THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG Ở VIỆT NAM - Pdf 26

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
I: TỔNG QUAN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG
1.1Cơ sở lí luận chung Error: Reference source not found
1.1.1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế Error: Reference source not found
1.1.2. Bất bình đẳng xã hội Error: Reference source not found
1.2. Các tiêu chí đo lường tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội 6
1.2.1. Các tiêu chí đo lường tăng trưởng kinh tế 6
1.2.2. Các tiêu chí đo lường công bằng xã hội. Error: Reference source not
found
II: THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG
Ở VIỆT NAM
2.1Thực trạng tăng trưởng kinh tế ở việt nam 11
2.1.1.Thực trạng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam những năm gần đâyError:
Reference source not found1
2.1. 2. Tác động tích cực của tăng trưởng kinh tế 22
2.2 . Thực trạng bất bình đẳng ở Việt Nam những năm gần đây 24
III: MỘT SỐ HẠN CHẾ BẤT BÌNH ĐẲNG XÃ HỘI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
3.1.Các hạn chế của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế 26
3.1.1. Hạn chế 26
3.2.2. Nguyên nhân của hạn chế 28
3.2. Các biện pháp khắc phục 29
KẾT LUẬN
LỜI MỞ ĐẦU
Thực hiện công cuộc đổi mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, trong những
năm qua, Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu trong cải cách và phát triển KT-
XH như bình quân thu nhập đầu người tăng, cơ sở hạ tầng được xây dựng hiện đại
hóa, xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Việc chuyển hướng từ nền kinh
tế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã dần dần tạo ra
những bước phát triển, những cơ hội mới để Việt Nam nhanh chóng hội nhập khu

với thực tiễn của nền kinh tế trong mỗi thời kì;
- Thứ tư, nền kinh tế có tính cạnh tranh cao;
- Thứ năm, tăng trưởng kinh tế gắn liền với đảm bảo hài hòa đời sống xã hội;
- Thứ sáu, tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái;
*Đo lường tăng trưởng kinh tế:
3
Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ
tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai
đoạn.
Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kỳ cần so
sánh.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô
kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %.
Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức:
y = dY/Y × 100(%)
Trong đó :Y là qui mô của nền kinh tế
y là tốc độ tăng trưởng.
Nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có tốc độ
tăng trưởng GDP (hoặc GNP) danh nghĩa. Còn nếu quy mô kinh tế được đo bằng
GDP (hay GNP) thực tế, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) thực tế. Thông
thường, tăng trưởng kinh tế dùng chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ tiêu danh nghĩa.
● Các nhân tố của tăng trưởng kinh tế
Các nhân tố kinh tế tác động đến tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế bao
gồm:vốn,lao động,tiến bộ công nghệ và tài nguyên. Bốn nhân tố này khác nhau ở
mỗi quốc gia và cách phối hợp giữa chúng cũng khác nhau đưa đến kết quả tương
ứng.
Vốn: là yếu tố đầu vào quan trọng,có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh
tế.Vốn sản xuất có liên quan trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế được hiểu là vốn vật
chất,đó là toàn bộ tư liệu vật chất được tích lũy lại của nền kinh tế,bao gồm:nhà

