Mục lục
Lời nói đầu ....................................................................................................3
Chương I: Những vấn đề cơ bản về xuất khẩu giấy ở Việt
Nam: ..................................................................................................................5
1.1. Tầm quan trọng của xuất khẩu giấy ở Việt Nam: ..............................5
1.1.1. Khái niệm và các phương thức xuất khẩu hàng hóa ............................5
1.1.2. Vai trò của xuất khẩu giấy của Việt Nam ..........................................10
1.2. Những nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu giấy của Việt Nam ........13
1.2.1. Những nhân tố thuộc ngành giấy Việt Nam: .....................................13
1.2.2. Những nhân tố ngoài ngành giấy Việt Nam: .....................................19
1.3. Thực trạng xuất khẩu của ngành giấy Việt Nam .............................23
Chương II: Thực trạng xuất khẩu sản phẩm giấy của công
ty cổ phần sản xuất và thương mại P.P: ......................................30
2.1. Đặc điểm của công ty cổ phần sản xuất và thương mại P.P: .........30
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty ..................................30
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của công ty .......................30
2.1.3. Đặc điểm các nguồn lực của công ty .................................................35
2.1.4. Kết quả SXKD của công ty những năm qua .....................................36
2.2. Phân tích thực trạng xuất khẩu sản phẩm giấy của công ty cổ phần
sản xuất và thương mại P.P: .........................................................................48
2.2.1. Phân tích thực trạng kết quả xuất khẩu sản phẩm giấy của công ty...48
2.2.2. Thực trạng hoạt động xuất khẩu sản phẩm giấy của công ty .............53
2.2.3. Phân tích hiệu quả xuất khẩu sản phẩm giấy của công ty ..................54
1
2.3. Đánh giá thực trạng xuất khẩu sản phẩm giấy của công ty cổ phần
sản xuất và thương mại P.P:..........................................................................58
2.3.1. Những thành tựu đã đạt được: ...........................................................58
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân: ........................................................59
2.3.3. Nguyên nhân của những tồn tại trên: .................................................60
Chương III: Phương hướng và biện pháp thúc đẩy xuất
khẩu sản phẩm giấy của công ty cổ phần sản xuất và
giá, những công ty bán lẻ tại Mỹ đã đổ xô đến thị trường Việt Nam để tìm đối tác
cho ngành hàng này. Đây là một cơ hội tốt cho toàn bộ ngành công nghiệp giấy
vở Việt Nam được thể hiện và khẳng định chất lượng sản phẩm của mình trên thị
trường quốc tế. Tuy nhiên, trên con đường phát triển, ngành giấy nước ta vẫn
còn vấp phải rất nhiều những khó khăn như thiếu vốn, trang thiết bị chưa đồng
bộ, trình độ công nghệ hiện đang ở mức dưới trung bình của thế giới, trình độ
quản lý còn yếu kém…
Công ty cổ phần sản xuất và thương mại P.P là một danh nghiệp chuyên nhập
khẩu, kinh doanh các nguyên phụ liệu phục vụ cho ngành giấy và công ty còn
mở rộng sản xuất và gia công các mặt hàng giấy vở xuất khẩu. Hoạt động xuất
khẩu của công ty tuy còn mới mẻ nhưng đã đạt được những thành tựu nhất định.
3
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những khó khăn và hạn chế. Vì vậy trong quá
trình thực tập ở công ty tôi đã quyết định chọn đề tài “Thúc đẩy xuất khẩu sản
phẩm giấy của công ty cổ phần sản xuất và thương mại P.P” làm chuyên đề
thực tập tốt nghiệp. Mục đích của đề tài là đánh giá thực trạng của hoạt động
xuất khẩu giấy của công ty cổ phần P.P, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp thúc
đẩy sản phẩm giấy của công ty.
