PHẦN I : LỜI MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Từ xa xưa, ngành du lịch đã được hình thành và phát triển dựa trên
cơ sớ sự phát triển của lực lượng sản xút và phân công lao động. Khi lực
lượng sản xuât chưa phát triển thì nhu cầu du lịch của dân cư chủ yếu được
thực hiện một cách đơn lẻ do các cá nhân hoặc một số người đứng ra tổ
chức để thoả mãn nhu cầu. Từ thời cổ đại đã có những tài liệu nói về những
chuyến du hành đầu tiên có tổ chức nhằm mục đích tìm hiểu lịch sử văn
hoá và thiên nhiên nước khác, cũng như để giao lưu kinh tế văn hoá. Nhu
cầu tìm hiểu tham quan, nghỉ ngơi đã xuất hiện trước hết ở giai cấp quý tộc,
chủ nô rồi tới các thương gia, các nhà tu hành và khoa học. Các nhà sử học
cho rằng từ 5000 năm trước đây có những chuyến vượt biển được bắt đầu
từ Ai Cập. Lúc đầu số người đi du lịch rất hạn chế và người ta mới chỉ coi
du lịch là một hiện tượng trong xã hội. Sau đó số lượng khách du lịch dần
dần được tăng lên, với việc xây dựng, hoàn thiện và phát triển cơ sở hạ tầng
để phục vụ cho ngành, nên những chuyến đi du lịch như vậy kéo dài hơn,
xa hơn. Dần dần du lịch mang tính nhận thức và trở thành một hiện tượng
thường xuyên phổ biến.
Hiện nay, sự phát triển du lịch là sự tăng nhanh chóng về mặt số
lượng khách du lịch do mức sống của người dân ngày càng tăng. Khoa học
kỹ thuật ngày càng phát triển, thời gian nhàn dỗi nhiều, phương tiện và tiện
nghi cho du lịch ngày càng được cải thiện thúc đẩy du lịch phát triển. Vì
thế xét trên bình diện quốc gia hay quốc tế vấn đề cấp thiết được đặt ra là
phải tạo điều kiện thuận lợi nhằm thoả mẵn tới mức cao nhất các nhu cầu
của người đi du lịch cả về cơ sở hạ tầng; nhu cầu thiết yếu và nhu cầu đặc
trưng như ăn uống, giải trí, giầy dép, quần áo, đồ lưu niệm, cảnh quan... và
những thứ khác. Du lịch không chỉ đơn thuần là sự vận động di chuyển của
du khách từ nơi này đến nơi khác mà còn nảy sinh nhiều hiện tượng kinh tế
xã hội gắn liền với nó.
Chính vì nhận thức được một cách đúng đắn tầm quan trọng của
ngành du lịch mà nó ngày càng được coi trọng và được coi là một ngành
lại lưu trú tạm thời của con người ngoài nơi ở thường xuyên của họ nhằm
mục dích vui chơi, giải trí, tìm hiểu văn hoá, chữa bệnh, tham gia vào các
chương trình đặc biệt và các mục đích khác. Thế nên con người không chỉ
dừng lại ở việc vui chơi giải trí đơn thuần mà với đời sống và khả năng
thanh toán cao con người còn đòi hỏi phải được thoả mãn nhu cầu lớn hơn
về tinh thần, lưu trú cũng như nhiều nhu cầu khác( ăn uống, vui chơi...)
Để đáp ứng tối đa các nhu cầu đó thì ngày nay ngành kinh doanh du
lịch khách sạn đã và đang được dặc biệt chú trọng đầu tư và phát triển. Một
loạt các cơ sở kinh doanh du lịch khách sạn với nhiều thứ hạng từ bình dân
đến cao cấp được mọc lên ở khắp các quốc gia trên thế giới.
Vậy khách sạn là gì?
