1
TĂNG TRƯỞNG VÀ 3 MỐI QUAN HỆ CỦA
NGÀNH NÔNG NGHIỆP
Phạm Quang Diệu
Viện Kinh tế Việt Nam
Email: ; ĐT: 0902153335
15/9/2010
Trong những năm qua tăng trưởng khá nhanh của nông nghiệp Việt Nam cùng với sự
bùng nổ xuất khẩu của một số ngành hàng nông sản không chỉ hỗ trợ nguồn lực quan
trọng để Việt Nam tiến hành công nghiệp hóa, mà còn là khu vực đệm an toàn cho
quốc gia khi nền kinh tế gặp suy giảm và tác động khủng hoảng của bên ngoài. Vai
trò và năng lực của ngành nông nghiệp vì thế mà có thể đã được đánh giá đến một
mức độ quá cao trong khi đang xuất hiện những nhân tố thể hiện sự yếu kém ảnh
hưởng đến khả năng duy trì tăng trưởng trong dài hạn. Đó là những hạn chế trong 3
mối quan hệ lớn của ngành nông nghiệp, gồm có: nông nghiệp-công nghiệp; nông
nghiệp và đầu ra thị trường; nông nghiệp và đầu vào sản xuất. Trong 20 năm đổi mới
vừa qua, mặc dù công nghiệp tăng trưởng mạnh và nông nghiệp tăng trưởng khá
nhanh nhưng sự tương tác liên kết còn hạn chế, khu vực công nghiệp và dịch vụ không
rút được lao động ra khỏi nông nghiệp ở quy mô lớn. Trong khi đó,ở hai mối quan hệ
còn lại tính “phụ thuộc” vào các yếu tố bên ngoài ngày càng lớn của ngành nông
nghiệp Việt Nam ở cả các thị trường nguồn nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất và
cả những sự biến thiên của thị trường đầu ra. Trong xu hướng tính biến thiên và bất
định của thị trường toàn cầu ngày càng lớn thì tính phụ thuộc của ngành nông nghiệp
ngày càng bộc lộ, trở thành một thách thức đảm bảo tăng trưởng bền vững. Khía cạnh
này của sự phát triển đang đặt ra những thách thức cho cách tiếp cận trong hoạch
định chiến lược chính sách cũng như công tác nghiên cứu tư vấn chính sách tăng
trưởng nông nghiệp trong dài hạn. 3
1. DẤU HIỆU BƯỚC VÀO GIAI ĐOẠN TĂNG TRƯỞNG THẤP?
Đối với nhiều nước đang phát triển, sự yếu kém của khu vực nông nghiệp nông thôn
là gánh nặng cho nền kinh tế nhưng với Việt Nam những gì đã diễn ra trong hơn 2
thập kỷ qua kể từ khi đổi mới lại chứng minh cho trường hợp ngược lại. Trong những
thời điểm quan trọng của nền kinh tế như bắt đầu công cuộc đổi mới 1991, hay khủng
hoảng tài chính Đông Nam Á 1997, khủng hoảng kinh tế toàn cầu và suy giảm vĩ mô
năm 2008 cho thấy ngành nông nghiệp trở thành trụ đỡ của nền kinh tế. Tốc độ tăng
trưởng khá cao của ngành nông nghiệp cùng với sự ổn định của khu vực kinh tế nông
thôn đã là chỗ dựa hậu thuẫn cho toàn bộ nền kinh tế trước những cú sốc từ bên ngoài
hay các bất ổn nội tại. Nông nghiệp không chỉ hoàn thành sứ mệnh quan trọng trong
việc đảm bảo an ninh lương thực, cung cấp lao động cho công nghiệp, mà xuất khẩu
nông lâm thủy sản tăng trưởng mạnh mẽ đã đem lại một nguồn thu ngoại tệ quý giá để
Việt Nam tiến hành công nghiệp hóa.