Bên cạnh các nhân tố kinh tế là các nhân tố phi kinh tế tức là các nhân tố chính
trị, xã hội, thể chế. Các nhân tố này có tác động gián tiếp và rất khó lượng hóa cụ thể
mức độ tác động của chúng đến tăng trưởng kinh tế. Có thể kể ra một số nhân tố phi
kinh tế tác động đến tăng trưởng như: các yếu tố văn hóa- xã hội, thể chế và sự tham
gia của cộng đồng.
1.1.2.Bất bình đẳng xã hội
Bất bình đẳng xã hội là sự không ngang bằng nhau về các cơ hội hoặc lợi ích
đối với những cá nhân khác nhau trong nhóm hoặc nhiều nhóm xã hội.
Cơ sở tạo nên bất bình đẳng xã hội: Do sự khác nhau về những cơ hội trong
cuộc sống; Do sự khác nhau về địa vị xã hội; Do sự khác nhau về ảnh hưởng chính
trị
Phân tầng xã hội là vấn đề thu hút sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà nghiên cứu
và hoạch định chính sách. Để trả lời câu hỏi về mức độ bất bình đẳng ở Việt Nam,
trước hết chúng ta cần có hướng tiếp cận nhằm đo lường bất bình đẳng. Một cách
khái quát, có 2 phương pháp đo lường về bất bình đẳng: Thứ nhất, đo lường bất bình
đẳng nói chung thông qua hệ số Gini – được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên
cứu; Thứ hai, đo bất bình đẳng về cơ hội thông qua khoảng cách chênh lệch về đầu
ra giữa các nhóm xã hội. Trong hai phương pháp này, bất bình đẳng cơ hội mô tả rõ
nét về sự bất bình đẳng xã hội hơn và chỉ ra “cái bẫy bất bình đẳng” tồn tại dai dẳng
từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Theo cách tiếp cận thứ nhất, hệ số Gini của Việt Nam vào thời điểm năm 1998
là 0,35 và năm 2004 là 0,423 , trong khi đối với hầu hết các nước đang phát triển, hệ
số Gini chi tiêu hoặc thu nhập nằm trong khoảng từ 0,3 đến 0,6. Như vậy theo cách
tiếp cận này, trong sự so sánh với các nước có điều kiện tương tự trong khu vực và
trên thế giới, bất bình đẳng ở Việt Nam ở mức vừa phải. Như vậy, cách tiếp cận này
cho chúng ta một cái nhìn khá lạc quan về mức độ bình đẳng ở Việt Nam.
6
Tuy nhiên, dưới góc độ bất bình đẳng cơ hội, chúng ta lại có một cái nhìn khác
về khoảng cách giàu nghèo của Việt Nam. Căn cứ vào các chỉ số về bất bình đẳng cơ
hội (giữa nhóm giàu và nhóm nghèo, giữa nông thôn và đô thị, giữa nam và nữ)

định (thường là một năm).
Trong định nghĩa về GDP chúng ta cần phân biệt 2 định nghĩa là GDP danh nghĩa và
GDP thực tế.
GDP danh nghĩa là tổng sản phẩm nội địa theo giá trị sản lượng hàng hoá và dịch
vụ cuối cùng tính theo giá hiện hành. Sản phẩm sản xuất ra trong thời kỳ nào thì lấy
giá của thời kỳ đó. Do vậy còn gọi là GDP theo giá hiện hành
GDP
i
n
=∑Q
i
t
P
i
t
Sự gia tăng của GDP danh nghĩa hàng năm có thể do lạm phát.
Trong đó:
 i: loại sản phẩm thứ i với i =1,2,3 ,n
 t: thời kỳ tính toán
 Q: số lượng sản phẩm ; Qi: số lượng sản phẩm loại i
 P: giá của từng mặt hàng; Pi: giá của mặt hàng thứ i.
GDP thực tế là tổng sản phẩm nội địa tính theo sản lượng hàng hoá và dịch vụ cuối
cùng của năm nghiên cứu còn giá cả tính theo năm gốc do đó còn gọi là GDP theo
giá so sánh.
GDP thực tế được đưa ra nhằm điều chỉnh lại của những sai lệch như sự mất giá của
đồng tiền trong việc tính toán GDP danh nghĩa để có thể ước lượng chuẩn hơn số
8
lượng thực sự của hàng hóa và dịch vụ tạo thành GDP. GDP thứ nhất đôi khi được
gọi là "GDP tiền tệ" trong khi GDP thứ hai được gọi là GDP "giá cố định" hay GDP
"điều chỉnh lạm phát" hoặc "GDP theo giá năm gốc" (Năm gốc được chọn theo luật