Khách sạn là cơ sở phục vụ lưu trú phổ biến đối với du khách. Khách
sạn cung cấp và bán cho khách du lịch những dịch vụ hoàn hảo, nhằm đáp
ứng những nhu cầu của họ về chỗ ngủ, nghỉ ngơi, ăn uống, chữa bệnh, vui
chơi, giải trí... phù hợp với mục đích và động cơ của chuyến đi. Chất lượng
và sự đa dạng của dich vụ trong khách sạn xác định thứ hạng của nó. Và
doanh thu từ kinh doanh khách sạn đem lại rất lớn. Vì thế du lịch được coi
như là ngành kinh tế mũi nhọn của một số quốc gia. Đây là một dấu son để
đánh dâu sự phát triển của ngành kinh tế này được tinh từ cuối thế kỷ XIV
đến đầu thế kỷ XX.
Ngành du lịch Việt Nam mới chỉ ra đời từ 9/7/1960. So với ngành
du lịch trên thế giới thì còn quá non trẻ, song do có tính kế thừa học hỏi
được các nước nhờ sự giao lưu học hỏi đồng thời nhờ có sự định hướng
phát triển kinh tế xã hội, sự quan tâm của Đảng và Nhà Nước nên ngành du
lịch Việt Nam phát triển khá nhanh. Nó được coi là ngành ‘công nghiệp
3
không ống khói’ bởi đây là ngành kinh doanh dịch vụ, có tầm quan trọng
và ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế của đất nước.
Việt Nam là một nước có nhiều yếu tố thuận lợi cho việc phát triển
hoạt động du lịch, là nước nằm trong khu vực Đông nam ắ- một khu vực có
phát triển nhanh du lịch quốc tế đạt trình độ phát triển du lịch trong khu
vực. Từ nghị quyết 45CP của thủ tướng chính phủ cũng khẳng định “ Du
lịch là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là một
hướng chiến lược trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Du lịch là
một ngành kinh tế mang tính chất tổng hợp có tác dụng góp phần thực hiện
mở cửa của đất nước, thúc đẩy sự phát triển của những ngành kinh tế khác.
Tạo nên công ăn việc làm, mở rộng mối giao lưu văn hoá xã hội, tăng
cường tình hữu nghị đoàn kết của sự hiểu biết giữa các dân tộc”
Từ đường lối và những biện pháp thích hợp, du lịch Việt Nam đang
chuyển mình đón kịp xu thế quốc tế và sự phát triển chung của đất nứơc.
Do nhận thấy được mức độ quan trọng của việc phát triển ngành du lịch
nên Đảng và Nhà Nước ta đã rât sáng suốt trong việc chú trọng đầu tư phát
triển ngành du lịch, đặc biệt là lĩnh vực kinh doanh du lịch khách sạn, trong
việc làm thủ tục xuất nhập cảnh như vấn đề cấp Visa, hộ chiếu ngày càng
được đơn giản hoá, thuận tiện hơn làm cho lượng khách đi du lịch ngày
càng đông. Du khách không chỉ có nhu cầu đi tham quan các danh lam
thắng cảnh hay tìm hiểu về đất nước con người Việt Nam mà họ còn là các
thương gia, các nhà ngoại giao, các nhà chính trị hay là người đi thăm dò
thị trường ... Với tất cả các mục đích trên sẽ kéo theo nhu cầu ăn uống, nghỉ
ngơi, vui chơi hoặc tham gia hội nghị, hội thảo ... Vì vậy mà ở Việt Nam
hiện nay đã chú trọng cho đầu tư xây dựng mới nhiều khách sạn từ bình
dân đến cao cấp, từ tư nhân đến liên doanh hợp tác, xây dựng một cách
lành mạnh để có thể đáp ứng được nhiều nhu cầu đa dạng của khách du
lịch.