Qua một thời gian ngắn thực tập tại công ty cổ phần sản xuất và thương mại
P.P, với sự giúp đỡ và hướng dẫn của GS.TS Hoàng Đức Thân và các cán bộ,
nhân viên công ty tôi đã hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp này. Tôi xin
chân thành cảm ơn GS.TS Hoàng Đức Thân và công ty cổ phần sản xuất và
thương mại P.P đã tận tình hướng dẫn và cung cấp những tài liệu quý báu giúp
tôi hoàn thành chuyên đề này.
Chương I: Những vấn đề cơ bản về xuất khẩu giấy ở Việt
Nam
1.1. Tầm quan trọng của xuất khẩu giấy ở Việt Nam:
4
1.1.1. Khái niệm và các phương thức xuất khẩu hàng hóa:
1.1.1.1. Khái niệm xuất khẩu hàng hóa:
hóa tại chỗ.
+ Đồng tiền thanh toán là ngoại tệ với một hoặc cả hai bên: Trong hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu, khi ký kết các hợp đồng thì các bên cần phải
thoả thuận rõ sẽ dùng đồng tiền của nước nào để thanh toán nhằm tránh các tranh
chấp có thể xảy ra khi tỷ giá hối đoái của các đồng tiền thay đổi. Trong kinh
doanh xuất nhập khẩu chủ yếu là thanh toán bằng ngoại tệ mạnh.
+ Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh mua bán ở phạm vi quốc tế, không
phải những hành vi mua bán riêng lẻ mà là cả 1 hệ thống quan hệ mua bán trong
2 nền thương mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài.
+ Xuất khẩu là hoạt động kinh tế đối ngoại có thể đem lại hiệu quả kinh tế
cao, nhiều mặt hàng ở thị trường trong nước có thể đang dư thừa, giá rẻ nhưng ở
thị trường nước ngoài lại khan hiếm và giá cao. Do đó, khi xuất khẩu các mặt
hàng đó doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận rất cao. Nhưng bên cạnh đó,
doanh nghiệp cũng có thể phải gánh chịu nhiều thiệt hại nặng nề do hoạt động
xuất khẩu mang lại như nó phải đối đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên
ngoài mà các chủ thể trong nước tham gia xuất khẩu không thể dễ dàng khống
chế được.
+ Các nghiệp vụ liên quan đến hoạt động xuất khẩu như: Thanh toán, ký kết
hợp đồng, thủ tục hải quan, vận chuyển... đều rất phức tạp và chứa đựng nhiều
rủi ro.
6
1.1.1.2. Các phương thức xuất khẩu hàng hóa:
a. Xuất khẩu trực tiếp:
Xuất khẩu trực tiếp là một phương thức giao dịch thương mại, trong đó người
bán (người xuất khẩu) và người mua (người nhập khẩu) quan hệ trực tiếp với
nhau (bằng cách gặp mặt, qua thư từ, điện tín) để bàn bạc thỏa thuận về hàng
hóa, giá cả và các điều kiện giao dịch khác.
Ưu điểm của xuất khẩu trực tiếp là:
- Cho phép người xuất khẩu nắm bắt được nhu cầu của thị trường về số
lượng, chất lượng, giá cả để người bán thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thị
- Đại lý: là thương nhân, họ tiến hành hoạt động xuất khẩu theo sự ủy thác
của người ủy thác, thù lao được hưởng là khoản tiền hoa hồng được tính trên
doanh số hoặc khối lượng công việc thực hiện được. Quan hệ giữa người ủy
thác với người đại lý thể hiện hợp đồng đại lý.
- Người môi giới: Là thương nhân trung gian giữa bên mua và bên bán, được
bên mua hoặc bên bán ủy thác tiến hành bán hoặc mua hàng hóa hay dịch vụ.