1.2.2 Các chỉ tiêu đo lường công bằng xã hội:
Để đánh giá mức độ bất bình đẳng trong tăng trưởng kinh tế chúng ta thường sử
dụng một số chỉ tiêu, bao gồm:
• Khoảng cách giàu nghèo:
Hệ số chênh lệch thu nhập bình quân đầu người của nhóm 20% cao nhất so với
nhóm 20% thấp nhất. Hệ càng cao thì càng thể hiện rõ sự phân hóa giàu nghèo càng
sâu sắc.
• Hệ số Gini:
- Hệ số Gini thường được sử dụng để biểu thị mức độ bất bình đẳng trong phân
phối thu nhập giữa các tầng lớp cư dân. Số 0 tượng trưng cho sự bình đẳng thu
nhập tuyệt đối (mọi người đều có cùng một mức thu nhập), số 1 tượng trưng
cho sự bất bình đẳng thu nhập tuyệt đối (một người có toàn bộ thu nhập, trong
khi tất cả mọi người khác không có thu nhập).
- Hệ số Gini cũng được dùng để biểu thị mức độ chênh lệch về giàu nghèo. Khi
sử dụng hệ số Gini trong trường hợp này, điều kiện yêu cầu phải thỏa mãn
không tồn tại cá nhân nào có thu nhập ròng âm. Hệ số Gini còn được sử dụng
10
để đo lường sự sai biệt của hệ thống xếp loại trong lĩnh vực quản lý rủi ro tín
dụng.
- Tuy hệ số Gini đã lượng hóa được mức độ bất bình đẳng về sự phân phối thu
nhập, nhưng các nhà kinh tế nhận thấy, hệ số Gini mới chỉ phản ánh được mặt
tổng quát nhất của sự phân phối thu nhập, trong một số trường hợp, chưa đánh
giá được các vấn đề cụ thể.
Cách tính:
Gọi diện tích giữa đường bình đẳng tuyệt đối và đường Lorenz là A, phần diện tích
bên dưới đường cong Lorenz là B, hệ số Gini là G.
Ta có:
G = A/(A+B)
Vì A+B = 0,5 (do đường bình đẳng tuyệt đối hợp với trục hoành một góc 45°), nên
hệ số Gini: G = A/(0,5) = 2A = 1-2B.

cùng kỳ.
Số liệu trên cho thấy đầu tư của khu vực nhà nước vẫn chiếm một tỷ lệ rất cao
trong nền kinh tế. Trong khi đó, hiệu quả đầu tư vẫn ở mức rất thấp thể hiện qua hệ
số ICOR quý 1 đang ở mức 7.15 lần, cao hơn con số 6.2 lần của cả năm 2010.
13
Hệ số ICOR kém hiệu quả so với nhiều nước; hiệu quả kinh tế và năng suất lao động
cũng rất thấp; năng lực cạnh tranh còn nhiều yếu kém Tăng trưởng kinh tế của
Việt Nam phần lớn phụ thuộc vào tăng vốn đầu tư và tăng số lượng lao động. Chất
lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam còn thấp và chưa đạt được độ bền vững.
Chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp thể hiện ở sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm,
tính hiệu quả của kinh tế thấp, đồng thời, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu.
- Chất lượng tăng trưởng thấp còn thể hiện qua chỉ số ICOR cao cơ cấu trong nền kinh
tế thiếu tính bền vững. Tỷ lệ đầu tư trên GDP của Việt Nam luôn ở mức cao so với
các nước trong khu vực. ICOR càng cao đồng nghĩa với hiệu quả đầu tư trong nền
kinh tế càng thấp. Chất lượng tăng trưởng thấp kéo dài là tiền đề gây nên lạm phát,
khủng hoảng và suy thoái kinh tế. Chất lượng tăng trưởng thấp đang đe dọa đến tính
ổn định và sự bền vững phát triển kinh tế trong tương lai.
[
b,Lạm phát gia tăng gây áp lực cho bất ổn trong nền kinh tế
14
- Tăng trưởng GDP hàng năm chỉ đạt trung bình khoảng 7% nhưng tăng trưởng
tín dụng luôn duy trì quanh mức 30%, tăng trưởng cung tiền cũng ở mức tương ứng.
Do vậy, lạm phát do cung tiền như là một hệ quả tất yếu của việc mất cân đối giữa
tăng trưởng cung tiền và tăng trưởng sản phẩm, dịch vụ sản xuất ra.
- Lạm phát tăng cao nhất thuộc về nhóm giao thông với mức tăng 6.69% do
chịu tác động mạnh của đợt điều chỉnh giá xăng dầu.Tiếp ngay sau mức tăng mạnh
trên thì CPI nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng cũng tăng thêm tới 3.67% do chịu ảnh
hưởng của tăng giá chất đốt, thép xây dựng, xi măng và nhiều loại vật liệu xây dựng
khác.Ngoài ra, CPI của hầu hết các nhóm hàng hóa khác cũng tăng khá mạnh do
việc chịu tác động của việc điều chỉnh tỷ giá, giá xăng và giá điện đã làm cho nhiều