5
Trong những năm qua, với sự phát triển của ngành du lịch nói chung
thì sự đóng góp không nhỏ vào thành công chung của ngành phải kể đến
trước hêt là lĩch vực du lịch khách sạn. Các cơ sở này đã đóng vai trò quan
trọng trong hoạt động kinh doanh, nó làm thoả mãn những nhu cầu tất yếu
của khách du lịch về nghỉ ngơi, ăn uống... Và trong mỗi khách sạn thường
khách sạn. Đó là nhu cầu tất yếu của sinh viên ngành du lịch nói chung và
bản thân em nói riêng. Vì đi thực tế em sẽ có điều kiện để quan sát, làm
việc học tập tại các bộ phận trong khách sạn mà trước đây khi học ở truờng
chưa có điều kiện để thực hành để từ đó em nắm được những nhu cầu giữa
thực tế và lý thuyết được cung cấp trong qúa trình học tập.
Hơn nữa trong thời gian tới em phải trải qua kỳ thi tốt nghiệp tại
trường mà nhân viên buồng là phần quan trọng không thể thiếu trong kỳ thi
tới. Bởi vậy trong quá trình thực tập nếu làm tốt được công việc đó sẽ giúp
em tự tin hơn khi bước vào kỳ thi để đạt được kết quả tốt hơn.
Một lý do đặc biệt nữa là khi chọn để viết đề tài nhân viên kỹ thuật
phục vụ buồng em sẽ có điều kiện và nhận thức từ thực tế tại bộ phận
buồng, có dịp được quan sát tiến hành nghiên cứu hoạt động kinh doanh
buồng ngủ tại khách sạn, có dịp phục vụ nhiều đối tượng khách, từ đó giúp
em củng cố vững chắc kiến thức lý thuyết đã học và từ lý thuyết soi dọi lại
để hiểu sâu hơn bản chất của công việc diễn ra trong thực tế.
Khi đã có hiểu biết sâu rộng về lý thuyết sẽ giúp em nắm vững được
quy trình, cách thức phục vụ khách, có ý thức và tác phong đúng mực,
phong cách làm việc và thao tác kỹ thuật chuẩn và hợp lý hơn. Quá trình
tiếp cận thực tế còn giúp em rút ra được những kinh nghiệm quý báu cho
bản thân về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao trình độ ngôn ngữ,
cách giao tiếp ứng xử ...
Những lý do trên là động lực mạnh mẽ thúc đẩy em chọn nhân viên
kỹ thuật phục vụ buồng tại khách sạn Hà Nội Horison.
7
II. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ KHÁCH SẠN HÀ NỘI HORISON
1. Vị trí và đặc điểm của khách sạn.
Hà Nội Horison hiện nay là một trong những khách sạn lớn của
thành phố Hà Nội, có vị trí địa lí rất thuận lợi tại số 40 phố Cát Linh – Hà
Nội. Khách sạn được xây dựng trên khu đất của nhà máy gạch Đại La cũ,
với diện tích đất sử dụng trên 4000 m2, nằm trên vị trí chung tâm của thủ
Tầng 3,4,5: Đây là các tầng dùng làm văn phòng cho thuê.
Tầng 6 đến tầng 14 là các tầng chính dùng cho việc kinh doanh dịch
vụ lưu trú với tổng số 250 phòng, tiện nghi đầy đủ, phục vụ khách nghỉ
ngơi đạt tiêu chuẩn với giá hợp lý.
9
2. Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Bắt đầu từ năm 1991 khách sạn Ha Nội Horison là sự đầu tư lớn của
công ty TNHH Global Toserco; một công ty liên doanh giữa Indonesia PT
Global Metropolital Development và Hà Nội Tourism Service Company.