Khi tiến hành nghiệp vụ môi giới, người môi giới không đứng tên của chính
mình, mà đứng tên của người ủy thác, không chiếm hữu hàng hóa và không chịu
trách nhiệm cá nhân trước người ủy thác về việc khách hàng không thực hiện
hợp đồng. Quan hệ giữa người ủy thác với người môi giới dựa trên ủy thác từng
lần, chứ không dựa vào hợp đồng.
Ưu điểm của xuất khẩu qua trung gian:
8
- Người trung gian thường là những người am hiểu thị trường xâm nhập,
pháp luật và tập quán buôn bán của địa phương, họ có khả năng đẩy mạnh
buôn bán và tránh bớt rủi ro cho người ủy thác.
- Những người trung gian, nhất là các đại lý thường có cơ sở vật chất nhất
định, do đó khi sử dụng họ, người ủy thác đỡ phải đầu tư trực tiếp ra nước
tiêu thụ hàng.
- Nhờ dịch vụ của trung gian trong việc lựa chọn phân loại, đóng gói, người
ủy thác có thể giảm bớt chi phí vận tải.
Nhược điểm của xuất khẩu qua trung gian:
- Công ty kinh doanh xuất nhập khẩu mất sự liên hệ trực tiếp với thị trường.
- Vốn hay bị bên nhận đại lý chiếm dụng.
- Công ty phải đáp ứng những yêu sách của đại lý và môi giới.
- Lợi nhuận bị chia sẻ.
- Do những lợi hại nêu trên, trung gian chỉ được sử dụng trong những
trường hợp thật cần thiết như:
- Khi thâm nhập vào thị trường mới.
- Khi mới đưa vào thị trường một mặt hàng mới.
ổn định và kinh tế phát triển. Vì có nhiều thị trường nên có thể phân tán
rủi ro do cạnh tranh. Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp
đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Thông qua
cạnh tranh trong xuất khẩu, buộc các doanh nghiệp phải không ngừng cải
tiến sản xuất, tìm ra những cách thức kinh doanh sao cho có hiệu quả,
giảm chi phí và tăng năng suất.
10
- Xuất khẩu tích cực giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống người
dân. Xuất khẩu làm tăng GDP, làm gia tăng nguồn thu nhập quốc dân, từ
đó có tác động làm tăng tiêu dùng nội địa, đó là nhân tố kích thích nền
kinh tế tăng trưởng. Xuất khẩu gia tăng sẽ tạo thêm công ăn việc làm trong
nền kinh tế, nhất là trong ngành sản xuất cho hàng hoá xuất khẩu, xuất
khẩu làm gia tăng đầu tư trong ngành sản xuất hàng hoá xuất khẩu và đây
là nhân tố kích thích nền kinh tế tăng trưởng.
Theo ông Alain Chevalier, cố vấn cao cấp thương mại quốc tế, hoạt động
xuất khẩu của Việt Nam khá năng động trong những năm qua. Từ một nước
nhập khẩu Việt Nam trở thành quốc gia đứng hàng đầu về xuất khẩu gạo, cà phê,
hạt tiêu, hạt điều... Kim ngạch xuất khẩu đạt 9,2 tỷ USD năm 1997 tăng lên hơn
39,6 tỷ USD năm 2006 (tăng 22,1% so với năm 2005).
Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1997 - 2006
Kim ngạch xuất khẩu (tỷ USD)
0
5
10
15
20
25
30
35
40
15%-16%, sản lượng từ 80.000 tấn/năm đã tăng lên tới 824.000 tấn/năm. Nhưng
chủng loại giấy sản xuất trong nước vẫn rất nghèo nàn, chỉ có giấy in báo, giấy
in và viết, giấy bao gói (không tráng), giấy lụa. Năm 2006 sản xuất bột giấy ở
Việt Nam mới đáp ứng được 37% nhu cầu, còn lại vẫn phải nhập khẩu. Trước
đây chỉ nhập bột tẩy trắng, nay bột giấy không tẩy trắng ngày càng nhập nhiều,
vì các cơ sở phải ngừng sản xuất do không có khả năng xử lý nước thải và quy
mô nhỏ, công nghệ lạc hậu. Trình độ công nghệ của ngành giấy Việt Nam hiện
đang ở mức dưới trung bình của thế giới, nên chất lượng chỉ ở mức trung bình
thấp. Do lệ thuộc vào bột nhập khẩu nên sức cạnh tranh của ngành giấy yếu.
