Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong thu nhập - Pdf 11

Chuyên đề thực tập
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ......................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: Lý thuyết chung về tăng trưởng
và bất bình đẳng thu nhập ..................................................................... 2
1.1. Tăng trưởng kinh tế ........................................................................................ 2
1.1.1. Khái niệm về tăng trưởng kinh tế ............................................................. 2
1.1.2. Đo lường tăng trưởng kinh tế ................................................................... 2
1.2. Phân phối thu nhập và cách đo lường phân phối thu nhâp ....................... 2
1.2.1. Khái niệm phân phối thu nhập và bất bình đẳng thu nhập ........................ 2
1.2.2. Nguyên nhân gây nên tình trạng bất bình đẳng thu nhập ......................... 3
1.2.3. Thước đo về bất bình đẳng thu nhập ........................................................ 4
1.3. Lý thuyết về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng
trong phân phối thu nhập ..................................................................................... 6
1.3.1. Lý thuyết học thuyết kinh tế cổ điển ....................................................... 6
1.3.2. Lý thuyết của Mac ................................................................................... 7
1.3.3. Lý thuyết của Keynes .............................................................................. 8
1.3.4. Lý thuyết của trường phái “sau Keynes” và kinh tế vĩ mô hiện đại .......... 9
1.3.4.1. Lý thuyết của trường phái “sau Keynes” ......................................... 9
1.3.4.2. Lý thuyết của A.Lewis ....................................................................... 9
1.3.4.3. Mô hình chữ U ngựơc của Simon Kuznet ...................................... 10
1.3.5. Lý thuyết của các nhà kinh tế học hiện đại ............................................. 11
1.3.6. Nhận xét chung về mối quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng thu
nhập. ................................................................................................................ 14
CHƯƠNG 2: Thực trạng tăng trưởng và bất bình đẳng
thu nhập của Việt Nam ......................................................................... 16
2.1. Thực trạng tăng trưởng kinh tế ................................................................. 16
2.1.1. Thành tựu về tăng trưởng kinh tế .......................................................... 16
Chuyên đề thực tập
2.1.2. Những mặt hạn chế của tăng trưởng kinh tế ........................................... 23
2.2. Thực trạng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam ....................................... 24

nhưng bằng những chính sách đúng đắn Việt Nam đã khắc phục được những khó
khăn đó và tiến lên. Trong những năm qua Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu
về tăng trưởng kinh tế. Nền kinh tế liên tục tăng trưởng cao, thu nhập người dân được
cải thiện. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế với những chuyển biến tích cực từ nông
nghiệp sang công nghiệp - dịch vụ, xuất nhập khẩu tăng, kim ngạch xuất nhập khẩu
dần được cải thiện, mở rộng quan hệ ngoại thương với nước ngoài… Những thành
tựu về tăng trưởng này đã góp phần tạo điều kiện giúp phân phối thu nhập được công
bằng hơn, công cuộc xoá đói giảm nghèo được thực hiện tốt hơn. Tuy nhiên tăng
trưởng kinh tế cao cũng đem lại những kết quả xấu cho vấn đề bất bình đẳng thu
nhập, phân hoá giàu nghèo tăng lên, khoảng cách thu nhập doãng ra. Tại sao ở Việt
Nam lại xảy ra tình trạng như vậy?
Để trả lời cho câu hỏi ở trên đề tài sẽ đi nghiên cứu những lý thuyết cơ bản về
tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập, thực trạng tăng trưởng và phân phối
thu nhập ở Việt Nam, những thành tựu, những mặt hạn chế, yếu kém, đi tìm hiểu
nguyên nhân của nó. Gắn lý thuyết với những vấn đề thực tiễn ở Việt Nam, từ đó tìm
ra giải pháp đúng đắn nhất cho vấn đề tăng trưởng và bất bình đẳng thu nhập nhằm
mục tiêu tăng trưởng kinh tế xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của người dân,
giảm chênh lệch giàu nghèo đưa đất nước tiến lên, phát triển bền vững.
1
Chuyên đề thực tập
CHƯƠNG 1: Lý thuyết chung về tăng trưởng
và bất bình đẳng thu nhập
1.1. Tăng trưởng kinh tế
1.1.1. Khái niệm về tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng quốc gia hoặc quy mô
sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người qua một thời gian nhất định.
Có thể nói bản chất của tăng trưởng kinh tế là sự đảm bảo sự gia tăng cả quy
mô sản lượng và sản lượng bình quân đầu người.
1.1.2. Đo lường tăng trưởng kinh tế
Đo lường tốc độ tăng trưởng kinh tế ta sử dụng công thức sau:

mà cuộc sống vẫn khó khăn thiếu thốn.
2
Chuyên đề thực tập
1.2.2. Nguyên nhân gây nên tình trạng bất bình đẳng thu nhập
Từ các nghiên cứu cho thấy có hai nguyên nhân chính gây nên sự khác biệt về
thu nhập, đó là bất bình đẳng thu nhập do lao động và bất bình đẳng thu nhập từ tài
sản. Ta sẽ đi sâu tìm hiểu về từng nguyên nhân.
Thứ nhất là bất bình đẳng thu nhập do lao động. Lao động khác nhau đem lại
thu nhập khác nhau do những lý do chủ yếu sau đây:
Sự khác biệt mang tính đền bù là khoản chênh lệch về tiền lương phát sinh
nhằm bù đắp cho các đặc điểm phi tiền tệ của các công việc khác nhau.
Vốn nhân lực là sự tích luỹ đầu tư trong mỗi con người, ví dụ như học vấn và
kinh nghiệm làm việc. Các lao động với nhiều vốn nhân lực sẽ kiếm được nhiều tiền
hơn những lao động với ít vốn nhân lực Thực tế có sự khác biệt mang tính đền bù
giữa những lao động có trình độ học vấn và những lao động không có trình độ học
vấn nhằm bù đắp cho chi phí của việc đi học.
Năng lực, nỗ lực và cơ hội có thể giúp lý giải cho sự khác biệt về thu nhập. Một
số người này thông minh hơn và khỏe mạnh hơn những người khác và họ được trả
lương theo năng lực tự nhiên của họ. Một số lao động làm việc vất vả hơn những
người khác và họ được đền bù cho những cố gắng của họ. Cơ hội cũng đóng một vai
trò nhất định, trong đó trình độ học vấn và kinh nghiệm của một cá nhân nào đó có
thể trở nên vô nghĩa nếu sự thay đổi công nghệ làm cho công việc của cá nhân đó
không cần nữa.
Quan điểm vốn nhân lực về trình độ học vấn cho rằng, những lao động với trình
độ học vấn cao hơn được trả lương cao hơn bởi vì học vấn làm cho họ có năng suất
cao hơn. Theo quan điểm vốn nhân lực về trình độ học vấn, một chính sách nhằm làm
tăng trình độ học vấn của người lao động sẽ làm tăng tiền lương của họ. Theo quan
điểm phát tín hiệu về học vấn, trình độ học vấn cao hơn không có ảnh hưởng gì đến
năng suất hay tiền lương. Có bằng chứng cho thấy rằng học vấn không làm tăng năng
suất và tiền lương, do vậy trình độ học vấn có thể chỉ là một tín hiệu phản ánh năng

Đường kẻ chéo (đường 45
0
) trong hình cho thấy ở bất kỳ điểm nào trên đương
này đều phản ánh tỷ lệ %
Hệ số Gini đo mức độ bất bình đẳng trong phân phối. Hệ số này được xác định
như một tỷ số với giá trị nằm trong khoảng từ 0 tới 1, trong đó tử số là diện tích nằm
giữa đường cong phân phối Lorenz và đường bình đẳng tuyệt đối (A), mẫu số là tổng
diện tích nằm dưới đường bình đẳng tuyệt đối (A+B).
Thứ hai là phương pháp chỉ số Theil
4
Chuyên đề thực tập
Là số thống kê đo lường sự bất bình đẳng về kinh tế do nhà thống kê toán Henri
Theil xây dựng. Công thức tính như sau:

Trong đó xi là thu nhập của người thứ i, x là thu nhập trung bình, N là số người.
Số hạng đầu bên trong dấu ngoặc là tỷ trọng của thu nhập cá nhân đó so với thu nhập
trung bình. Nếu tất cả mọi người đều có thu nhập như nhau (bằng thu nhập trung
bình) thì khi đó chỉ số này sẽ bằng 0. Nếu một người có tất cả thu nhập thì khi đó chỉ
số này bằng lnN
Một ưu điểm của chỉ số Theil là có thể phân rã được, theo nghĩa đó là tổng bình
quân gia quyền của sự bất bình đẳng trong các nhóm.
Thứ ba, tỷ số giữa thu nhập tiêu dùng của 20% dân số giàu nhất và 20% dân
số nghèo nhất của một nước
Tỷ số giữa thu nhập tiêu dùng của 20% dân số giàu nhất và 20% dân số nghèo
nhất của một nước là tỷ số trong đó tử số là thu nhập/tiêu dùng trên đầu người của
nhóm 20% người giàu nhất và mẫu số là thu nhập/tiêu dùng đầu người của nhóm
người nghèo nhất. Cũng có thể thay số 20% bằng một con số phần trăm khác. Đây là
một đại lượng được sử dụng rất phổ biến ở cả các nước phát triển và đang phát triển.
Hạn chế chính của thước đo xác định sự bất bình đẳng này là bỏ qua thu
nhập/tiêu dùng của 60% dân số có mức thu nhập/tiêu dùng trung bình và nó cũng

phương hướng về đầu tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm mục tiêu tăng trưởng.
Trong nghiên cứu của mình, ông đưa ra hai vấn đề: một là, khu vực nông nghiệp có
lợi nhuận biên giảm dần theo quy mô và tiến tới bằng 0 do quy mô sản xuất nông
nghiệp ngày càng tăng lên đòi hỏi phải sử dụng đất đai ngày càng xấu hơn, chi phí
sản xuất ngày càng tăng với tỷ lệ lớn hơn mức tăng sản lượng đầu ra. Hai là, trong
khi ruộng đất có xu hướng cạn kiệt thì lao động trong khu vực nông nghiệp vẫn tiếp
tục tăng, dẫn đến hiện tượng dư thừa lao động trong nông nghiệp. Từ đó cần phải
giảm dần cả về quy mô lẫn tỷ trọng đầu tư trong khu vực nông nghiệp, xây dựng và
mở rộng khu vực công nghiệp, tăng tỷ trọng đầu tư cho công nghiệp để nền kinh tế
tiếp tục tăng trưởng. Khu vực này có nhiệm vụ giải quyết lao động thất nghiệp trá
hình của khu vực nông nghiệp bằng cách chuyển bộ phận này sang khu vực của
mình. Ricardor còn cho rằng do khu vực nông nghiệp dư thừa lao động vì vậy có thể
lôi kéo lao động từ nông nghiệp sang mà không phải tăng lương cho bộ phận này.
Khu vực công nghiệp sẽ có lợi nhuận biên tăng dần theo quy mô và sẽ kéo theo sự
6
Chuyên đề thực tập
tăng trưởng kinh tế, đi cùng với nó là sự gia tăng bất bình đẳng thu nhập giữa nông
nghiệp và công nghiệp. Thêm vào đó ông ủng hộ quy luật sắt về tiền lương, điều này
sẽ dẫn đến tình trạng tăng trưởng đi đôi với bất bình đẳng tăng cao.
1.3.2. Lý thuyết của Mac
Xác định rõ các khái niệm về phân phối kết quả sản xuất và thu nhập, C.Mac đã
chỉ ra rằng tổng sản phẩm xã hội trước hết phải bù đắp lại những tư liệu sản xuất đã
tiêu dùng, phần giá trị mới tạo ra được phân phối theo những nguyên tắc sau:
Để xã hội có thể tồn tại, về lượng không thể phân phối cho tiêu dùng cá nhân
vượt quá khối lượng thu nhập của xã hội
Trong mọi chế độ xã hội, phân phối thu nhập trước hết phải có vai trò đảm bảo
tái sản xuất lại sức lao động của xã hội
Một bộ phận thu nhập phải được sử dụng để thực hiện tích luỹ mở rộng sản
xuất.
Một bộ phận sản phẩm thặng dư chỉ đại biểu cho lao động mới được thêm vào,