PT Global Metropolital Development Jarkata là một doanh nghiệp kinh
doanh ở nhiều lĩnh vực khác nhau, không chỉ trong lĩnh vực xây dựng bất
động sản mà còn cả trong lĩnh vực thương mại du lịch, chăm sóc sức khoẻ
và quản lý tài chính. Các hoạt động phát triển bất động sản của
Metropolital Development Group có liên quan đến hai công trình xây dựng
các công trình thương mại và văn phòng, thiết kế và xây dựng nhà ở và các
khu trung cư. Khách sạn năm sao Hà Nội Horison là sự đầu tư đầu tiên
trong lĩnh vực khách sạn ngoài đất nước Indonesia và là mục tiêu của tổ
chức để mở rộng đầu tư vào lĩnh vực khách sạn trên phạm vi quốc tế. Hà
Nội Tourism Service Company là một công ty nhà nước. Năm 1986, ngay
từ đầu nó đã là một tổ chức du lịch đa dịch vụ, đã tham gia vào hoạt động
dịch vụ nhà hàng, khách sạn và bất động sản. Bên cạnh, khách sạn Ha Nội
Horison cũng góp phần vốn với một số khách sạn khác ở Hà Nội. Hà Nội
Toserco được biết vì đầu tư vào hai loại đối tượng lớn Luxusy Tourist và
Backpacker.
Hà Nội Horison do tập đoàn SwissBel Hotel International điều hành.
Là một khách sạn quốc tế năm sao, trong sự phát triển không ngừng
của ngành du lịch khách sạn nói chung và nhu cầu đi du lịch ngày càng
tăng của con người. Khách du lịch có thể là những đoàn tour du lịch, khách
du lịch, hội thảo ... đưa đến đối tượngkhách đa dạng. Do đó để đáp ứng
được các nhu cầu kể trên Hà Nội Horison có mạng lưới hoạt động không
động nên còn nhiều lúng túng trong việc xây dụng thị trườngcả trong và
ngoài nước. Biện pháp thu hút khách và khả năng mở rọng kinh doanh còn
hạn chế do các yếu tố khách quan và chủ quan.
11
Tóm lại, trên đay là những thuận lợi và khó khăn của khách sạn Hà
Nội Horison. Nếu biết khai thác tận dụng một cách hợp lí các mặt thuận lợi,
khắc phục hay hạn chế được tối đa những khó khănthì chắc chắn khách sạn
sẽ thu hút và gây được sự chú ý của những đối tượng khách đến với khách
sạn. Điều này sẽ trực tiếp tác động đến tình hình kinh doanh và hiệu quả
kinh doanh của khách sạn.
III. TÌNH HÌNH KINH DOANH CỦA CÔNG TY
1. Các lĩnh vực kinh doanh chủ yếu và nguồn khách chủ yếu của
công ty
Các lĩnh vực kinh doanh chủ yếu.
Là một đơn vị kinh doanh dịch vụ, đặc điểm kinh doanh phục vụ của
khách sạn Hà Nội Horison cũng giống như những khách sạn khác là tổ
chức các hoạt động dịch vụ cơ bản như: kinh doanh lưu trú, kinh doanh
dịch vụ ăn uống, lữ hành, hội nghị, hội thảo...và các dịch vụ bổ xung cụ
thể.
Về hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trú: hiện nay khách sạn có khu
nhà mười bốn tầng được xây dựng và đưa vào hoạt động từ năm 1998 với
tổng số phòng lưu trú là 250. Nó bao gồm các loại phòng được trang bị đầy
đủ tiện nghi hiện đại, đạt tiêu chuẩn năm sao. Với số lượng phòng này,
khách sạn có khả năng phục vụ đông đảo khách lưu trú và đáp ứng khả
năng thanh toán của mọi đối tượng khách tuỳ theo chất lượng giá cả của
từng loại phòng.
Sơ đồ bảng giá các loại phòng trong khách sạn.
Loại phòng Phòng đơn Phòng đôi
Superior 90 USD 105 USD
Deluxe Room 100 USD 115 USD
có thể thưởng thức các món cá chiên, rau Nhật, trứng, súp, cơm và trà.
Tại nhà hàng, quý khách có thể ăn theo thực đơn có sẵn hoặc cũng có
thể ăn bữa ăn tự chọn theo khẩu vị và sở thích riêng với giá chỉ 6$ đối với
bữa trưa tại nhà hàng Á Lee Man Fong.