Sự thành công đáng kể của ngành nông nghiệp như vậy đang dẫn đến một xu hướng
đánh giá cao vai trò và vị thế của ngành nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Đây là một
cách nhìn hợp lý trong bối cảnh xu hướng thiên lệch cho phát triển các ngành công
nghiệp thâm dụng vốn và được bảo hộ có nguy cơ làm cho nền kinh tế sẽ phải trả giá
cho phát triền bền vững trong dài hạn. Tuy nhiên, vị thế và vai trò lớn hơn không đồng
Nhưng có một khía cạnh bất ổn mang tính cơ cấu đang ngày càng lộ diện đe dọa đến
sự tăng trưởng bền vững của nông nghiệp Việt Nam đó là những yếu kém trong “3
mối quan hệ lớn” của ngành, gồm có (i), nông nghiệp với công nghiệp; (ii), nông
nghiệp với đầu vào phục vụ sản xuất nông nghiệp; (iii), nông nghiệp với thị trường
đầu ra.
Trong mối quan hệ thứ nhất, tương tác giữa nông nghiệp và công nghiệp có vai trò
quan trọng không chỉ đối với bản thân ngành mà còn cả đối với sự chuyển dịch cơ cấu
của cả nền kinh tế. Nông nghiệp sẽ có điều kiện phát triển nhanh hơn nếu công nghiệp
có sự gắn kết mạnh với nông nghiệp, đặc biệt là rút được lao động ra khỏi khu vực
nông nghiệp, và sự phát triển của nông nghiệp cũng hỗ trợ cho công nghiệp hóa tiến
hành thuận lợi.
5 Trong mối quan hệ thứ hai và thứ ba, ngành nông nghiệp ngày càng thể hiện theo xu
hướng sự phụ thuộc ngày càng tăng với các nguồn cung ứng đầu vào và thị trường đầu
ra. Trong những năm qua thị trường quốc tế có xu hướng biến động ngày càng lớn, thì
tính phụ thuộc này càng bộc lộ, sức khỏe của ngành nông nghiệp biến thiên theo sự ổn
định hay trồi sụt của các yếu tố không nằm ở trong phạm vi kiểm soát và khó dự đoán
được của các chủ thể của ngành, từ các nhà hoạch định chính sách; doanh nghiệp kinh
doanh hay ở cấp độ các hộ nông dân nhỏ lẻ. Như vậy, ngành nông nghiệp Việt Nam
với những lợi thế về tài nguyên, nguồn lực con người nhưng đang dần trở nên bất lợi
và rủi ro hơn trong một bối cảnh ngày càng biến động
2. NÔNG NGHIỆP TRONG CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU KINH TẾ VIỆT
NAM VÀ CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC
Kinh nghiệm của các nền kinh tế công nghiệp hóa nhanh cho thấy sự tăng trưởng khá
Thay đổi tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động và tỷ trọng GDP
nông nghiệp trong tổng GDP của các nền kinh tế vào các thời điểm 1981- 1991 -
2002 - 2009
Nguồn: Số liệu các nước từ ADB; Số liệu của Việt Nam từ TCTK.
Nhìn vào xu thế chuyển đổi cơ cấu kinh tế của các nền kinh tế trong khu vực cho thấy
khoảng cách còn khá xa giữa Việt Nam so với các nước trong chuyển đổi cơ cấu lao
động, tỷ trọng lao động nông nghiệp vẫn còn cao trong khi tỷ trọng GDP nông nghiệp
7
trong nền kinh tế thấp. Như vậy, khu vực công nghiệp và dịch vụ đã không thành công
trong việc rút lao động ra khỏi nông nghiệp, và với một lực lượng lao động lớn và quy
mô sản xuất nhỏ thì khả năng để phát triển sản xuất hàng hóa đem lại sức cạnh tranh
và hiệu quả kinh tế cao sẽ ngày càng bị suy giảm. Xu hướng cho 3 giai đoạn 1981-
1991-2002-2009 của Việt Nam so với các nước cho thấy xét trên góc độ chuyển đổi
lao động nông nghiệp Việt Nam của năm 2009 đang tương đương với các nước trong
khu vực vào thời điểm 1991.