đầu tư=tiết kiệm.
Khi mức thu nhập thấp hơn mức tiêu dùng cần thiết thì tình trạng chi tiêu vượt
quá thu nhập xuất hiện nhưng khi mức thu nhập tuyệt đối được nâng cao thì sẽ có
khuynh hướng nới rộng sự chênh lệch giữa thu nhập và tiêu dùng; khi đạt được mức
chi tiêu thoả đáng, người ta sẽ trích từ phần thu nhập tăng thêm cho tiêu dùng ít hơn
và tiết kiệm nhiều hơn. Đó chính là khuynh hướng tiêu dùng giới hạn. Việc làm sẽ
làm tăng thu nhập từ đó làm tăng tiêu dùng. Nhưng do khuynh hướng tiêu dùng giới
hạn nên tiêu dùng sẽ tăng chậm hơn so với thu nhập còn tiết kiệm lại tăng nhanh.
Điều này làm tiêu dùng bị giảm sút, nhu cầu sản phẩm giảm dẫn đến giảm việc làm,
nền kinh tế rơi vào tình trạng trì trệ.
Ông còn đưa ra mô hình số nhân đầu tư về mối quan hệ giữa gia tăng thu nhập
và gia tăng đầu tư. Mỗi sự gia tăng của đầu tư đều kéo theo sự gia tăng của cầu bổ
sung công nhân, cầu về tư liệu sản xuất, do vậy làm tăng cầu về tiêu dùng, tăng việc
làm cho công nhân và làm cho thu nhập tăng lên. Như vậy việc tăng đầu tư sẽ kích
thích tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và từ đó làm tăng thu nhập. Tăng thu nhập
cũng sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế bởi tăng thu nhập sẽ làm tăng tiết kiệm, tăng
đầu tư, từ đó tạo nên tăng trưởng kinh tế.
Quan điểm của Keynes là cần phải điều chỉnh để tăng đầu tư, kích thích tăng
trưởng. Vì vậy chủ trương chính sách mà ông đưa ra là sử dụng thuế để điều tiết nền
kinh tế. Ông cho rằng đối với người lao động thì cần phải tăng thuế để điều tiết bớt
một phần tiết kiệm từ thu nhập của họ, đưa phần này vào ngân sách nhà nước để mở
rộng đầu tư. Còn đối với nhà kinh doanh thì phải giảm thuế để nâng cao hiệu quả của
8
Chuyên đề thực tập
tư bản, khuyến khích nhà kinh doanh tích cực đầu tư phát triển. Điều này đã tạo ra sự
phân phối thu nhập bất bình đẳng gia tăng cùng với mức độ tăng trưởng cao.
1.3.4. Lý thuyết của trường phái “sau Keynes” và kinh tế vĩ mô hiện đại
1.3.4.1. Lý thuyết của trường phái “sau Keynes”
Vấn đề tăng trưởng và phân phối thu nhập dường như đã chiếm vị trí trung tâm
trong các lý thuyết của trường phái “sau Keynes”. Các nhà kinh tế học thuộc trường

giữa hai khu vực cũng tăng. Nhưng cũng không thể chuyển hết lao động từ nông
nghiệp sang được, tình trạng thiếu hụt lao động xảy ra. Lao động trở nên đắt hơn, tiền
công tăng lên, gây bất lợi cho khu vực công nghiệp. Trong trường hợp này để giảm
sự bất lợi đối với khu vực công nghiệp cần phải đầu tư lại cả công nghiệp và nông
nghiệp nhằm tăng năng suất lao động, giảm cầu về lao động trong công nghiệp. Khi
đó việc rút lao động từ nông nghiệp ra sẽ không làm giảm tổng sản phẩm nông
nghiệp, giá nông sản không tăng mà sức ép của việc tăng tiền công lao động khu vực
công nghiệp giảm đi. Nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng dựa trên động lực phát triển
của cả hai khu vực, bất bình đẳng giảm đi.
Dưới dạng tổng quát, mô hình cũng nhất trí với Kuznet về nhận xét cho rằng sự
bất bình đẳng sẽ tăng lên lúc đầu và sau đó giảm bớt khi đã đạt được trình độ nhất
định. Hơn nữa, A.Lewis đã chỉ ra rằng bất bình đẳng không chỉ là kết quả của tăng
trưởng kinh tế mà còn là điều kiện cần thiết cho tăng trưởng kinh tế, các cố gắng để
phân phối lại thu nhập một cách hấp tấp vội vã cũng làm mất đi động lực tăng trưởng
kinh tế; bất bình đẳng là điều kiện để người giàu tăng tích luỹ, tăng đầu tư, từ đó kích
thích tăng trưởng kinh tế, tạo thu nhập cao hơn.
1.3.4.3. Mô hình chữ U ngựơc của Simon Kuznet
Dựa vào số liệu của các nước có mức thu nhập giàu, nghèo khác nhau trong thời
kỳ dài, Kuznet đã chỉ ra mối quan hệ giữa tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu
người và sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập. Ông cho rằng mối quan hệ giữa
tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu người và sự bất bình đẳng trong phân phối
thu nhập có dạng chữ U ngược.
10
Chuyên đề thực tập
Hệ số Gini