13
Với chương trình khuyến mại bữa trưa mùa hè tại nhà hàng Âu: Le
Mayer phục vụ bữa trưa tự chọn với các món ăn Việt Nam chỉ 4$ một
người. Các món ăn châu Á và châu Âu với món Carving, sup với nhiều
món tráng miệng chỉ 8$ một người.
Giá cả các món ăn đặc sản và món ăn thường tuỳ theo từng món mà
giá cả khác nhau:
Ví dụ : Tôm nướng với sốt lạc cay dùng với cơm tám : 8,6$
Súp theo ngày : 4$
Cá ngừ nướng với ngô : 13,8$
Sườn cừu hun khói với khoai tây nướng : 22,4$
Thịt bò hầm sốt Sacha : 12,7$
Ngoài ra nhà hàng còn nhận dặt tiệc cưới, hội nghị hội thảo, liên hoan, sinh
nhật ...và phục vụ linh động với các món ăn Âu, Ă, các món ăn đặc sản tiêu
biểu của khách sạn. Nhà hàng luôn có sẵn các loại thực đơn phục vụ tiệc
theo các mùa với các mức giá khác nhau.
Khách đến khách sạn có thể chọn thực đơn có sẵn của nhà hàng hoặc khách
và khách sạn có thể cùng xây dụng thực đơn riêng phù hợp với sở thích và
khả năng thanh toán của khách.
Ngoài ra nhà hàng còn phục vụ đồ uống với mức giá sau:
Bảng giá một số loại đồ uống ( Đơn vị tính USD )
Số TT Tên đồ uống Loại Giá
Rượu vang đỏ và trắng Cốc 5.75
Chai 24.75
Champagne Cốc 5.75
Bia 333 Chai 1.7
Bảng giá đồ giặt là của khách.
15
16
Tóm lại, với một số các loại hình kinh doanh dịch vụ hiện nay khách
sạn đã đáp ứng được khá đầy đủ các nhu cầu của khách. Vì vậy khách sạn
cần duy trì và nâng cao hơn nữa về số lượng và chất lượng các dịch vụ
nhằm đáp ứng ngày một phong phú hơn nhu cầu của khách. Việc này sẽ có
tác động rất lớn đối với việc thu hút khách cho khách sạn.
1.2. Nguồn khách chủ yếu của Công ty khách sạn.
Khách đến với khách sạn hiện nay chủ yếu là hai nguồn khách chính.
+ Khách do khách sạn tự khai thác như thông qua hệ thống đặt phòng
từ nhiều hãng đại lý trên thế giới như Swissair, Grossair, Austriu airline,
worldpar sahara có quan hệ với khách sạn.
+ Khách tự đến với khách sạn hoặc khách vãng lai
Ngoài ra còn có:
+Khách do một số khách sạn khác gửi đến và họ được hưởng phần
trăm hoa ồng.
+ Khách do các đại lý du lịch, các Công ty lữ hành trong nước gửi
đến và hưởng phần trăm hoa hồng.
Tuy nhiên khách từ hai nguồn khách này rất ít hoặc không đáng kể.
Các đối tượng khách từ trước đến nay bao gồm khách quen, khách
quốc tế, khách nội địa, khách là các thương gia, khách công vụ, khách du
lịch khách đến với khách sạn với nhiều mục đích khác nhau nên thời gian
lưu trú tại khách sạn cũng khác nhau và khả năng thanh toán và sử dụng
các dịch vụ trong khách sạn cũng khác nhau.
Từ khi khách sạn đi vào hoạt động đến nay thì số lượng khách có sự
tăng giảm và thay đổi tuỳ theo mùa, các tháng trong năm. Số lượng khách
đông nhất tập trung vào khoảng từ tháng 9 - tháng 3 và mùa vắng khách là
vào mùa hè. Vậy nên vấn đề đặt ra đối với nhân viên phục vụ trong khách
Doanh thu từ dịch vụ cho thuê Văn Miếu : 240.000USD
Doanh thu từ dịch vụ vui chơi giải trí và các dịch vụ khác: 240.000USD
Khách sạn đã nộp ngân sách: 288.000USD
18
Vấn đề này tiền lương của nhân viên trong khách sạn hiện nay tương
đối ổn định trung bình 90USD/người/tháng. Cùng với các chế độ ban hành
đối với người lao động nên đã tạo điều kiện ổn định mức sống của cán bộ
công nhân so với yêu cầu cải thiện đời sống thời hiện đại.
