luận văn:THỰC TRẠNG TIỀN LƯƠNG TIỀN THƯỞNG VỚI VẤN ĐỀ KÍCH THÍCH LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP HIỆN NAY potx - Pdf 11


2 

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Đề tài: “THỰC TRẠNG TIỀN LƯƠNG TIỀN
THƯỞNG VỚI VẤN ĐỀ KÍCH THÍCH LAO
ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
HIỆN NAY.”
3


1.Giải pháp trong đó có các doanh nghiệp. 39
2.Kiến nghị có giải pháp để có nhà nước: 40
3.Kiến nghị và giải pháp đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 41
KẾT LUẬN 43
Tài liệu tham khảo 44

6
CHƯƠNG I:
MỘT SỐ HỌC THUYẾT LÍ LUẬN VỀ TIỀN CÔNG.
1.William Petty (1632-1687)
W.Petty là một trong những người sáng lập ra học thuyết kinh tế trường
phái cổ điển ở Anh . Ông vừa là một đại địa chủ vừa là một nhà công nghiệp , là
cha đẻ của khoa học thống kê , viết nhiều tác phẩm như “Số học chính trị
“(1662) , “Bàn về tiền tệ “(1682) .
Lý thuyết về tiền lương của W.Petty được xây dựng trên cơ sở lý thuyết
giá trị-lao động.Ông coi lao động là hàng hoá, tiền lương là giá cả tự nhiên của
lao động . Ông đặt nhiệm vụ xác định mức tiện lương . Theo ông , giới hạn cao
nhất của tiền lươnglà mức tư liệu sinh hoạt tối thiểu để nuôi sống người công
nhân . Nếu lương cao thì công nhân thích uống rượu , lười lao động ; còn lương
thấp thì công nhân tích cực lao động và gắn với nhà tư bản hơn . W.Petty là
người đầu tiên đặt nền móng cho lý thuyết “qui luật sắt về tiền lương”
Lý thuyết mức lương tối thiểu phản ánh trình độ phát triển ban đầu của
CNTB .Lúc này sản xuất chưa phát triển . Để buốc công nhân làm việc , giai cấp
tư sản phải dựa vào nhà nước để duy trì mức lương thấp . Tuy nhiên , từ lý luận
đó ta thấy công nhân chỉ đước nhận từ sản phẩm lao động của mình những tư
liều sinh hoạt tối thiểu do họ tạo ra , phần còn lại bị nhà tư bản chiếm đoạt . Đó

mức tối thiểu không đáng kể , vì vậy kinh tế những nước này đang bị đình trệ
.Còn ở các nước mà ở đó nền kinh tế phát triển mạnh thì ở đó tiền lương cao hơn
mức tối thiểu . Phần lớn hơn này do mức tiêu dùng , truyền thống văn hoá , tập
quán dân tộc … quy định . Do đó, ông cho rằng công đoàn không có tác dụng
trong việc đấu tranh đòi tăng tiền lương .
Một đặc điểm khác trong lý thuyết tiền lương của A.Smith là ông nghiên
cứu tiền lương trong cơ chế thị trường tự do . Theo ông , có một cơ chế chi phối
sự hoạt động của tiền lương hoạt động như sau :
Tăng tiền lương dẫn đến tăng tỉ số sinh : tăng cung lao động , tăng cạnh
tranh giữa công nhân để bán lao động . Giảm tiền lương dẫn đến giảm tỉ số sinh ,
8
giảm cung lao động , tăng cạnh tranh giữa các nhà tư bản để mua lao động nên
làm cho tiền lương tăng lên .
A.Smith là người ủng hộ trả tiền lương cao . Theo ông , tiền lương cao sẽ
tạo khả năng tăng trưởng kinh tế và mức tiền lương cao tương đối là nhân tố
kích thích công nhân tăng năng suất lao động . Điều đó tạo ra điều kiện tăng tích
luỹ tư bản và tăng nhu cầu về lao động. Ông phê phán quan điểm cho rằng tiền
lương cao làm cho công nhân lười biếng và không khuyến khích lao động . Ông
vạch rõ rằng , nhà tư bản không sợ gì việc trả lương cao cho công nhân , vì cơ
chế của thị trường lao động sẽ điều chỉnh mức tiền lương thích ứng .
Tuy nhiên trong lý thuyết tiền lương của A.Smith cũng như các nhà kinh
tế học tư sản trước và sau đều cho rằng tiền lương là giá cả của lao động .
4. David Ricardo (1772-1823)
D.Ricardo nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực như toán học , hoá học ,lý học
, là một trong những người sáng lập ra ngành địa chất , tuy vậy sở trường của
ông là kinh tế chính trị học . Ông là tác giả của các tác phẩm nổi tiếng như
“Những nguyên lý cơ bản của chính sách kinh tế và thuế khoá “ , “Những
nguyên lý của kinh tế chính trị học “
Về tiền lương , D.Ricardo coi lao động là hàng hoá . Tiền lương hay giá
cả thị trường của lao động được xác đính trên cơ sơ giá cả tự nhiên và xoay