Nếu xu hướng lao động tiếp tục ở lại khu vực nông thôn không được cải thiện nhanh,
trong khi đất đai có hạn dẫn đến đất nông nghiệp trên đầu người ngày càng giảm, năng
suất lao động giảm, thu nhập thấp, đẩy một lực lượng lớn lao động trở nên dư thừa và
có xu hướng thoát li ra khỏi các hoạt động sản xuất nông nghiệp truyền thống. Hơn
nữa, bản thân sản xuất nông nghiệp cũng diễn ra xu hướng áp dụng công nghệ sử dụng
nhiều vốn thay thế lao động, nên nông nghiệp không những không có đủ khả năng thu
hút thêm lao động mà còn đẩy bớt lao động ra.
Xu hướng trên sẽ gây ra ít nhất hai hậu quả nghiêm trọng. Thứ nhất, xét trên bình diện
tổng thể vĩ mô, nền kinh tế bị chia cắt làm hai khu vực gồm thành thị hiện đại, tăng
lợi ích kinh tế thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Khủng hoảng kinh tế thế giới
2008 xảy ra với tăng giá của nhiều mặt hàng lương thực đã giúp cho kim ngạch xuất
khẩu tăng mạnh, tuy nhiên năm 2009 suy giảm kinh tế đã làm giảm kim ngạch xuất
khẩu của hầu hết các mặt hàng nông sản chủ lực.
Kim ngạch xuất khẩu nông - lâm - thủy sản và nhập khẩu nông lâm thủy sản của
Việt Nam giai đoạn 2001-2009 (triệu USD)
Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Hải quan.
Việt Nam cũng chưa hình thành các định hướng chiến lược và cả nghiên cứu tư vấn
chuyên sâu đối với các ngành hàng nông sản cụ thể. Các Viện và đơn vị tham mưu
mới dừng lại ở các phân tích thương mại nông lâm thủy sản chung chung, nên công
tác hoạch định chiến lược thiếu luận cứ khoa học để đưa ra các định hướng chiến lược
9
phát triển xuất khẩu cho các ngành hàng chiến lược cụ thể cũng như các ngành hàng
có tiềm năng trong tương lai. Thiếu thông tin phân ngành chi tiết cũng là trở ngại cho
công tác điều hành chính sách ngắn hạn đạt được hiệu quả cao. Bên cạnh đó, cũng
thiếu các nghiên cứu bài bản về cơ chế vận hành và hiệu quả hoạt động của các tổ
chức hiệp hội hoặc thể chế hỗ trợ xuất khẩu.
Mặt khác, trong khi các nỗ lực về mặt chiến lược phát triển ngành tập trung vào thúc
đẩy xuất khẩu thì thị trường nội địa với những lợi ích to lớn của quy mô dân số lớn 84
triệu dân, thu nhập và chi tiêu tăng mạnh, đặc biệt là tầng lớp dân cư đô thị, lại để cho
các doanh nghiệp nước ngoài chiếm lĩnh. Số liệu theo chuỗi thời gian 2001-2009 cho
thấy trong khi xuất khẩu nông lâm thủy sản tăng 4,8 lần thì kim ngạch nhập khẩu nông
lâm thủy sản đã tăng 2,9 lần từ mức 1,7 tỷ USD lên gần 5 tỷ USD.
Một trong những yếu tố căn bản dẫn đến sản xuất của nhiều ngành hàng nông sản chủ
cùng một lúc: (i), đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, (ii), giữ cho giá gạo nội địa ở
mức thấp để kiềm chế lạm phát và; (iii), đạt được hiệu qua kinh doanh xuất khẩu gạo
cao, đem lại lợi ích cho chủ thể kinh doanh lúa gạo, đặc biệt là người nông dân. Xu
hướng thị trường gạo trong nước và quốc tế cho thấy, trong khi hai mục tiêu đầu tiên
Việt Nam đạt được khá tốt, trong khi mục tiêu hiệu quả kinh doanh chưa đạt được như
mong muốn.
Bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh
Mục tiêu của Chính phủ đối với người nông dân trồng lúa gạo luôn hướng vào tăng
thu nhập với chỉ tiêu định lượng đảm bảo mức lãi trên 30%. Nhưng mục tiêu này
trong những năm gần đây đang khó đạt được. Khi thị trường xuất khẩu gặp khó khăn,
giá lúa thấp thì việc điều tiết chủ yếu là để doanh nghiệp tự do xuất khẩu nhằm mua
lúa tồn trong dân, còn khi thị trường thế giới đạt mức giá cao, là cơ hội tốt để doanh
nghiệp đạt lợi nhuận cao và sẵn sàng thu mua lúa giá cao của người nông dân, nhưng
nếu đang có áp lực lạm phát đối với nền kinh tế thì chính sách điều hành lại thiên về
hạn chế xuất khẩu. Kết quả là doanh nghiệp thường cố gắng xuất khẩu khi chính sách
điều hành nới lỏng và thường là lúc giá gạo thế giới thấp, nên doanh nghiệp chỉ cần ký
được hợp đồng và quay lại ép giá nông dân.
Số liệu thực tế cho thấy rõ xu hướng này. Năm 2008 và 2009, lượng gạo xuất khẩu và
diễn biến giá xuất khẩu của Việt Nam luôn có chiều hướng nghịch nhau, khi thị
trường đạt mức cao nhất thì lo ngại về an ninh lương thực và lạm phát trong nước cao
đã dẫn đến thực thi chính sách ngưng xuất khẩu. Trong khi đó, lượng gạo xuất khẩu
của Thái Lan luôn theo sát diễn biến của giá gạo, và luông đạt mức cao trong các thời
điểm giá gạo đạt đỉnh. So với xu thế xuất khẩu của hai nước thì lượng gạo xuất khẩu
của Việt Nam có sự biến thiên mạnh hơn nhiều so với Thái Lan không hẳn chỉ vì yếu
11
tố diễn biến giá. Điều này phản ánh phần nào từ tác động của cơ chế điều hành cũng
hướng dẫn này có thể được coi như là một biện pháp hạn chế xuất khẩu.
Giá xuất khẩu (7/1/2010-28/8/2010) và giá hướng dẫn cho loại gạo 5% tấm các
ngày 23/8/2010 và 28/8/2010
Nguồn: Giá hướng dẫn trích trên trang web của VFA, Giá gạo xuất khẩu theo Cở
sở dữ liệu của AgroMonitor
Giá xuất khẩu (7/1/2010-28/8/2010) và giá hướng dẫn cho loại gạo 5% tấm các
ngày 23/8/2010 và 28/8/2010
Nguồn: Giá hướng dẫn trích trên trang web của VFA, Giá gạo xuất khẩu theo Cở sở
dữ liệu của AgroMonitor
Những động thái này đang phản ánh chính sách thắt chặt xuất khẩu của Việt Nam.
Nguyên nhân rất có thể có những lo ngại từ phía ổn định cán cân vĩ mô hơn là các tính
toán đơn thuần về ổn định cung cầu lúa gạo, cũng như tính toán chiến lược trữ hàng
dựa vào dự báo giá gạo thế giới cao hơn sẽ mở cửa cho xuất khẩu. Theo kết quả số
liệu tháng 8 của Tổng cục Thống kê, xu hướng giá cả nhiều mặt hàng đang rục rịch
13
tăng giá, và những tháng cuối năm thường cho thấy giá cả có xu hướng tăng lên. Nếu
cho phép thị trường nội địa và quốc tế liên thông tự do trong bối cảnh giá gạo quốc tế
tăng ở mức cao, nhu cầu xuất khẩu gạo nhiều sẽ dẫn đến doanh nghiệp xuất khẩu tăng
cường thu mua lúa gạo trong dân trong khi lượng dự trữ trong dân không còn dồi dào
cộng với yếu tố tác động tâm lý sẽ đẩy giá lúa gạo nội địa tăng, áp lực đối với mặt
bằng giá chung gia tăng, ảnh hưởng đến lạm phát và có khả năng đe dọa mục tiêu ổn
định vĩ mô của Chính phủ vào những tháng cuối năm.
