nghiên cứu - trao đổi
18 tạp chí luật học số 11/2009 Ths. Bùi Minh Hồng *
1. Nhng vn c bn trong phỏp lut
Cng hũa Phỏp v ch ti sn theo tho
thun ca v chng (Les rộgimes matrimoniaux
conventionnels)
1.1. Nguyờn tc t do la chn ch ti
sn trong hụn nhõn
Nguyờn tc ny bt ngun t vic thc
hin nguyờn tc t do kớ kt hp ng ó
c tha nhn Phỏp t th k XVI, khi m
nhng quan h kinh t, thng mi phỏt trin
mnh. T thi kỡ ú, lut phỏp v tp quỏn
ó tha nhn nhng s tho thun ca v
chng v ch ti sn phự hp vi hon
cnh kinh t ca h nh l quyn t do cỏ
nhõn. B lut dõn s (BLDS) nm 1804 ra
i ó k tha tinh thn ny v duy trỡ
nguyờn tc khụng thay i nhng tho thun
ca v chng v ch hụn sn.
(1)
o lut ngy 13/7/1965 v ci cỏch ch
thay i. S thay i ny cú th c thc
hin trc khi kt hụn hoc trong thi kỡ hụn
nhõn. Theo iu 1394 BLDS, nhng tho
thun v ch ti sn ca v chng phi
c tin hnh vi s tham gia ca cụng
chng viờn, theo nhng th thc nht nh.
* Ging viờn Khoa lut dõn s
Trng i hc Lut H Ni nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ
luËt häc sè
11
/2009
19
1.2. Nội dung của hôn ước
Chứng thư thể hiện sự thoả thuận của
người kết hôn hay của vợ chồng về chế độ
tài sản của họ trong hôn nhân được gọi là
“Contrat de mariage” (tạm dịch là hôn ước).
(2)
Về bản chất, hôn ước chỉ chứa đựng những
thoả thuận của vợ chồng về các cách thức
thực hiện các quan hệ tài sản mà không đề
cập các vấn đề nhân thân của họ. Các quyền
và nghĩa vụ nhân thân của vợ và chồng, vì có
Ngoài ra, vợ chồng cũng có quyền tuyên bố
về việc áp dụng chế độ tài sản khác, tuy
nhiên điều này rất hiếm xảy ra.
Thứ hai, trong chế độ tài sản đã lựa
chọn, các bên có quyền tự do đưa ra những
điều khoản quy định về các vấn đề cụ thể.
Nếu đó là một trong những chế độ tài sản
được dự liệu trong BLDS, họ có quyền thiết
lập những điều khoản bổ sung cho những
quy định của luật hoặc sửa đổi những quy
định đó. Chẳng hạn, vợ chồng có thể liệt kê
những tài sản mà mỗi bên có trước khi kết
hôn; tặng cho nhau tài sản; thoả thuận về
việc quản lí tài sản chung, riêng; về việc
đóng góp tài sản vì nhu cầu chung của gia
đình; thoả thuận về việc phân chia tài sản khi
chấm dứt chế độ tài sản
1.2.2. Những giới hạn về nội dung của
hôn ước
Theo luật định, vợ chồng có quyền tự do
lập hôn ước. Tuy nhiên, quyền tự do thoả
thuận trong hôn ước của vợ chồng cũng có
giới hạn. Gia đình trong xã hội Pháp cũng
giống như ở nhiều nước khác phản ánh tính
chất cộng đồng, vì thế chế độ tài sản pháp
định của vợ chồng ở Pháp từ khi có Bộ luật
Napoleon đều là các chế độ cộng đồng tài
sản.