Những con số thống kê chính thức đều cho thấy dòng vốn ròng vào Việt Nam đang
thặng dư, tức là dòng ngoại tệ vào vẫn lớn hơn dòng ngoại tệ ra. Tuy nhiên, có một
thực tế thì đồng tiền lại liên tục mất giá, dự trữ ngoại hối của NHNN suy giảm.
Cụ thể, theo số liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thì dự trữ ngoại hối của Việt
Nam vào cuối năm 2008 là 24.2 tỷ USD. Cuối tháng 2/ 2011, theo số liệu của Bộ
trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì dự trữ ngoại hối của Việt Nam chỉ còn khoảng 10
tỷ USD.
Theo ước tính của IMF, cán cân tổng thể năm 2009 của Việt Nam thâm hụt 8.2 tỷ
USD và năm 2010 là 3 tỷ USD.
Tuy nhiên, điểm đáng lưu ý là khoản mục Sai số bỏ sót trong bảng Cán cân thanh
toán quốc tế của Việt Nam năm 2009 và 2010 đều lên đến 13.5 tỷ USD. Điều này
cho thấy một lượng ngoại tệ rất lớn trong nền kinh tế không thể thống kê được.
Lòng tin vào đồng nội tệ suy giảm và tình trạng đô la hóa nền kinh tế gia tăng:
Đây là nguyên nhân giải thích phần nào cho hiện tượng nghịch lý nói trên. Việc tiền
đồng liên tục bị mất giá đã kích hoạt nhu cầu nắm giữ USD của người dân và doanh
nghiệp. Việc người dân tăng cường nắm giữ USD khiến cho tình trạng đô la hóa nền
kinh tế gia tăng và cầu USD tăng, dẫn tới tiền đồng luôn chịu áp lực bị mất giá. Tình
17
trạng đô la hóa còn được thể hiện qua việc rất nhiều giao dịch trong nền kinh tế được
sử dụng bằng ngoại tệ này.
Tuy nhiên, cần lưu ý đây chỉ là hệ quả của những bất ổn vĩ mô khác trong nền kinh
tế; nhưng sau đó trở lại làm trầm trọng thêm các bất ổn vĩ mô.
Lạm phát cao gây sức ép lên tỷ giá hối đoái thực: Một trong những nguyên nhân
quan trọng làm mất giá của tiền đồng là do lạm phát ở Việt Nam luôn cao vượt trội
so với các nền kinh tế khác. Do vậy, theo nguyên lý sức mua tương đương thì đồng
nội tệ sẽ phải mất giá một tỷ lệ tương ứng với chênh lệch lạm phát giữa Việt Nam và
các quốc gia khác.
Năm 2010, VND mất giá hơn 10% so với đồng USD, con số này cũng tương ứng với
khoảng cách lạm phát của Việt Nam và Hoa Kỳ khoảng 10%.
d. Giảm tăng trưởng tín dụng để kiềm chế lạm phát

Thông tư 13 thì hệ thống ngân hàng sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
Nhận định: các chính sách thắt chặt tiền tệ của NHNN là một bước đi đúng hướng
trong việc kiềm chế lạm phát. Trước mắt toàn bộ nền kinh tế sẽ phải chịu tác động
rất mạnh bởi lãi suất tăng cao và tín dụng khan hiếm. Tăng trưởng kinh tế có thể
chậm lại.
e. Thương mại phục hồi mạnh mẽ nhưng cơ cấu xuất khẩu chưa được cải thiện
20
Trước đó, năm 2008 thâm hụt thương mại lên tới đỉnh điểm 18 tỷ USD, bằng gần
20% GDP. Trong năm 2009 và năm 2010, thâm hụt thương mại giảm xuống còn
12.84 tỷ USD và 12.4 tỷ USD.
Tình trạng thâm hụt thương mại của Việt Nam đã kéo dài trong nhiều năm và vẫn
chưa có dấu hiệu được cải thiện. Năm 2011, Chính phủ đặt mục tiêu kiểm soát
thương mại dưới 16% kim ngạch xuất khẩu, tương đương khoảng 13.5-14 tỷ USD.
Đây là con số rất cao so với rất nhiều quốc gia khác.
Nguyên nhân sâu xa của tình trạng nhập siêu của Việt Nam là do chúng ta phát triển
dựa quá nhiều vào dòng vốn đầu tư nước ngoài (chênh lệch giữa tiết kiệm trong
nước và đầu tư quá lớn (thường trên 10% GDP)). Ngoài ra, mặt hàng xuất khẩu chủ
yếu là nguyên liệu thô, có giá trị gia tăng thấp, còn các mặt hàng chế biến chỉ chiếm
một tỷ lệ nhỏ. Việt Nam phải nhập khẩu phần lớn các máy móc thiết bị và nguyên
vật liệu phục vụ sản xuất, gia công.
f. Dòng vốn đầu tư vào Việt Nam đang chậm lại
21
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tính từ đầu năm đến ngày 22/3/2011 đạt 2.37
tỷ USD, giảm 33.1% so với cùng kỳ năm 2010. Trong khi đó, vốn thực hiện ước tính
đạt 2.54 tỷ USD, tăng 1.6% so với cùng kỳ năm 2010.
Như vậy, vốn đăng ký giảm mạnh tuy không hẵn là một tín hiệu tiêu cực nhưng là
một hồi chuông cảnh tỉnh đối với những người quá kỳ vọng vào dòng vốn đầu tư
nước ngoài.
Trong suốt những năm vừa qua vốn đăng ký vào Việt Nam khá lớn. Tuy nhiên, con
số thực tế giải ngân quanh mức 10 đến 12 tỷ USD và tốc độ tăng đang chững lại.