1.2. Những nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu giấy của Việt Nam:
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, toàn bộ nền kinh tế nói chung và mỗi
doanh nghiệp nói riêng luôn luôn phải chịu sự tác động của rất nhiều các nhân tố
chủ quan và khách quan, các qui luật thị trường. Xuất khẩu giấy của Việt Nam
12
không phải là ngoại lệ, nó chịu tác động của các nhân tố thuộc ngành giấy Việt
Nam và cả các nhân tố ngoài ngành giấy.
1.2.1. Những nhân tố thuộc ngành giấy Việt Nam:
1.2.1.1. Đặc điểm của ngành công nghiệp giấy và mặt hàng giấy:
Ngoài những đặc điểm cơ bản thuộc lĩnh vực sản xuất công nghiệp, ngành
công nghiệp giấy và các mặt hàng giấy có một số đặc điểm riêng nổi bật sau:
- Công nghiệp giấy là một ngành sản xuất công nghiệp mang tính tổng hợp.
Quá trình sản xuất giấy bao gồm một loạt các quá trình sản xuất hóa chất,
năng lượng từ công đoạn ban đầu – xử lý nguyên liệu, đến công đoạn cuối
cùng – gia công chế biến sản phẩm.
- Mỗi tấn sản phẩm giấy được sản xuất ra đòi hỏi phải thực hiện các quá
trình xử lý, chế biến khối lượng lớn nguyên liệu, tiêu tốn nhiều loại vật tư
hóa chất, năng lượng, điện, hơi nước... trên một hệ thống dây chuyền công
nghệ liên hoàn và đồng bộ, hoạt động theo phương pháp sản xuất liên tục
hoặc gián đoạn.
- Các sản phẩm giấy là những mặt hàng không thể thiếu được trong cuộc
vở học sinh, bao bì. Máy được thiết kế để có thể lắp lẫn hoặc thay đổi phụ tùng
là có thể sử dụng cho nhiều mục đích in khác nhau. Đặc biệt máy in cuốn Quốc
Hòa hoạt động ổn định với các loại giấy sản xuất trong nước. Giá bán máy in
cuốn Quốc Hòa chỉ bằng 1/3 giá thành của máy nhập khẩu từ Trung Quốc và chỉ
bằng 1/2 giá thành của máy đã qua sử dụng cùng kích thước tờ in. Tỷ lệ của phụ
tùng ngoại được lắp trên máy chỉ chiếm khoảng 10%.Qua thực tế sản xuất tại các
đơn vị sử dụng máy in cuốn Quốc Hòa thì cứ một tấn giấy, tiết kiệm được
600.000 đồng chi phí cho nguyên liệu giấy, nhân công, điện, mực in... Trung
14
bình mỗi năm chỉ riêng ngành sản xuất giấy vở học sinh đã sử dụng hết khoảng
40.000 tấn giấy cho in giấy vở học sinh thì ít nhất cũng tiết kiệm được vài chục
tỷ đồng. Công trình của anh giành giải thưởng sáng tạo khoa học công nghệ Việt
Nam và giải thưởng WIPO năm 2005.
1.2.1.3. Nguồn nguyên liệu sản xuất giấy:
Nguyên liệu (đối với các doanh nghiệp sản xuất) là một yếu tố thiết yếu để
tiến hành sản xuất kinh doanh do đó việc cung cấp nguyên vật liệu có ảnh hưởng
trực tiếp đến sản xuất kinh doanh và từ đó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp.