Tóm lại: là một khách sạn đã đi vào hoạt động được 5 năm. Trong
thời gian đi vào hoạt động khách sạn đã có nhiều cố gắng để nhanh chóng
ổn định và đẩy mạnh quá trình kinh doanh đã đáp ứng được nhu cầu đa
dạng của khách và phục vụ thành công vì nhiều hội nghị hội thảo cấp cao.
Song khách sạn vẫn còn gặp một số khó khăn hạn chế do nhiều nguyên
nhân cả chủ quan và khách quan.
* Nguyên nhân đạt được những thành tích trên.
Nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Nhà nước Sỏ du lịch thành phố
Hà Nội cùng các cấp các ngành chức năng của thành phố đã tạo điều kiện
giúp đỡ khách sạn trong quá trình kinh doanh.
Nhờ sự cố gắng nỗ lực của ban lãnh đạo và tập thể cán bộ công nhân
viên khách sạn luôn đoàn kết, tập trung, hăng hái lao động để xây dựng
khách sạn ngày một phát triển.
Do chất lượng phục vụ khách ngày một nâng cao, tập thể cán bộ
công nhân viên luôn không ngừng học hỏi, sáng tạo ra những sản phẩm
mới đáp ứng yêu cầu của khách và để đạt danh hiệu khách sạn có chất
lượng phục vụ tốt nhất.
3. Những điểm mạnh và hạn chế trong kinh doanh, một số giải
pháp làm tăng hiệu quả kinh tế của Công ty.
3.1. Những ưu thế thuận lợi trong kinh doanh
Sau 5 năm tổ chức hoạt động, tuy còn một số hạn chế song với
những kết quả đạt được đã đánh dấu một bước và ổn định của khách sạn
phố Hà Nội giao cho. Trên cơ sở đánh giá kết quả và những tồn tại trong
năm 2001. Đồng thời cung cấp vào khả năng điều kiện cơ sở vật chất kỹ
20
thuật và khả năng phát triển của khách sạn trong 2002 khách sạn tập trung
một số mục tiêu cơ bản sau:
* C ông tác sản xuất kinh doanh phục vụ
- Tổ chức sản xuất kinh doanh phục vụ
Tập trung cải tiến, nâng cao và duy trì danh hiệu khách sạn có dịch
vụ tốt nhất, kinh doanh phục vụ các dịch vụ cơ bản: LT, AU, dịch vụ Hội
nghị, hội thảo và các dịch vụ vui chơi giải trí.
Nghiên cứu triển khai mở rộng các dịch vụ khác tại khách sạn nhằm
thu hút ngày càng đông khách đến với khách sạn
- Các chỉ tiêu kinh tế
Trong năm 2002 khách sạn phấn đấu để đạt được các chỉ tiêu sau:
Tổng số lượt khách đến khách sạn: 110.000 Lượt
Tổng D: 3.560.000 USD
Trong đó:
Khách lưu trú: 75.000 Lượt công suất 75%
Khách ăn uống hội nghị: 35.000 Lượt đạt 65%
Khách quốc tế: 75.000 Lượt
Khách nội địa: 35.000 Lượt
D từ các dịch vụ
D buồng ngủ: 2.300.000 USD
D ăn uống: 680.000 USD
D cho thuê Văn Miếu: 300.000 USD
D vui chơi, dịch vụ khác: 280.000 USD
Nộp ngân sách: 356.000 USD
Kết quả kinh doanh lãi: 1.000.000 USD
Tổng quỹ lương: 284.400 USD Trong đó:
Lương bình quân: 90 USD/người/tháng
trong những nhiệm vụ cơ bản của khách sạn.