GDP/người
Mô hình chữ U ngược đã chỉ ra sự bất công về thu nhập sẽ tăng lên từ nước có
thu nhập thấp tới nước có thu nhập vừa và giảm từ nước có thu nhập vừa tới nước có
thu nhập cao.

phân phối lại nhiều hơn, hưởng lợi nhiều hơn. Từ sự bất bình đẳng thu nhập trong xã
hội mà thu nhập của cử tri trung bình thấp hơn mức thu nhập trung bình, quy tắc đa
số đưa ra quyết định về phân phối lại ở mức độ cao, điều này sẽ làm giảm đầu tư và
nỗ lực lao động, từ đó tạo trở ngại cho tăng trưởng, làm cho tăng trưởng chậm hơn.
Phương thức chuyển đổi từ xã hội dân chủ nguyên mẫu “một người, một phiếu bầu”,
điều này có thể làm giảm mức độ bất bình đẳng thông qua phân phối lại. Kết luận
được rút ra là bất bình đẳng đòi hỏi tái phân phối diễn ra mạnh mẽ nhưng đi cùng với
nó sẽ là tăng trưởng thấp hơn.
Thị trường vốn không hoàn hảo, đại diện của dòng lý thuyết này là Sant-Paul
và Verdier (1993), Galor và Zeira (1993), Aghion và Bolton (1997), Chiou (1998).
Dòng lý thuyết này cơ bản dựa trên vai trò của người tham gia trong thị trường vốn
không hoàn hảo. Trong xã hội không cho phép người có nhu cầu về vốn được tự do
đi vay, sự bất bình đẳng dẫn đến mức độ tiếp cận giáo dục khác nhau. Tăng trưởng
tăng bởi đầu tư vào vốn nhân lực tăng, tăng trưởng sẽ chậm nếu đầu tư vào vốn nhân
lực ít. Phân phối lại làm tăng tổng đầu ra và tăng trưởng vì nó cho phép người nghèo
đầu tư vào vốn nhân lực. Nếu thị trường vốn có khuynh hướng cải tạo phát triển kinh
tế, tiếp đó những tác động từ thị trường vốn không hoàn hảo là quan trọng đối với
người nghèo hơn là đối với người giàu. Theo đó, tác động có thể biết trước này của
bất bình đẳng thu nhập đối với tăng trưởng kinh tế sẽ gây tầm ảnh hưởng đối với
người nghèo lớn hơn đối với người giàu. Điều này nhấn mạnh rằng thị trường vốn
không hoàn hảo thực sự phù hợp để giải thích mối quan hệ giữa tỷ lệ nghèo và tăng
trưởng kinh tế. Trong khi bất bình đẳng cao hơn không phải luôn đưa đến kết cục lợi
ích thu được từ tín dụng tăng lên của phần đa những người nghèo, tỷ lệ nghèo cao
hơn nghĩa là có nhiều người phải chịu tín dụng bắt buộc hơn. Để lấy ví dụ, bất bình
12
Chuyên đề thực tập
đẳng thu nhập trong nền kinh tế có thể cao hơn cho dù tất cả mọi người trong nền
kinh tế đều có cuộc sống đầy đủ. Vì vậy, chúng ta nên chấp nhận mối quan hệ ngược
chiều giữa tỷ lệ nghèo và tăng trưởng kinh tế.
Kết hợp kinh tế (Benabou, 1996), vấn đề này có tác động tới phân phối lại