Rất có khả năng, chính sách thận trọng đối với xuất khẩu gạo sẽ được duy trì đến khi
Kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam đến các thị trường theo tháng (1/2008-
7/2010)
Nguồn: Tổng cục Hải quan.
Cùng một chủng loại gạo của Việt Nam và Thái Lan không có sự khác biệt quá lớn về
giá
1
. Tuy nhiên, sự khác nhau về chủng loại gạo xuất khẩu của hai nước cho thấy mức
giá khác nhau rất lớn giữa hai nước, trong khi giá gạo thấp nhất của Thái Lan là gạo
trắng cũng gần tương đương với loại gạo chiếm tỷ trọng cao của Việt Nam, còn gạo
thơm và Mali cho mức giá cao hơn rất nhiều so với đa phần gạo của Việt Nam, và
ngang bằng với gạo giống Nhật vốn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu xuất khẩu gạo
của Việt Nam.
Cơ cấu gạo xuất khẩu của Việt Nam trung
bình 7 tháng 2010
Cơ cấu xuất khẩu gạo của Thái Lan trung
bình 7 tháng 2010
1
Giá gạo 5% tấm Việt Nam và Thái Lan chỉ có sự khác biệt khá lớn vào năm 2009 khi chính sách thu mua tạm
trữ của Thái Lan có mức giá cao nên không thể xuất khẩu ra thị trường thế giới với mức giá thấp cạnh tranh với
Việt Nam được.
15 Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trung
bình 7 tháng 2010
5. NÔNG NGHIỆP VÀ NGUYÊN LIỆU ĐẦU VÀO – PHỤ THUỘC
NHẬP KHẨU VÀ ÁP LỰC LÊN CÁC NGÀNH SẢN XUẤT NỘI ĐỊA
Nguyên liệu đầu vào cho sản xuất nông nghiệp ngày càng có một vai trò sống còn đối
với phát triển nông nghiệp Việt Nam bởi lẽ những năm qua sản xuất nông nghiệp càng
tăng trưởng nhanh, nhu cầu sử dụng nguồn nguyên liệu đầu vào càng lớn. Ngoài ra, cú
sốc giá dầu mỏ năm 2008 kéo theo xu hướng phát triển nhiên liệu sinh học với đầu
vào là các ngành cũng thuộc nhóm nguyên liệu đầu vào như ngô, mía đường,
sắn…cộng hưởng với sự phát triển mạnh mẽ của nhu cầu của các ngành này từ Trung
Quốc cho phát triển ethanol và công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi đã làm cho
“cầu kéo” đẩy giá các mặt hàng này lên cao, tạo ra những cơ hội thuận lợi cho sự phát
triển của một số ngành hàng trên của Việt Nam. Ngoài các ngành hàng này, một số
nguyên liệu vật tư đầu vào khác như phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực
vật…cũng là nguồn đầu vào quan trọng cho các ngành sản xuất nông sản của Việt
Nam. Tuy nhiên, Việt Nam đang thiếu một định hướng phát triển ở tầm vĩ mô cũng
như khai thác lợi ích kinh doanh ở tầm vi mô đối với các ngành hàng nguyên liệu đầu
vào chiến lược.
Sự tăng trưởng sản xuất nông nghiệp hướng mạnh vào xuất khẩu với lợi ích đem lại
nguồn thu ngoại tệ đã có xu hướng công tác định hướng chiến lược và chính sách chú
trọng vào thúc đẩy sản xuất, và mới đây đã có quan tâm hơn đến thương mại nông
sản. Trong bối cảnh như vậy, các nỗ lực của doanh nghiệp Việt Nam mới hướng các
nguồn lực đầu tư cho thương mại nông sản, trong khi cũng chưa đủ lực và định hình
chiến lược dài hạn chú trọng phát triển sản xuất và đầu tư cho vùng nguyên liệu. Đây
cũng là một thị trường rộng lớn và là một khoảng trống cho các doanh nghiệp nước
17
ngoài với các ưu thế về công nghệ, nguồn lực tài chính đang tận dụng khai thác. Số
liệu nhập khẩu vật tư nông nghiệp đã tăng từ chỉ ở mức 500 triệu USD lên đến 3,7 tỷ
(tương đương tăng 133%) so với năm 2008, đạt con số kỷ lục trong lịch sử là 300,21
triệu USD.