nghèo vào năm 2015” mà Liên hợp quốc đề ra. Tuy nhiên, năm 2010 Bộ LĐ –
TBXH đề xuất ra chuẩn nghèo mới là thu nhập bình quân của người dân khu vực
nông thông là dưới 400.000 đồng/người/tháng và khu vực thành thị là 500.000
đồng/người/tháng, vì vậy năm 2011, tỉ lệ hộ nghèo lại là 12%, dự tính năm 2012, tỉ
lệ hộ nghèo là 10%. Tuy các chuẩn nghèo khác nhau sẽ đưa ra những tỷ lệ khác nhau
về nghèo đói, nhưng trong bất kỳ trường hợp nào, tình trạng đói nghèo của nước ta
cũng vẫn duy tri được chiều hướng ngày một giảm xuống. Đây là một thành tựu
được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, nhất là so với một số nước trong khu vực và
trên thế giới.
Bên cạnh đó, thành công của Việt Nam xét về mức giảm nghèo tương ứng với
mỗi phần trăm tăng trưởng kinh tế cũng đáng được ghi nhận. Trong giai đoạn 1993-
1998, 1% tăng trưởng trong GDP/ người tương ứng với 1,3% giảm nghèo, trong khi
đó ở giai đoạn 1998- 2002 là 1,2%. Cả 2 tỷ lệ này cao hơn so với mức trung bình
quan sát được giữa các nước. Lợi ích tăng trưởng kinh tế được phân phối rộng khắp.
23
Ở khu vực thành thị, tỷ lệ nghèo giảm từ 25% dán số đo thị năm 1993 xuống một
mức tương đói thấp so với nhiều nước khác trong năm 2006. Đồng thời, tỷ lệ này ở
nông thôn cũng giảm nhah chóng: năm 1993 khoảng 2/3 dân số nông thôn được coi
là nghèo, nay con số này giảm xuống còn 1%.
• Tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ về y tế và phát triển con người.
Năm 2006 cả nước có khoảng 93 nghìn lớp mẫu giáo với 112,8 nghìn giáo
viên, có 299 trường ĐH&CĐ với 53,4 nghìn giảng viên, 1666,2 nghìn sinh viên, có
269 trường trung cấp với 14,5 nghìn giáo viên, 468,8 nghìn học sinh, số sinh viên tốt
nghiệp ĐH&CĐ là 230 nghìn người, tốt nghiệp các trường trung cấp là 149,3 nghìn
người.
Tổng số người đi học lên tới 23,2 triệu người, bình quân 1 vạndân có 2841
người đi học, tỷ lệ trẻ em đi học mẫu giáo khoảng 50%, tỷ lệ người biết chữ tăng từ
88% năm 1993 lên 90,3% năm 2003 và 94% năm 2006. Bên cạnh hệ công lập hệ
ngoài cũng có những bước phát triển mạnh để khai thác nguồn lực xã hội, chia sẻ với
nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Chi ngân sách nhà nước cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status