động mà là sức lao động, tiền lương không phải là giá trị hay giá cả của lao động
mà chính là giá trị của hàng hóa sức lao động. Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa,
tiền lương được trả dưới hai hình thức: tiền lương tính theo thời gian và tiền
lương tính theo sản phẩm.
a. Tiền lương tính theo thời gian là hình thức tiền lương mà số lượng của
nó tỷ lệ thuận với thời gian làm việc của người lao động ở những công việc
không tính được bằng sản phẩm. Thời gian làm việc có thể tính theo giờ, ngày,
tuần, tháng nhưng thường tính bằng đơn giá giờ. Với hình thức này khi trả
lương theo ngày, tuần, tháng, …nhà tư bản có thể kéo dài ngày lao động, tăng
cường độ lao động, nhà tư bản có thể linh hoạt áp dụng lượng giờ khi có ít việc
làm, lượng ngày tuần, tháng khi có nhiều việc làm khi kỹ thuật thủ công và thời
nay khi chuyển sang tự động hoá, lương theo thời gian là chủ yếu.

11
b. Tiền lương tính theo sản phẩm là hình thức tiền lương mà số lượng của
nó tỷ lệ thuật với số lượng và chất lượng sản phẩm sản xuất ra. Đơn giá để tính
lượng là số lượng và chất lượng sản phẩm.
Với hình thức này: chủ tư bản tiết kiệm chi phí trả lương cho hệ thống bộ
máy đốc công. Người công nhân vì lợi ích của mình mà cải tiến kỹ thuật, tăng
cường độ lao động, nâng cao tay nghề làm cho năng suất lao động tăng, khi năng
suất lao động tăng ở từng người thì người đó có lợi nhưng khi mọi người đề
ganh đua đưa năng suất đó lên là năng suất lao động trung bình của công nhân
càng làm nhiều thì tiền lương càng ít đi.
Khi kỹ thuật cơ khí thì lương theo sản phẩm là chủ yếu. Trong thực tế tiền
lương trong chủ nghĩa tư bản thường thấp hơn giá trị sức lao động mặc dù nhà tư
bản vẫn có tính toán cho người công nhân tiền lương tính theo thời gian và tiền
lương tính theo sản phẩm, giá trị sức lao động của người công nhân bỏ lao động
nhằm tạo ra sản phẩm lớn nhưng tiền lương thường thấp hơn. Tiền lương được
sử dụng để sản xuất và tái sản xuất sức lao động do đó tiền lương danh nghĩa
phải được chuyển hoá thành tiền lương thực tế.

nghĩa là 1/5 số nhi đồng đến tuổi đi học mà phải chịu mù chữ.
Cũng theo số liệu do các nhà chức trách công bố ở Mỹ, Anh, Pháp, Tây -
Đức, ý thì 60 năm lại đây, mức tiêu dùng bình quân đầu người ở những nước đó
về thực phẩm chủ yếu , dày dép và quần áo đều giảm sút so với trước, nghãi là
giảm sút so với thế kỷ thứ 19. Tất nhiên mức tiêu dùng bình quân đầu người của
dân cư nói đây chưa phải là mức tiêu dùng bình quân đầu người của những
người vô sản.
Qua những tài liệu trên, ta thấy mức tiền lương thực tế của những người
lao động ở các nước tư bản bị hạ thấp như thế nào.
4. Bản chất bóc lột của nhà tư bản .
Trong quá trình sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa, bằng lao động cụ thể
của mình, công nhân sử dụng những tư liệu sản xuất và chuyển giá trị của