13
Chuyên đề thực tập
bản là dựa trên những giả định từ những xem xét về tiêu dùng trung bình của những
nhóm người được nghiên cứu. Trong một xã hội bất bình đẳng, những người nghèo
bị lôi cuốn theo cách sống của tầng lớp thượng lưu và có xu hướng tiêu dùng nhiều
hơn. Kết quả là đầu tư vốn nhân lực sẽ thấp và tăng trưởng kinh tế thấp. Như vậy từ
nghiên cứu này rút ra kết luận bất bình đẳng thu nhập và nghèo đói sẽ làm tăng
trưởng chậm lại thông qua những cơ cấu khác nhau. Việc sử dụng các chính sách
riêng rẽ, điều này không thể biết trước được cơ cấu nào là vượt trội hơn.
1.3.6. Nhận xét chung về mối quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng thu
nhập.
Các lý thuyết, mô hình ở trên đã phần nào trả lời cho câu hỏi về mối quan hệ
giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập. Tăng trưởng tác động đến bất
bình đẳng thu nhập như thế nào, bất bình đẳng thu nhập hỗ trợ cho tăng trưởng ra
sao,…Cuối cùng ta có thể rút ra được những nhận xét sau:
Thứ nhất, mối quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng thu nhập có thể diễn
ra theo nhiều chiều. Tăng trưởng kinh tế cao sẽ gây nên tình trạng bất bình đẳng
trong phân phối thu nhập cũng tăng cao. Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế cao lại là điều
kiện giúp giảm bớt bất bình đẳng thu nhập. Và ngược lại bất bình đẳng phân phối thu
nhập là một nhân tố cần thiết cho quá trình tăng trưởng kinh tế, nó sẽ hỗ trợ cho kinh
tế tăng trưởng với tốc độ cao. Tuy nhiên nếu tình trạng bất bình đẳng kéo dài, có xu
hướng gia tăng sẽ lại trở thành chướng ngại cho tăng trưởng.
Thứ hai, tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập tác động tới nhau thông
qua những kênh truyền dẫn sau:
• Đầu tư, tiết kiệm; tỷ lệ đầu tư, tiết kiệm cao sẽ làm cho tăng trưởng cao,
tuy nhiên để tăng tiết kiệm, tăng đầu tư thì bất bình đẳng thu nhập cũng
phải tăng theo. Ở đây dường như có sự đánh đổi giữa tăng trưởng kinh tế
và công bằng thu nhập, muốn có tăng trưởng thì phải chấp nhận bất bình
đẳng thu nhập. Nhưng đầu tư kích thích tăng trưởng kinh tế lại trở thành
điều kiện giúp giảm thiểu bất bình đẳng thu nhập. Trong đầu tư, cơ cấu

thể nói kênh truyền dẫn này có tác động hai chiều, vì vậy cần cẩn trọng
trong việc sử dụng nó
Tóm lại, tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập tác động trực tiếp đến
nhau, tăng trưởng cao giúp giảm bất bình đẳng thu nhập, bất bình đẳng thu nhập là
điều kiện để có tăng trưởng cao,… Hai nhân tố này tác động tới nhau thông qua các
kênh truyền dẫn đầu tư, tiết kiệm, giáo dục, tín dụng, phân phối lại thông qua thuế và
trợ cấp. Các kênh truyền dẫn này sẽ quyết định tăng trưởng và bất bình đẳng thu nhập
tác động tới nhau như thế nào. Vấn đề đặt ra là Nhà nước ta phải xác định kênh nào
hữu ích, kênh nào cho tác động tiêu cực để đưa ra nhưng giải pháp nhằm mục tiêu
tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội, giảm bất bình đẳng thu nhập.
15
Chuyên đề thực tập
CHƯƠNG 2: Thực trạng tăng trưởng và bất bình đẳng
thu nhập của Việt Nam
2.1. Thực trạng tăng trưởng kinh tế
2.1.1. Thành tựu về tăng trưởng kinh tế
Sau hơn 20 năm thực hiện đổi mới, chuyển đổi cơ chế kinh tế từ kế hoạch hoá
tập trung sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, tái cơ cấu lại nền kinh
tế, phát triển kinh tế nhiều thành phần, thực hiện mở cửa nền kinh tế, mở rộng quan
hệ hợp tác với nước ngoài,… Nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu tăng
trưởng đáng kể. Sau đây là một số chỉ tiêu nổi bật đánh giá thành tựu đã đạt được của
tăng trưởng.
- Về tốc độ tăng trưởng.
Từ khi đổi mới chính sách kinh tế (năm1986) đến nay nền kinh tế Việt Nam đã
trải qua nhiều biến động tuy nhiên điều đáng nói ở đây là Việt Nam đã vượt qua tình
trạng khó khăn và đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm liền.
Biểu đồ 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam 1986-2008
Nguồn: Niên giám thống kê
Giai đoạn1986-1990, đây là giai đoạn đầu của quá trình đổi mới, nền kinh tế
gặp phải rất nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởng còn thấp, chỉ đạt mức 4.9%/năm. Tuy