(3)
Luật hiện hành của Cộng hòa Pháp về
214 đến Điều 226 tập hợp nên chế định
pháp lí mà pháp luật Pháp gọi là chế độ cơ
sở của các chế độ tài sản của vợ chồng (Le
régime primaire hoặc Le statut de base). Đây
là những quy định về các quyền và nghĩa vụ
về tài sản của vợ chồng nhằm đáp ứng nhu
cầu của cuộc sống gia đình. Đó là những vấn
đề: Đóng góp vào việc chi tiêu của gia đình;
bảo vệ chỗ ở của gia đình; quyền tự chủ của
mỗi bên vợ, chồng thực hiện các giao dịch vì
nhu cầu của gia đình và trách nhiệm liên đới
của bên kia, quyền tự chủ về nghề nghiệp, về
việc sử dụng tài khoản (ngân hàng và chứng
khoán); quyền một mình thực hiện giao dịch
thông qua cơ chế đại diện hoặc cho phép của
tòa án… Theo quy định của Điều 226, các
quy định trên có hiệu lực áp dụng đối với tất
cả các quan hệ vợ chồng, bất kể họ lựa chọn
chế độ hôn sản nào. Trong bối cảnh thừa
nhận nhiều chế độ tài sản của vợ chồng, chế
độ cơ sở giữ vai trò chủ đạo, nhất là đối với
các chế độ hôn sản ước định nhằm đảm bảo
những điều kiện vật chất cho sự ổn định của
cuộc sống gia đình. Do có tầm quan trọng
như vậy, tất cả các nghiên cứu về các chế độ
tài sản của vợ chồng theo luật của Pháp đều
bắt đầu từ chế độ cơ sở này.
Như vậy, sự tổ chức các chế độ tài sản
của vợ chồng trong luật của Cộng hòa Pháp
dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền tự do
c trong thi kỡ hụn nhõn. Tuy nhiờn,
nhng ng sn m cn xỏc nh l ti sn
riờng do bn cht ca nú theo quy nh ca
iu 1404 BLDS v nhng ti sn m v
chng c tng cho riờng, c tha k
riờng (do ý chớ rừ rng ca ngi tng cho,
ngi li ti sn tha k) vn thuc ti
sn riờng ca mi bờn v chng.
Phn n ca cng ng ti sn gm phn
n ca mi bờn v hoc chng cú trc khi
kt hụn (theo t l ng sn ó a vo trong
phn cú ca cng ng ti sn) v nhng
khon n phỏt sinh trong thi kỡ hụn nhõn
(gm c nhng khon n liờn quan n ti
sn m cng ng cú c do v, chng
c tng cho hoc c tha k).
Vic thc hin ch ti sn ny khỏ
phc tp. Nu v chng khụng cú nhng
tho thun khỏc, h phi tuõn theo nhng
quy nh v qun lớ ti sn v thanh toỏn ti
sn c d liu trong ch hụn sn phỏp
nh. Vỡ th, õy l ch ti sn khụng
c khuyờn dựng (khụng phi ch riờng
Phỏp), bi tớnh phc tp ca nú, trong khi
tho thun ca v chng v ti sn thng
hng ti s n gin.
1.3.2. Ch cng ng ton sn
Ch cng ng ton sn xỏc nh tt
c cỏc ti sn m v chng cú trc v sau
khi kt hụn u thuc s hu chung, tr
nhng cp v chng tr.
1.3.3. Ch ti sn riờng bit
Khỏc vi nhng hỡnh thc ca ch
cng ng ti sn, ch ti sn riờng bit
xỏc nh v chng khụng cú ti sn chung.
Ch cú s tn ti ca hai khi ti sn riờng
ca mi bờn. Tuy nhiờn, i vi phn n,
ngoi nhng khon n riờng ca mi bờn v
hoc chng, cũn cú nhng khon n chung
phỏt sinh t cuc sng chung ca gia ỡnh.
õy l ch ti sn m s vn hnh ca
nú l n gin nht. Mi bờn v, chng t do
qun lớ v nh ot cỏc ti sn, thu nhp sau
khi thc hin ngha v úng gúp i vi i nghiên cứu - trao đổi
22 tạp chí luật học số 11/2009
sng chung. Ch ti sn riờng bit trao
cho v, chng kh nng t ch rt cao v ti
sn, l s la chn hp lớ nht cho nhng cp
v chng cú nhiu ti sn riờng m h u
cú kh nng qun lớ hoc nhng v chng
tin hnh cỏc cụng vic sn xut, kinh doanh
m h cn trỏnh nhng ri ro cú th xy ra
i vi gia ỡnh do nhng tht bi ca vic
kinh doanh.