Theo Tổng công ty Giấy Việt Nam những nguyên liệu thường sử dụng trong
sản xuất giấy bao gồm:
* Nguyên liệu thô là gỗ lá rộng, thực vật mọc nhanh thuộc họ tre, nứa và
một phần nhỏ gỗ lá kim. Ngoài ra còn một phần không nhỏ giấy loại. Đồng thời
còn sử dụng một khối lượng lớn nguyên phụ liệu phụ như hoá chất, đá vôi, than
nước…
* Tre nứa là nguyên liệu lâu đời và sản xuất giấy có chất lượng cao. Tre
nứa được sử dụng để sản xuất giấy viết, giấy in, giấy bao gói và bao bì công
nghiệp. Hiện nay trong cơ cấu nguyên liệu của Tổng công ty tre nứa chiếm tỷ
trọng 60-70%, có gần 50 loại tre nứa, nhưng loại tre nứa được sử dụng chủ yếu
là: luồng, lồ, nứa.
* Gỗ thông là nguyên liệu được sử dụng chủ yếu trong công nghiệp chế
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng đang có những dây chuyền sản
xuất bột giấy từ giấy phế, có khả năng cạnh tranh tốt hơn. Tuy nhiên, năng lực
sản xuất bột giấy của các doanh nghiệp này cũng chưa đủ để cung ứng cho sản
xuất và vẫn còn phải nhập khẩu thêm bột giấy.
16
Trong khi đó, đa phần các nhà máy giấy khác mới đầu tư hoặc không chủ
động được nguồn bột giấy đều rơi vào tình trạng căng thẳng, sản phẩm làm ra có
giá thành cao, nếu bán với giá thị trường sẽ bị thua lỗ nặng. Do ngành giấy chưa
đầu tư được một nhà máy sản xuất bột giấy lớn nào đáng kể để cung cấp cho
toàn ngành, phần lớn các doanh nghiệp phải nhập khẩu nên phụ thuộc hoàn toàn
vào giá thế giới, mỗi năm phải nhập khẩu bình quân 130.000-150.000 tấn bột.
1.2.1.4. Trình độ quản lý của các doanh nghiệp:
Chi phí quản lý doanh nghiệp chiếm tỷ lệ % khá lớn trong tổng chi phí của
doanh nghiệp, trình độ quản lý của doanh nghiệp thể hiện ở việc xây dựng được
một cơ cấu tổ chức hợp lý và chi phí quản lý thấp. Nếu trình độ quản lý của
doanh nghiệp tốt sẽ tạo dựng lên được bộ máy quản lý gọn nhẹ, có hiệu lực, điều
này góp phần giảm chi phí quản lý trong giá thành sản phẩm.
Trình độ quản lý còn thể hiện ở việc doanh nghiệp biết sử dụng các phương
pháp và công cụ quản lý để kích thích khả năng sáng tạo của người lao động,
cống hiến nhiều hơn cho doanh nghiệp, góp phần làm tăng kết quả và giảm chi
phí kinh doanh một cách hợp lý, tức là nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
Người phát ngôn của Hiệp Hội Giấy cho rằng: trình độ quản lý của các doanh
nghiệp trong ngành còn hạn chế, cơ sở lớn thì vẫn mang dáng dấp kế hoạch hoá
của thời kỳ bao cấp, trong khi các cơ sở nhỏ thì nặng tính cách xí nghiệp gia
đình, sự hợp tác và liên kết trong ngành yếu, công nhân có giới hạn. Những gì
người phát ngôn của Hiệp Hội Giấy Việt Nam nói là một báo động đỏ cho các
doanh nghiệp ngành giấy Việt Nam, họ phải kịp thời đổi mới tư duy quản lý, kêu
gọi đầu tư liên kết, canh tân công nghệ, có kế hoạch đào tạo chuyên viên và thợ
lành nghề thì mới có thể tồn tại và phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế
đồng thời tiết kiệm được những chi phí do luật pháp không rõ ràng, không nhất
quán gây ra. Mức độ hoàn thiện, sự thay đổi và thực thi pháp luật trong nền kinh
tế có ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược kinh
doanh của doanh nghiệp.