Không chỉ tăng nhập khẩu ngô mà nhập khẩu một mặt hàng nguyên liệu khác có
chung nhiều thành phần với ngô là DDGS
2
trong năm 2009 cũng có xu hướng tăng
tương đối mạnh. Số liệu của Hải quan cho hay kim ngạch nhập khẩu DDGS của Việt
Nam trong năm 2009 đạt 67,92 triệu USD, tăng 7,23 triệu USD (tương đương tăng
12%) so với năm 2008, chiếm 3,16% tỉ trọng nhập khẩu các loại TACN (con số này
của năm 2008 chỉ là 2,51%). Trong khi đó, xuất khẩu ngô của Việt Nam trong năm
2009 chỉ đạt 730 nghìn USD, giảm tới 83,6% so với năm trước đó.
Kim ngạch nhập khẩu ngô và DDGS của Việt Nam theo tháng, 2008-2010 (triệu
USD)
Nguồn:Tổng cục Hải quan
Nguyên nhân nào cho sự tặng trưởng đột biến đó?
Năm 2009, tình trạng thu hẹp diện tích gieo trồng các loại hoa màu đặc biệt là diện
tích trồng ngô tại các địa phương khu vực phía Tây Bắc gia tăng đột biến trong bối
cảnh đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, đô thị hóa tăng nhanh và dịch bệnh phát
triển. Tính chung, diện tích gieo trồng ngô cả nước trong năm 2009 chỉ còn 1,09 triệu
ha, giảm mạnh 53,4 nghìn ha (tương đương giảm 4,68%) so với năm 2008. Ngoài ra,
2
DDGS là sản phẩm phụ giàu protein của quá trình sản xuất ethanol từ ngô và mía. DDGS bao gồm protein,
chất béo, chất xơ và khoáng chất. Tại Việt Nam hiện nay DDGS ngày càng được sử dụng rộng rãi để thay thế
ngô trong thức ăn chăn nuôi bò thịt, bò sữa, và thậm chí cho thức ăn gia cầm và thuỷ cầm.
19
Đầu tư xây dựng công tác thông tin và dự báo thị trường hỗ trợ cho cộng đồng kinh
doanh nông sản và tư vấn cho công tác điều hành thị trường ngắn hạn của Chính phủ
và Bộ ngành.
Cần triển khai các nghiên cứu về thể chế xuất khẩu nông sản cũng như các chương
trình nghiên cứu hội nhập và thị trường quốc tế dài hạn để từ đó đề xuất các chính
sách đổi mới cơ chế điều hành cũng như tăng cường năng lực hạ tầng “mềm” bao gồm
các chiết thế, chính sách, khung khổ cho các tổ chức đảm trách và cơ chế vận hành,
cũng như hạ tầng “cứng” bao gồm hệ thống kho tàng dự trữ, phục vụ cho xuất khẩu
tăng trưởng bền vững.
Để thúc đẩy công nghiệp chế biến nông sản phát triển cần tăng cường công tác nghiên
cứu về môi trường đầu tư nông thôn, đi đôi với đó là sự hình thành một bộ máy
chuyên trách hỗ trợ các dòng vốn đầu tư vào khu vực nông thôn.
Định vị lại chiến lược phát triển ngành hàng chiến lược lúa gạo, hình thành một tổ
chức của Nhà nước chuyên lo về an ninh lương thực, còn các doanh nghiệp chỉ làm
kinh doanh. Tổ chức này với các công cụ về hệ thống kho dự trữ quy mô và hiện đại
do Nhà nước đầu tư và nguồn lực tài chính sẽ thực hiện chính sách thu mua như một
van điều tiết đối với thị trường nội địa và xuất khẩu, đảm bảo chính sách thu mua có
lợi cho người nông dân, và xuất kho dự trữ bán cho doanh nghiệp xuất khẩu khi giá
đạt cao trên thị trường thế giới.