13
chúng vào hàng hoá và bằng lao động trìu tượng công nhân tạo ra giá trị mới lớn
hơn giá trị sức lao động phần lớn đó là giá trị thặng dư.
Trong quá trình sản xuất, bằng lao động cụ thể, công nhân sử dụng máy
móc để chuyển một kg bông thành một kg sợi, bằng lao động trìu tượng, công
nhân tạo ra giá trị mới nhập vào sợi. Giả định ngày làm việc của công nhân có
thể kéo dài 5 giờ đến 10 giờ, mà chỉ trong 5 giờ công nhân đã chuyển xong 1kg
bông thành 1kg sợi, thì giá trị 1kg sợi được tính là:
-Giá trị 1kg bông chuyển vào : 20.000đơn vị
- Hao mòn máy móc : 3000đơn vị
- Giá trị mới tạo ra (trong 5 giờ lao động)
Bằng giá trị sức lao động : 5000đơn vị
Tổng cộng : 28.000đơn vị
Nếu quá trình lao động ngừng ở đây thì nhà tư bản chẳng thu được một tý
giá trị thặng dư nào, nhưng nhà tư bản đã mua sức lao động, trong 1 ngày với 10
giờ chứ không phải 5 giờ. Trong 5 giờ lao động tiếp theo, nhà tư bản không phải
trả công nữa mà chỉ cần đưa thêm 20.000đơn vị để mua 1kg bông và 3000đơn vị

Do sự phát triển lịch sử văn minh và do đấu tranh giai cấp của công nhân
mà một bộ phận không nhỏ của công nhân ở các nước tư bản phát triển có mức
sống tương đối sung túc, nhưng về cơ bản, họ vẫn phải bán sức lao động và vẫn
bị nhà tư sản bóc lột giá trị thặng dư, ngày nay sự tiến bộ của khoa học và công
nghẹ đã đưa đến sự biến đổi sâu sắc các yếu tố sản xuất và banr thân quá trình
sản xuất làm cho việc sản xuất giá trị thặng dư có những đặc điểm mới.
Do máy móc hiện đại, công nghệ tiên tiến được sử dụng rộng rãi nên khối
lượng giá trị thặng dư được tái tạo ra chủ yếu do tăng năng suất lao động, máy
móc hiện đại nên chi phí lao động quá khứ trong một đơn vị sản phẩm cùng
giảm xuống một cách tuyệt đối.
5. Tại sao nhà tư bản buộc phải chú trọng đến nhân cách sáng tạo của người
lao động làm thuê ?
Ngày nay cơ cấu lao động xã hội ở các nước tư bản công nghiệp phát triển
có sự biến đổi lớn. Do chuyển sang cơ sở công nghệ mới, phát triển sản xuất

15
theo chiều sâu, lao động phức tạp tăng lên và thay thế lao động giản đơn. Để có
lợi cho mình các nhà tư bản buộc phải chú trọng đến nhân cách sáng tạo của
người lao động làm thuê, Điều đó nói lên rằng lao động trí óc, lao động có trình
độ kỹ thuật ngày càng cao có vai trò quyết định trong việc sản xuất giá trị thặng
dư và chính tầng lớp công nhân này có sức sống tương đối sung túc, họ cũng
đem lại tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên cho các nhà tư bản.
6. Các hình thức bóc lột của nhà tư bản
Sự bóc lột của các nước tư bản phát triển ngày càng mở rộng ra phạm vi
quốc tế dưới nhiều hình thức.
Xuất khẩu tư bản và hàng hoá, trao đổi không ngang giá sự bòn rút siêu lợi
nhuận từ các nước kém phát triển mà các nước TBCN hiện đại giành được trong
mấy chục năm qua đã tăng lên gấp nhiều lần. Sự cách biệt giữa những nước giàu
và những nước nghèo ngày càng tăng và đang trở thành một mâu thuẫn nổi bật
trong thời đại hiện nay. Sự bòn rút chất xám sự huỷ hoại môi sinh và phá huỷ