Hiện nay tất cả các quốc gia trên thế giới đều sử dụng các biện pháp khác
nhau để bảo hộ nền sản xuất của nước mình như đánh thuế cao đối với hàng hoá
nhập khẩu, hạn ngạch, các quy định về tiêu chuẩn kĩ thuật, quy định về bảo vệ
môi trường... đặc biệt là ở các nước phát triển như Mỹ, EU, Nhật, Hàn Quốc thì
các biện pháp này được sử dụng tối đa. Ngoài ra các nước này còn có rất nhiều
nguồn hàng thay thế khác nhau. Do đó rất có thể vì quan hệ chính trị với các
nước mà họ có thể ưu tiên hàng hoá của các nước đó, và như vậy nó sẽ cản trở
việc tăng doanh thu xuất khẩu của ngành giấy nước ta.
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay thì việc các nước nhập
khẩu sử dụng các công cụ bảo hộ như thuế quan, hạn ngạch gặp phải sự phản
ứng hết sức mạnh mẽ từ các quốc gia xuất khẩu. Do đó để bảo hộ sản xuất trong
nước thì các nước này chuyển sang sử dụng các biện pháp khác như tiêu chuẩn
kĩ thuật, chống bán phá giá, qui định về bảo vệ môi trường... mà đây là những
yếu tố mà doanh nghiệp hiện nay đang rất yếu do không được đầu tư nhiều dây
chuyền máy móc hiện đại, đó cũng là một trong những hạn chế của các doanh
nghiệp Việt Nam, nó làm hạn chế việc nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu
của ngành giấy nước ta.
- Môi trường kinh tế: Những yếu tố kinh tế bao gồm các biến số về kinh
tế và tài chính như lãi suất, thuế suất, cơ cấu tiêu dùng, năng suất và
mức sản lượng. Các yếu tố đó còn bao gồm các chỉ số về hạ tầng cơ sở
như truyền thông, mạng lưới phân phối... mức độ sẵn có và mức phí
tổn về năng lượng.
19
Các yếu tố kinh tế và sự thay đổi của nó đều có tác động trực tiếp đến yếu tố
thị trường đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp. Do đó nó ảnh hưởng đến việc
tăng giảm các chỉ tiêu kết quả kinh doanh hoặc tăng giảm một số loại chi phí
kiện mở cửa của nền kinh tế hiện nay.
1.2.2.2. Hội nhập kinh tế quốc tế:
Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại cho Việt Nam rất nhiều cơ hội để phát
triển nền kinh tế, song bên cạnh đó là không ít những khó khăn, nhất là đối với
những ngành công nghiệp vốn được Nhà nước bảo hộ. Nhiều chuyên gia đã cảnh
báo: ngành giấy là một trong những ngành được bảo hộ đầu tiên chịu áp lực cạnh
tranh lớn khi bước vào hội nhập. Khi Việt Nam gia nhập WTO, những rào cản
về thương mại sẽ bị xóa bỏ, sản phẩm giấy của các nước có sức cạnh tranh cao
sẽ được đưa vào Việt Nam. Bên cạnh đó, môi trường đầu tư thông thoáng và cởi
mở hơn, sẽ thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào sản xuất giấy. Những
sản phẩm giấy có chất lượng cao, giá cả phù hợp sẽ có cơ hội phát triển, một số
nhà máy giấy 100% vốn nước ngoài với quy mô trung bình 100.000 tấn/năm
cũng sắp đi vào hoạt động... Điều này sẽ tạo ra khó khăn cho các cơ sở sản xuất
giấy của Việt Nam. Nhất là với những cơ sở nhỏ, sản xuất manh mún, công nghệ
lạc hậu và đặc biệt là các cơ sở sản xuất giấy bao bì sẽ không thể tồn tại được bởi
chất lượng không đáp ứng được nhu cầu. Trước thực tế này, nếu các doanh
nghiệp không đổi mới tư duy, tìm chỗ đứng trên thị trường, hoàn thiện công
nghệ, quản lý, đào tạo và hiệp lực cùng nhau để phát triển... chắc chắn sẽ nhận
phần thất bại.
