạm tội bị bắt
khẩn cấp hoặc bắt trong trường hợp phạm tội
quả tang thì luật sư tham gia tố tụng từ khi
có quyết định tạm giữ trừ trường hợp cần giữ
gìn bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an
ninh quốc gia. Đối với những trường hợp
này, viện trưởng viện kiểm sát quyết định để
luật sư tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều
tra. Nhưng thực tế việc tham gia tố tụng của
luật sư sau khi có quyết định khởi tố bị can
còn gặp nhiều khó khăn, nhiều trường hợp
sau khi ra quyết định khởi tố bị can, cơ quan
điều tra không giao quyết định này và cũng
không giải thích cho bị can biết rõ quyền và
nghĩa vụ của họ. Do vậy, một số bị can
không biết là mình có quyền nhờ luật sư
ngay từ khi họ bị khởi tố mà họ tưởng khi ra
toà mới được mời luật sư. Và cũng có thực tế
là trong nhiều trường hợp luật sư chưa được
tạo điều kiện thực hiện quyền tham gia tố
tụng từ khi khởi tố bị can.
(2)
Bởi lẽ, luật sư
muốn tham gia tố tụng từ thời điểm này thì
phải được cơ quan điều tra cấp giấy chứng

mi khi lut s liờn h thỡ tr li rng iu
tra viờn th lớ v ỏn ú i vng. Cú lut s
hnh ngh gn 20 nm ri m cha bao gi
c tham gia t tng t khi khi t b can,
bt k hnh vi phm ti ca thõn ch thuc
loi ti phm nghiờm trng hay ti phm ớt
nghiờm trng Thng thỡ lut s ch c
gp thõn ch ca mỡnh khi c quan iu tra
ó lm bn kt lun iu tra hoc vo bui
kt cung tc l bui hi cung sau cựng
cho b can xỏc nhn nhng li khai trc
ú.
(3)
Mc dự BLTTHS ó quy nh rt c
th nhng trờn thc t thỡ hu nh i vi
cỏc trng hp quy nh ti im a, b khon
2 iu 57 BLTTHS u khụng c c quan
iu tra yờu cu on lut s c ngi bo
cha cho h t khi khi t b can v nh vy
lut s khụng cú c hi thc hin c
cỏc quyn ca mỡnh nh quyn cú mt khi
hi cung b can v cú mt trong cỏc hot
ng iu tra khỏc.
u nm 2007 B cụng an ó cú cụng
vn s 45/C16 (P6) ngy 26/1/2007 nờu rừ:
Vic mi lut s cn ly ý kin ca ngi b
tm giam theo n ngh bo cha ca
thõn nhõn h xin cp giy chng nhn
ngi bo cha, mi a phng thc hin
khỏc nhau Mt khỏc ó v ang xy ra

phỏp hp phỏp xỏc nh s tht ca v ỏn
mt cỏch khỏch quan, ton din v y ,
lm rừ nhng chng c xỏc nh cú ti v nghiªn cøu - trao ®æi

t¹p chÝ luËt häc sè
10
/200845

những chứng cứ xác định vô tội, những tình
tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm của bị can, bị cáo.
Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc
về các cơ quan tiến hành tố tụng. bị can, bị
cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng
minh là mình vô tội”.
Ví dụ: Vụ án xảy ra ở tỉnh Lâm Đồng,
anh Đỗ Duy Minh là người miền Bắc vào
làm việc tại Đức Trọng - Lâm Đồng. Anh
Đỗ Duy Minh bị bắt vì bị nhầm với Nguyễn
Xuân Minh, người có hành vi trộm cắp nhiều
lần. Một cán bộ của Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Lâm Đồng đã nói rằng: “Minh bị bắt và
xử tù vì không đưa ra được những bằng
chứng vô tội. Họ đâu có hiểu rằng việc kết

năm 2003 trong việc cho phép người bào
chữa sao chụp hồ sơ. Thực tế có nhiều vụ án
phức tạp người bào chữa nếu chỉ đọc qua thì
không thể phát hiện được những tình tiết
mấu chốt quan trọng mà phải nghiền ngẫm
nhiều lần mới có thể tìm ra được. Có khi về
nhà và trong những giờ phút nhập tâm mới
có thể mới có thể đánh giá sự việc xảy ra
một cách chính xác. Điều này không chỉ
riêng người bào chữa mà nhiều thẩm phán
cũng cho rằng cần sớm “cải tiến” để không
làm hạn chế sự đóng góp của người bào chữa
trong việc xác định và tìm ra sự thật khách
quan của vụ án. Nếu để người bào chữa
được photo tài liệu thì họ có điều kiện thuận
lợi hơn để nghiên cứu hồ sơ, tìm ra những
tình tiết, những chứng cứ xác định sự thật
của vụ án và có lợi cho thân chủ của mình.
Tuy nhiên, việc sao chụp hồ sơ trong thực tế
cũng còn gặp nhiều khó khăn từ phía cơ
quan tiến hành tố tụng.
- Vai trò của người bào chữa tại phiên
toà xét xử còn nhiều hạn chế nhất định vì
nhiều lí do khác nhau. Hội đồng xét xử
thường chú ý đến các các chứng cứ do viện
kiểm sát đưa ra hơn là chứng cứ do người
bào chữa đưa ra. Có trường hợp thẩm phán
xem người bào chữa như “một sự trang trí”
vì vụ án đã được duyệt rồi.
Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự ở
nước ta trong những năm qua cho thấy các
thẩm phán chủ toạ điều khiển phiên toà
thường dành phần lớn thời gian cho việc xét
hỏi mà không quan tâm đến việc tranh luận
tại phiên toà. Thậm chí có những phiên toà
người tham gia tố tụng còn bị tước quyền
tranh luận.
3. Kết luận
So với những năm trước đây, quyền bào
chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
ngày càng được thực hiện có hiệu quả hơn.
Các cơ quan tiến hành tố tụng đã tôn trọng
và tạo điều kiện để người bào chữa và người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền và
nghĩa vụ khi tham gia tố tụng. Không ít luật
sư có phong cách bào chữa đầy cá tính,
những lập luận, căn cứ bào chữa chặt chẽ và
sắc sảo, đưa ra những chứng cứ bảo vệ người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo có tính thuyết phục,
giúp hội đồng xét xử đánh giá và kết luận
chính xác hơn về vụ án, đảm bảo công bằng
và dân chủ tại phiên toà. Tuy nhiên, đối với
những trường hợp người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo tự bào chữa thì chất lượng còn thấp
hơn nhiều so với các vụ án có sự tham gia
của luật sư. Khi tự bào chữa, người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo mới chỉ dừng lại ở việc ăn
năn, hối cải, thành khẩn khai báo, nhận rõ sai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status