Tiền công tính theo sản phẩm là hình thức tiền công mà số lượng của nó
phụ thuộc vào số lượng sản phẩm đã làm ra, hoặc số lượng công việc đã hoàn
thành trong một thời gian nhất định, trong thực tế tiền lương trong CNTB
thường thấp hơn giá trị sức lao động mặc dù nhà tư bản vẫn có tính toán cho
người công nhân tiền lương tính theo thời gian và tiền lương tính theo sản phẩm,
giá trị sức lao động của người công nhân bỏ ra lao động nhằm tạo ra sản phẩm
lớn nhưng tiền lương thường thấp hơn. Tiền lương được sử dụng để sản xuất và
tái sản xuất sức lao động do đó tiền lương danh nghĩa phải được chuyển hoá
thành tiền lương thực tế.
9. Tính quy luật của sự vận động tiền lương trong chủ nghĩa tư bản.
CMác đã chỉ rõ tính quy luật của sự vận động tiền lương trong chủ nghĩa tư
bản như sau:
Trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, tiền lương danh nghĩa có
xu hướng tăng lên, nhưng mức tăng của nó nhiều khi không theo kịp với mức

17
tăng giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ, khi đó tiền công thực tế của giá cấp
công nhân có xu hướng hạ thấp.
Sự hạ thấp của tiền lương thực tế diễn ra như một xu hướng vì sự hạ thấp
tiền lương đã bị nhiều nhân tố chống lại đó là : các cuộc đấu tranh của giai cấp
công nhân đòi tăng lương, trong điều kiện khoa học công nghệ và do đó nhu cầu
về sức lao động có chất lượng cao để sử dụng kỹ thuật phức tạp ngày càng tăng,
đã buộc giai cấp tư sản phải cải tiến tổ chức lao động cũng như kích thích người
lao động, bằng lợi ích vật chất. Đó cũng là một yếu tố đã cản trở xu hướng hạ
thấp tiền công.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật mới phát triển như vũ bão và mâu thuẫn của xã hội tư bản cũng gay gắt
hơn do phong trào đấu tranh rất mạnh của công nhân và lao động ở từng nước tư
bản và trên phạm vi thế giới do ảnh hưởng của Liên Xô và các nước xã hội chủ
nghĩa, giai cấp tư bản đã dùng mọi biện pháp cải lương để làm hoà hoãn mâu

Thậm chí một số còn đưa ra các hình thức trả lương tương tự nhưng đơn giản
hơn:
VD: ở công ty giầy thăng long
Ti= ĐG*n*h.
ĐG: Đơn giá/ngày lương .
n : Số ngày làm việc trong một tháng.
h : Hệ số của người công nhân i . Hệ số này thể hiện vai trò vị trí của
người thứ i trong nhóm.
♦Cách 2:

19
Ti = Tcb + Tcv.
Tcb: Tiền lương theo cấp bậc của người i.
Tcv: Tiền lương theo công việc được giao gắ với mức độ hoàn thành công
việc và số ngày công thực tế của người i.
Tcb = ni*hi.
ni: Số ngày làm việc thực tế.
hi: Mức lương ngày theo hệ số của người i.
Tcv = ĐG*ni*hi.
Tcv: Mức lương theo công việc.
ĐG: Đơn giá bình quân của mỗi người.
ni : Số ngày làm việc thực tế của mỗi người .
hi : Hệ số tiền lương tương ứng với công việc được giao, mức độ phức
tạp và mức độ hoàn thành công việc.
-Đối với bộ phận làm lương khoán, lương sản pghâmr tập thể thì có thể trả
lương theo cách sau:
Một số bộ phận công nhân lâu năm đã có cấp bậc thâm niên công tác thì
trả theo hệ số mức lương quy định ở nghị định 26/ CP và hệ số mức độ đóng góp
:
Vsp

ngoài ra trong thực tế doanh nghiệp còn hình thành quỹ tiền thưởng , quỹ
này phụ thuộc rất lớn vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.Hành năm doanh nghiệp điều chỉnh một tỉ lệ % laĩ nhất định các quỹ tièn
thưởng để thưởng cho nhân viên.
2. Trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài.
a.Trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh :

21
Hiện nay nước ta có một hệ thống đồ sộ các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh như : Doanh nghiệp tư nhân công ty trách nhiệm hữu hạn , công ty cổ
phần ngoài ra còn có các tổ hợp sản xuất xí nghiệp Việc chi trả lương cho
ngươì lao động trong khu vực này được tiến hành tùy thuộc vào quy mô tình
hình sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp . Nhưng nhìn chung chia thành
hai cấp độ sau:
Đối với doanh nghiệp quy mô lớn nhu một số công ty trách nhiệm hữu
hạn một số công ty cổ phần và doanh nhgiêpj tư nhân thì các hình thức tiền
lương tiền thưởng dược áp dụng giống như các doanh nghiệp nhà nước.Tức là
doanh nghiệp có hệ thống tổ chức thang bảng lương nghạch lương .Đồng thời
đối với công nhân sản xuất doanh nghiệp cũng áp dung chế độ trả lương cấp bậc
và hình thức trả lương theo sản phẩm.
Đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ như cơ sở sản xuất , hộ gia đình
kinh doanh thì việc thực hiện trả lương , trả thưởng còn đơn giản thủ công. Việc
thực hiện tiền lương chủ yếu dựu vào hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp và sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động . Việc
trả lương , trả thưởng cho người lao động ở khu vực kinh tế này dựa trên nguyên
tăc tối đa lợi ích và giảm thiểu chi phí.
Các doanh nghiệp tư nhân hiện nay tham gia hầu hết các ngành kinh tế
của nền kinh tế quốc dân, đặc biệt những ngành phân phối sản phẩm và sản xuất
thủ công , những ngành này yêu cầu vốn nhỏ , có sự linh hoạt trong hoạt động

người có thu nhập cao nhất chênh lệch với người có thu nhập thấp nhất là
1686/201=8,39 lần.Còn trong ngành cơ khí là có mức chênh lệch nhỏ nhất là
2,56 lần.Diều này là do trong nền kinh tế thi trường có sự lợi thế về vốn về kỹ
thuật, quy mô sản xuất dẫn đến các doanh nghiệp này có mức tiền lương trung
bình lớn hon các doanh nghiệp khác.
b.Trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài:

23
Tính đén cuối năm 1999 đã có 2667 dự án có vốn đầu tư nước ngoài được
cấp giấy phép trong đó có 2152 dự án đang hoạt động với tổng số vốn đầu tư
35,1 tỉ USD của nưóc ngoài đầu tư tại Việt nam.Các doang nghiệp đó đã tạo
việc làm cho hơn 300000 lao động trực tiếp và hàng ngàn lao động gián tiếp bên
ngoài doanh nghiệp như: xây dựng , gia công , dịch vụ, góp phần đáng kể vào sự
nghiệp phát triển kinh tế xã hội.Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chủ
yếu đang hoạt động theo các hình thức: Doanh nghiệp liên doanh , doanh nghiệp
100% vốn đàu tư nước ngoài.
Trong lĩnh vực tiền lương ở khu vực này , chính phủ đã bốn lần thay đổi mức
lương tối thiểu cho phù hợp.Và từ ngày 1-7-1999 Bộ LĐ-TBXH đã có quyết
định áp dụng trả lương baèng VNĐ với 3 mức lương: 487000đ-556000đ và
626000đ tùy theo vùng lãnh thổ.Đồng thòi chính phủ cũng đã có nghị định
197/CP ngày 31-12-1999 và Bộ LĐ-TBXH có thông tư số 11/LĐ-TBXH ra
ngày 3-5-1995 quy định về xây dựng và quản lý tiền lưong trong doanh nghiệp
có vốn đàu tư nướcd ngoài.
Thực tế cho thấy một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã chấp
hành pháp luật Việt nam , thực hiện đúng quy định vcaf hướng dẫn của Chính
Phủ, Bộ LĐ-TBXH trong việc xây dựng và tổ chức quản lý tiền công cho người
lao động . Cụ thể là: công ty liên doanh chế tạo đã xếp lương bậc một cho nhân
viên bảo vệ 35USD/ tháng , công nhân kỹ thuật có 7 bậc trong đó bâc1là9
USD/tháng,bậc 7 là:120,75 USD/ tháng.Trung cấp kỹ thuật có 16 bậc với mức
lương bậc 1 là: 51,1 USD/ tháng , bậc 16 là : 116,55 USD/tháng Còn trong xí