Tóm lại có rất nhiều nhân tố tác động trực tiếp hay gián tiếp tới hoạt động
xuất khẩu giấy của các doanh nghiệp nói riêng và của cả ngành giấy Việt Nam
nói chung. Việc phân tích tác động của các nhân tố đó một cách thường xuyên
21
giúp tìm ra các biện pháp phát huy những nhân tố tích cực và hạn chế những
nhân tố tiêu cực nhằm thúc đẩy xuất khẩu giấy của nước ta.
1.3. Thực trạng xuất khẩu của ngành giấy Việt Nam:
Phân tích tình hình xuất khẩu của ngành giấy Việt Nam giai đoạn 2001 –
2007:
Khối lượng xuất khẩu: (Xem bảng 1)
BẢNG 1
2005 31.073
2006 38.244
2007 47.805
23
Từ bảng số liệu ta nhận thấy rằng năm 2001, 2002 kim ngạch xuất khẩu của
ngành giấy Việt Nam không cao, chỉ đạt 6.267 nghìn USD và 8.020 nghìn USD,
và mức độ tăng cũng rất thấp (1.753 USD). Năm 2003 kim ngạch xuất khẩu của
ngành đột nhiên tăng cao, đạt 17.530 nghìn USD, tăng gấp đôi năm 2002. Kim
ngạch năm 2004 là 23.392, tăng 33,44% so với năm 2003. Năm 2005 kim ngạch
xuất khẩu đạt 31.073 nghìn USD, tăng 32,84%. Năm 2006 xuất khẩu đạt 38.244
nghìn USD, tăng 23,08% so với năm 2005. Năm 2007 đạt 47.805 nghìn USD,
tăng 25%. Tuy kim ngạch xuất khẩu đều tăng qua các năm nhưng tốc độ tăng lại
không đều.
Thị trường xuất khẩu:
Những nỗ lực trong thời gian qua đã giúp ngành giấy Việt Nam tìm kiếm
được nhiều bạn hàng làm ăn tin cậy và thị trường xuất khẩu đầy tiềm năng.
Ngoài Nhật Bản là thị trường truyền thống, ngay từ năm 2000, các doanh nghiệp
xuất khẩu các sản phẩm giấy của nước ta đã mở rộng thị trường sang nhiều nước
khác nhau. Kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam với một số doanh nghiệp của
Malaysia, Đài Loan đã được thiết lập và có nhiều triển vọng. Xuất khẩu giấy
Việt Nam vẫn tiếp tục thực hiện đa phương hoá các quan hệ kinh tế và kỹ thuật
với nhiều nước trên thế giới, xây dựng các thị trường trọng điểm và bạn hàng
chủ yếu để việc xuất khẩu có hiệu quả hơn.
Một số doanh nghiệp xuất khẩu giấy lớn của Việt Nam:
Công ty Giấy Bãi Bằng:
Tiền thân của công ty Giấy Bãi Bằng là nhà máy giấy Vĩnh Phú, được khởi
công xây dựng năm 1974. Đây là nhà máy liên hợp bột và giấy, công trình viện
trợ không hoàn lại của Chính phủ và nhân dân Thụy Điển gồm từ khâu thiết kế
đến xây dựng và giúp đỡ về mọi mặt, kể cả về nhân lực. Năm 1982, khánh thành
toàn bộ dây chuyền sản xuất đi vào hoạt động đồng bộ với tên gọi Nhà máy Giấy