Tuy nhiờn, ch tỏch riờng ti sn cng
bc l nhiu hn ch. Nú b ỏnh giỏ l ch
ớch k nht, vỡ thc cht ú l c ch
Túm li, khụng cú ch ti sn no
c coi l hon thin cho tt c cỏc quan h
v chng m ch cú ch ti sn thớch hp
vi hon cnh ca cp v chng no ú m
thụi. Trong nhng trng hp thy cn lp
hụn c, vi s tr giỳp ca cụng chng
viờn, cỏc bờn kt hụn s phi cõn nhc
quyt nh ch ti sn ỏp dng v a vo
trong ú nhng iu khon cn thit iu
chnh cỏc quan h ti sn gia v chng
trong thi kỡ hụn nhõn.
2. Ch ti sn ca v chng theo
tho thun trong phỏp lut Vit Nam
2.1. Thi kỡ trc nm 1975
Trong thi kỡ Phỏp thuc, phỏp lut dõn
s Vit Nam mang m du n ca BLDS
Napoleon. Trong ba b dõn lut c ỏp
dng ba min Bc, Trung, Nam thỡ B dõn
lut Bc Kỡ v B dõn lut Trung Kỡ ó ghi
nhn nhng nguyờn tc c bn ca BLDS
Phỏp nh: quyn t do lp hụn c v tớnh
cht khụng thay i ca ch hụn sn.
Khỏc vi BLDS Phỏp, hai b dõn lut ny
ch d liu mt ch chung ỏp dng cho
nhng v chng khụng lp hụn c m
khụng d liu nhng ch v, chng cú
th tho thun la chn.
(6)
Thc t, nhng
hôn ước tùy ý muốn, miễn không trái với trật
tự công cộng và thuần phong mĩ tục” (Điều
145) và “Luật pháp chỉ quy định chế độ phu
phụ tài sản khi vợ chồng không lập hôn
ước” (Điều 144).
2.2. Thời kì sau năm 1975
Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đều chỉ
tập trung quy định một chế độ tài sản pháp
định. Nhà lập pháp không dự liệu bất kì điều
khoản nào cho phép vợ chồng lập hôn ước
nhưng cũng không ấn định những quy định
cấm. Trong bối cảnh đó, nhìn chung giới luật
gia và những người áp dụng pháp luật đều
cho rằng chế độ hôn sản pháp định có hiệu
lực áp dụng đối với tất cả các quan hệ hôn
nhân hợp pháp, do vậy mọi thoả thuận của
vợ chồng trái với các quy định của chế độ
hôn sản pháp định cần bị tuyên bố là vô hiệu
khi có tranh chấp xảy ra.
Tuy nhiên, trong trường hợp xảy ra sự
kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kì hôn nhân, Nghị định của Chính phủ số
70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 quy định
chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình
năm 2000 đã đem đến yếu tố mới mà chúng
ta thấy có khả năng xuất hiện chế độ tài sản
của vợ chồng khác với chế độ pháp định.
Khoản 2 Điều 8 Nghị định của Chính
phủ số 70/2001/NĐ-CP quy định: “Thu nhập
nghiªn cøu - trao ®æi
24 t¹p chÝ luËt häc sè 11/2009
Nghị định số 70/2001/NĐ-CP để hướng dẫn
thi hành Luật. Các quy định ở khoản 2 Điều
8 và Điều 9, 10 Nghị định này thể hiện sự
logic của một ý tưởng mới về những quan hệ
tài sản giữa vợ và chồng theo thoả thuận.