đối với người lao đọng , giá trị tiền lương dần được khôi phục với đúng nghĩa
của nó.
+ Trong các doanh nghiệp nhà nước tiền lương ngày càng phản ánh đúng
giá trị sức lao động.Thực chất tiền lương chính biêủ hiện giá cả sức lao động.Do
vậy nếu tiền lương bằng giá trị sức lao động bỏ ra của ngưoì lao động thì đảm
bảo sự công bằng kích thích được người lao động nhưng thực tế tiền lưong hiếm
khi bằng giá trị sức lao động và thường ít hơn giá trị sức lao động.Diều này là do
những nguyên nhân sau:

25
*Thứ nhất là giá trị sức lao động của mỗi người rất khác nhau.Nó phụ
thuộc vào đặc tính năng lực trình độ của mỗi ngưoì lao động do vậy sẽ rất khó
xác định giá trị sức lao động của mỗi người bỏ ra.
*Thứ hai là giá trị sức lao động là một hàng hóa đặc biệt . Nó được thanh
toán sau khi mua bán song và rất khó xác định đo đạc được chúng .Do vậy muốn
xác định được tiền lương phù hợp với giá trị sức lao động thì phải xác định giá
trị sức lao động.
*Thứ ba là để trả được tiền lương bằng giá trị sức lao động, các doanh
nghiệp đặc biệt là donah nghiệp nhà nước phải bỏ ra một số lượng tiền khổng lồ
,nói cách khác là phải có một quỹ lương đủ lớn . Việc này không phải tất cả các
doanh nghiệp đều có thể đáp ứng được do hoạt động sản xuât kinh doanh yếu
kếm , đội nhũ công nhân viên đồ sộ hoạt động kếm hiệu quả.
*Thứ tư là do quy định về mức lương tối thiểu trong doanh nghiệp của
nhà nước quá thấp thường không thích ứng được với sự thay đổi của thị trường
dẫn đến tiền lương tối thiểu điều chỉnh theo sau thị trường lao động, mà các
doanh nghiệp lại dựa vào tiền lương tối thiểu để trả công.Vì vậy mức lương thực
tế mà người lao đông nhận được thường thấp hơn giá trị sức lao động hay thấp
hơn giá cả thị trường.
Như vậy việc thực hiện chế độ tiền lương mới làm cho tiền lương ngày
càng phản ánh đúng bản chất giá trị sức lao động.Nó có ý nghĩa rất quan trọng

sau:Những điều còn tồn tại trong việc trả lưong , trả thưởng.
Qua những điều đã đạt được có chi trả chúng ta có thể đánh giá lại đưọc
trình độ của lực lưọng lao động trong các lĩnh vực,ngành , đồng thời tạo động
lực kích thích lao động tăng năng xuất lao động đạt hiệu quẩ trong sản xuất linh
doanh.
2.Mặt tồn tại :
Có thể nói tuy đã đạt được một số các mục tiêu nhất định nhưng chế độ
tiền lương hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều bất hợp lý,những mặt còn hạn chế đặc
biệt là trong khu vực nhà nước.Sự bất hợp lý được thể hiện ra ngoái như là sự
không công bằng trong trả lưong.Chênh lệch quá lớn giữa các doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status