tổng thu nhập quốc dân, giảm bớt tỷ trọng đóng góp của nông nghiệp.
17
Chuyên đề thực tập
Bảng1: Cơ cấu GDP theo ngành
1991 1995 2000 2005 2006 2008
Nông – lâm – ngư nghiệp 40.49 27.18 24.53 20.7 20.4 21.99
CN-xây dựng 23.79 28.76 36.73 40.8 41.52 39.91
DV 35.72 44.06 38.73 38.5 38.08 38.1
Nguồn: Tổng cục thống kê
Cơ cấu kinh tế đang dịch chuyển theo chiều hướng tích cực, trong khi quy mô
các ngành kinh tế đều được mở rộng thì tỷ trọng giá trị nông – lâm – ngư nghiệp
trong cơ cấu kinh tế giảm từ 40.49% vào năm 1991 xuống còn 20.4% vào năm 2008.
Mặc dù tỷ trọng nông – lâm – ngư nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân có xu hướng
giảm dần, nhưng khu vực kinh tế này vẫn giữ vai trò chủ đạo trong sự phát triển kinh
tế của đất nước và có mức tăng trưởng ổn định trong nhiều năm liền. Cơ cấu sản xuất
trong nông nghiệp đang chuyển dịch theo hướng phát huy lợi thế về tài nguyên sinh
học đa dạng, chuyển mạnh sang phát triển các loại cây con có giá trị kinh tế cao và có
khả năng cạnh tranh trên thị trường. Trình độ kỹ thuật của sản xuất được nâng cao rõ
rệt, đầu tư cơ sở hạ tầng ở nông thôn được chú trọng. Đời sống vật chất và tinh thần
của dân cư theo đó được cải thiện nhiều hơn.
Công nghiệp được phát triển với tốc độ cao và ngày càng thể hiện rõ hơn vai trò
nòng cốt cho sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế. Cơ cấu công nghiệp được
điều chỉnh theo hướng phát triển mạnh các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu
dùng đáp ứng nhu cầu trong nước và phục vụ xuất khẩu, phát triển có chọn lọc một
số ngành công nghiệp nặng. Theo đó, các ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế
biến nông, lâm, thuỷ sản được phát triển mạnh. Công nghiệp nặng được phát triển tập
trung hơn vào các ngành điện lực, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí, hoá chất, khai
thác khoáng sản… Cùng với quá trình đổi mới công nghệ và mở rộng quy mô của các
doanh nghiệp hiện có, hàng loạt doanh nghiệp mới với trình độ kỹ thuật hiện đại đã
làm thay đổi bộ mặt công nghiệp của đất nước.

ngoài nhà
nước
Kinh tế có
vốn FDI
1991 31.07 68.93 0 6.63 5.29 0
1995 40.18 53.52 6.3 9.42 8.98 14.98
2000 38.52 48.2 13.27 7.72 5.04 11.44
2005 39.0 46.7 15.5 8.56 7.23 10.23
Nguồn: Tổng cục thống kê
Cơ cấu thành phần kinh tế có sự chuyển biến khá rõ nét. Có thể nói tăng trưởng
kinh tế cao trong những năm qua là nhờ sự đóng góp rất lớn của khu vực kinh tế
ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Mở rộng các cơ sở sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân, khuyến khích
đầu tư trong nước của khu vực tư nhân, đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ gia đình, đưa
ra những chính sách, văn bản pháp lý hỗ trợ việc đẩy mạnh sản xuất kinh doanh…
khiến cho quy mô sản xuất khu vực kinh tế ngoài nhà nước ngày càng được mở rộng
và đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng.
Việc triển khai thực hiện các dự án có vốn đầu tư nước ngoài tiếp nhận được
một số kỹ thuật, công nghệ tiên tiến trong một số ngành kinh tế như thông tin viễn
thông, thăm dò dầu khí, sản xuất phụ tùng, lắp ráp xe máy, hoá chất, trồng trọt theo
công nghệ tiên tiến, công nghệ chế biến thực phẩm… tiếp nhận kinh nghiệm, phương
pháp quản lý kinh doanh góp phần quan trọng trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước. Tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
trong GDP dần tăng lên.
- Về cơ cấu lao động
19
Chuyên đề thực tập
Kết quả của việc chuyển dịch cơ cấu hoạt động sản xuất nông nghiệp sang công
nghiệp và dịch vụ cũng làm cho cơ cấu lao động dịch chuyển theo. Lao động trong
nông nghiệp giảm từ 73.02% từ những năm 90 xuống còn 71.25% vào năm 95, tiếp