Trên cơ sở rút kinh nghiệm công tác 2001, cần thiết phải có sự chỉ
đạo một cách cụ thể hoạt động Marketing của khách sạn, phải coi đây là
một công tác quan trọng, có ý nghĩa lớn đối với hoạt động kinh doanh nói
chung và công tác hoạt động chiến lược kinh doanh trong từng giai đoạn
cũng như lâu dài của khách sạn.
22
Hoạt động Marketing phải đảm bảo được các mục tiêu: nghiên cứu
tình hình thị trường du lịch - khách sạn trong nước, nước ngoài và chính
của khách sạn. Tình hình diễn biến tâm lý, về số lượng của các đối tượng
khách sạn đến khách sạn. Tình hình chiến lược và khả năng phục vụ của
khách sạn, các yếu tố chính sách, biện pháp kinh tế, giá cả... Để từ đó có
những tham mưu đề xuất với ban giám đốc của khách sạn những ý kiến,
những biện pháp cải tiến nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Tăng cường công tác tiếp thị, tuyên truyền quảng cáo chào mời và
nắm bắt ý kiến của khách hàng để thu hút khách đến khách sạn ngày càng
nhiều, cũng như kịp thời điều chỉnh những thiếu sót mà khách hàng chưa
vừa lòng để kịp thời phục vụ khách ngày một tốt hơn.
* C ông tác tuyên truyền quảng cáo.
Cùng với việc tích cực củng cố và nâng cao chất lượng phục vụ uy
tín của khách sạn để thu hút khách đến khách sạn ngày càng nhiều. Khách
sạn coi trọng các thông tin tuyên truyền quảng cáo về hoạt động khách sạn
với nhiều hình thức khác nhau có chọn lọc trên phục vụ ngày một mở rộng.
Để gây ảnh hưởng lớn trên thị trường du lịch nhằm thu hút khách.
* C ông tác đoàn thể.
Tiếp tục ổn định và phát triển các hoạt động của các tổ chức đoàn thể
xã hội: công đoàn, đoàn thanh niên, phụ nữ... Thực hiện tốt sự lãnh đạo, chỉ
đạo của chi bộ, xây dựng quan hệ mật thiết giữa lao động doanh nghiệp với
ban chấp hành công đoàn, thanh niên, phụ nữ để thực hiện tốt các hoạt
động đoàn thể.
Tên bộ phận và
phòng ban
Số người
Giới tính
Nam Nữ
Tuổi trung
bình
1 Tổng giám đốc 01 01 - 60
2 Phó tổng giám đốc 01 - Nữ 30
3 Lễ tân
4 Nhà hàng
5 Buồng
6 Bảo vệ
7 Marketing
8 Sửa chữa
9 Kế toán
10 Nhân sự
Từ bảng số liệu trên ta thấy cơ cấu lao động của khách sạn được
phân bố tương đối hợp lý vì đây là một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ
nên tỷ lệ lao động gián tiếp nhỏ hơn lao động trực tiếp.
Lao động gián tiếp chiếm:
Lao động trực tiếp chiếm:
Hiện nay, toàn bộ hệ thống kinh doanh của khách sạn được chia làm
8 bộ phận, mỗi bộ phận gắn liền với chức năng hoạt động hình thành 1 hệ
thống các dịch vụ trong khách sạn. Đứng đầu mỗi bộ phận là các giám đốc,
các dịch vụ có liên quan chặt chẽ với nhau sản phẩm của khách sạn là công
sức đóng góp của các bộ phận và trở thành mối quan hệ khăng khít giữa
các tổ, tạo ra được nhiều khâu phục vụ. Với mô hình quản lý trên của
khách sạn đã giảm được các khâu chồng chéo và phân được rõ ràng được
chức năng của từng bộ phận. Chính vì vậy ta thấy mô hình quản lý tổ chức