Vậy thì chúng ta có thể đưa ra giả thuyết
rằng chính người soạn thảo văn bản Luật đã
muốn có sự mềm dẻo trong việc thừa nhận
chế độ hôn sản theo thoả thuận của vợ chồng
trong những trường hợp cần thiết. Nếu giả
thuyết này đúng thì đây quả thực sẽ là bước
đệm quan trọng cho việc thiết lập những quy
định về hôn ước trong Luật hôn nhân và gia
đình tương lai. Mặt khác, vì Nghị định số
70/2001/NĐ-CP vẫn đang có hiệu lực, chắc
chắn sau khi chia hết tài sản chung trong thời
kì hôn nhân, vợ chồng có thể thực hiện chế
độ tách riêng tài sản. Tuy nhiên, trong trường
hợp này, việc đóng góp của các bên vợ,
chồng vào đời sống chung của gia đình cần
được các văn bản pháp luật dự liệu cụ thể.
Như vậy, qua nghiên cứu về chế độ tài
sản của vợ chồng nói chung và các chế độ tài
sản ước định nói riêng trong pháp luật của
nhiều nước trên thế giới, chúng tôi thấy rằng
để xác định được một cách thức tổ chức hợp
lí nhất các quan hệ tài sản của vợ chồng,
Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam cần
tinh thần tự nguyện hơn.
Thứ hai, thực tế kinh tế-xã hội Việt
Nam hiện nay đã có rất nhiều thay đổi so
với thời kì những năm 1980 - 1990. Gia
đình không còn bó hẹp với chức năng duy
trì cuộc sống của các thành viên mà thực sự
đã tham gia tích cực vào nền kinh tế xã hội.
Những quan hệ kinh tế đòi hỏi vợ, chồng
phải có những quyết định nhanh nhạy
nhưng muốn vậy họ phải chủ động về tài
sản. Chúng tôi cho rằng Luật hôn nhân và
gia đình hiện hành chưa theo kịp diễn biến
của những quan hệ kinh tế, dân sự hiện nay.
Nếu vợ, chồng thực hiện đúng theo quy nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ
luËt häc sè
11
/2009
25
định pháp luật, trong nhiều trường hợp họ
sẽ bỏ lỡ những cơ hội làm ăn.
Mặt khác, việc đưa những tài sản chung
của vợ chồng vào các hoạt động sản xuất,
kinh doanh cũng hàm chứa những rủi ro và
có thể dẫn đến nguy cơ tiêu tán tài sản của
chúng tôi cho rằng pháp luật về hôn nhân và
gia đình Việt Nam cần thay đổi lại phương
thức tổ chức các chế độ tài sản của vợ chồng
theo hướng thừa nhận quyền tự do của vợ
chồng trong việc chọn chế độ tài sản áp
dụng, bên cạnh chế độ tài sản pháp định của
vợ chồng./.
(1). Theo quy định của Điều 1395 BLDS Napoleon,
sau khi kết hôn, vợ chồng không thể thoả thuận để
thay đổi chế độ tài sản mà họ đã lựa chọn khi kết hôn.
Quy định này nhằm đảm bảo tính ổn định của gia
đình và đồng thời bảo vệ quyền lợi cho người thứ ba.
(2). Thực tiễn nghiên cứu về chế độ tài sản của vợ
chồng đã phản ánh những cách gọi khác nhau về thuật
ngữ này. Ở đây, chúng tôi chỉ muốn nêu lên bản chất
của thoả thuận về chế độ tài sản của vợ chồng mà
không đề cập góc độ ngữ nghĩa của nó.
(3). Trước đó, các chế độ tài sản của vợ chồng được
thực hiện khác nhau ở Pháp. Những vùng theo truyền
thống tập quán pháp áp dụng chế độ cộng đồng về
động sản và tạo sản. Những vùng theo truyền thống
luật thành văn áp dụng chế độ hồi môn - gần giống
với chế độ tách riêng tài sản.
(4).Xem: André Colomer, Các chế độ tài sản của vợ
chồng, Nxb. Litec 1995, số 1094.
(5).Xem: Jean Champion, Hôn ước và các chế độ tài
sản, Nxb. Delmas, 2007, số 126.
(6). Bùi Tường Chiểu, Dân luật, (cuốn 2), Khoa luật -