năm vừa qua.
20
Chuyên đề thực tập
Bảng 4: Cơ cấu vốn đầu tư phân theo thành phần kinh tế
tổng số Kinh tế nhà
nước
Kinh tế ngoài
nhà nước
Khu vực có vốn
đầu tư nước ngoài
Tỷ đồng % Tỷ đồng % Tỷ đồng % Tỷ đồng %
1995 72447 100 30447 42 20000 27.6 22000 30.4
2000 151183 100 89417 59.1 34594 22.9 27172 18
2005 343135 100 161635 47.1 130398 38 51102 14.9
2006 404712 100 185102 45.7 154006 38.1 65604 16.2
2007 532093 100 197989 37.2 204705 38.5 129399 24.3
2008 637376 100 184435 28.9 263081 41.3 189960 29.8
Nguồn: Tổng cục thống kê
Cơ cấu vốn đầu tư đã có sự dịch chuyển đáng kể. Đầu tư cho khu vực kinh tế
nhà nước có xu hướng giảm dần từ 42% năm 1995 xuống còn 28.6% năm 2008, thay
vào đó là đầu tư cho khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng lên hơn 40% trong năm
2008 và giữ một vị trí quan trọng trong cơ cấu vốn đầu tư.
Nhờ Đảng và nhà nước ta tạo điều kiện thông thoáng, khuyến khích đầu tư
nước ngoài vào những lĩnh vực ưu tiên, sử dụng công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại
nhằm phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; ưu tiên đầu tư vào
địa bàn miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, kinh
tế tăng trưởng khá ; thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng và đạt kết
quả cao. Nếu tính nguồn vốn đăng ký thì năm 2008 đã thu hút được nguồn vốn lên tới
64 tỷ USD, gấp 3 lần so với năm 2007. Vốn đầu tư nước ngoài thực hiện đạt 11.5 tỷ
USD, tăng 43.2% so với năm 2007. Mặc dù khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đang

14.4 tỉ USD, kim ngạch nhập khẩu là 15.6 tỷ USD thì đến năm 2006 chỉ tiêu này đã
tăng lên đến 80 tỉ USD trong đó xuất khẩu đạt 39.6 tỉ USD, năm 2007 là 106.7 tỷ
USD trong đó xuất khẩu đạt 45.4 tỷ USD, năm 2008 là 136.6 tỷ, xuất khẩu đạt 58.2
tỷ, nhập khẩu là 78.4 tỷ.
Do tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu nhanh hơn tốc độ tăng kim ngạch nhập
khẩu nên tỷ lệ nhập siêu giảm xuống. Mặt hàng xuất khẩu đa dạng và chất lượng
hàng xuất khẩu được chú ý nâng cao theo yêu cầu của từng thị trường xuất khẩu.
Chất lượng hàng xuất khẩu đã nâng lên đáng kể, bước đầu tạo ra sức cạnh tranh sức
cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trường thế giới đồng thời gây tác động tích
cực tới chất lượng sản phẩm sản xuất trong nước. Ngoài các mặt hàng như gạo, cà
phê, thuỷ sản vốn là những mặt hàng xuất khẩu chủ đạo, Việt Nam đã xuất khẩu các
mặt hàng về may mặc, giày dép, một số mặt hàng điện tử, đồ gia dụng…Và ngày
càng cố gắng hơn để đáp ứng được nhu cầu của các nước trên thế giới.
Xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực ngoài
nhà nước đã có mức tăng trưởng nhanh và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
kim ngạch xuất khẩu.
Mở rộng quan hệ quốc tế giúp Việt Nam thu hút được khoản vốn đầu tư nước
ngoài lớn lên tới 16 tỉ USD chiếm 20% GDP (năm 2007), tạo nguồn lực cho tăng
trưởng kinh tế, phát triển ngành nghề, tạo công ăn việc làm cho người dân. Từ đó góp
phần cải thiện thu nhập của người dân.
22
Chuyên đề thực tập
2.1.2. Những mặt hạn chế của tăng trưởng kinh tế
Mặc dù tăng trưởng Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận
nhưng trong đó không phải là không có những thiếu sót đáng lưu tâm.
- Chất lượng tăng trưởng còn thấp.
Nước ta trong thời gian qua mặc dù đã có nhiều biến chuyển tích cực xong nó
vẫn là quá chậm để có thể rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước trong khu
vực và trên thế giới, đặc biệt trong năm 2008 nền kinh tế nước ta đã phải chống đỡ
với một cơn khủng hoảng kinh tế mới, lạm phát tăng cao, nền kinh tế có dấu hiệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status