1
Luận văn
Báo cáo thực tập tổng hợp tại Tổng
công ty cà phê Việt Nam
2LỜI MỞ ĐẦU
Tiền lực kinh tế hay nguồn lực là một trong những nhân tố góp phần
đưa đất nước đến sự thành công trong công cuộc CNH - HDH. Nguồn vốn
có được do tích luỹ và một phần là nguồn ngoại tệ thu về từ hoạt động xuất
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CÀ PHÊ
I. Quá trình hình thành và phát triển
Tổng công ty cà phê Việt Nam có tên giao dịch quốc tề là Việt Nam
national coffee corporation (viết tắt là Vinacafe) được thành lập theo quyết
định số 251TTg ngày 29/4/1995 của Thủ Tướng Chính phủ.Tiền thân của
Tổng công ty là Liên hiệp các xí nghiệp cà phê Việt nam thành lập ngày
13/10/1982.
Tông công ty cà phê Việt Nam là doanh nghiệp nhà nước dạng tập
đoàn ( TCT 91 ) trực thuộc chính phủ, có trụ sở chính tại số 5- Ông Ých
Khiêm –Ba Đình – Hà Nội. Tổng công ty chính thức hoạt động từ tháng
9/1995 với vốn điều lệ là :309.575.000 VNĐ, gồm chủ yếu là các doanh
nghiệp của liên hiệp các xí nghiệp Cà phê Việt Nam và của một số địa
phương khác. Hiện nay, Vinacafe là một doanh nghiệp nhà nước có quy mô
lớn gồm 58 đơn vị thành viên là các doanh nghiệp hạch toán độc lập và hạch
toán phụ thuộc có quan hệ mật thiết về lợi Ých kinh tế, tài chính, cung ứng
tiêu thụ, nghiên cứu, tiếp thj, hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu trong
nghành cà phê.
II: Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của công ty cà phê Việt
Nam:
4
1. C cu t chc:
B mỏy qun lý ca Tng cụng ty C phờ Vit Nam c th hin qua s sau:
Nguyên
Phó tôngt GĐ
phụ trách
HĐsản xuất khu
vực Đắc Lăk
Phó tôngt GĐ
phụ trách tổ
chức cán bộ
Văn
phòng
tôngt
công
ty
Ban kế
hoạch
đầu t
Ban tổ
chức
cán bộ
thanh
tra
Ban
xuất
nhập
khẩu
Ban
tài
doanh và trước chính phủ. Tổng giám đốc là người có quyền điều hành cao
nhất ở công ty, là người tổ chức mọi hoạt động của công ty, thực hiện luật
pháp của nhà nước và nghị quyết của hội đồng quản trị để giúp công ty đạt
hiệu quả cao nhất trong kinh doanh.
6
Giúp việc cho tổng giám đốc là các phó giám đốc. Trong đó, một phó
giám đốc phụ trách HĐSX khu vực Bắc Tây Nguyên, một phó giám đốc phụ
trách khu vực Đắc Lắc, một phó giám đốc phụ trách tổ chức cán bộ.
- Ban tham mưu : Ban tham mưu được sắp xếp theo kiểu phân công
chức năng, bao gồm có:
Văn phòng tổng công ty : Tổ chức thực hiện các mặt công tác
về quản trị hành chính chung trong cơ quan, phối hợp với các phòng ban để
xây dung nội quy, quy chế của tổng công ty.
Ban tổ chức cán bộ thanh tra : Tiến hành sắp xếp, bố trí, tổ chức
bộ máy hoạt động và kinh doanh, xây dựng quy chế quản lý nội bộ, khen
thưởng kỉ luật.
Ban tài chính kế toán : quản lý nguồn tài chính và quản lý thu
chi tổng hợp, phân tích hoạt động kinh tế, tài chính trong sản xuất kinh
doanh, xây dựng hạch toán kinh doanh về giá cả, tỷ giá xuất nhập khẩu và
các quan hệ quốc tế, khai thác khả năng đầu tư nước ngoài.
Ban xuất nhập khẩu : Điều hành công tác kinh doanh xuất nhập
khẩu. Tìm hiểu, mở rộng và khai thác thị trường tiêu thụ ngoài nước, phụ
trách về các quan hệ quốc tế, khai thác khả năng đầu tư nước ngoài.
Ban kế hoạch đầu tư : Xây dung các kế hoạch sản xuất và kinh
doanh, các dự án đầu tư, thu mua cà phê ở phía Bắc để kinh doanh xuất nhập
khẩu. Tập hợp về sản xuất và phát triển cây cà phê.
Ban điều hành dự án AFD : Tổ chức thực hiện dự án trồng mới
cà phê có sự tài trợ của Chính phủ Pháp.
Các công ty trực thuộc : Hiện nay, tổng công ty có 58 đơn vị
doanh.
8
-Tổ chức cung cấp kịp thời, chính xác về thông tin thị trường, giá trong nước
và cả thế giới cho các đơn vị thành viên.
-Quản lý giá xuất, giá nhập khẩu hàng hoá của tổng công ty, công bố giá sàn
xuất khẩu cà phê, giá trần nhập khẩu thiết bị, vật tư phục vụ cho ngành ở
tong thời điểmthích hợp để các đơn vị thành viên theo đó mà thực hiện, khắc
phục được tình trạnh tranh mua, tranh bán .
-Kiểm tra, giám sát các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các đơn vị thành
viên .
3 Tình hình chung về hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty qua 3
năm gần đây:
Lĩnh vực sản xuất và kinh doanh của công ty:
Các lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của tổng công ty cà phê Việt Nam
được đề ra trong điều lệ của tổng công ty bao gồm:
+ Tổng công ty với 58 đơn vị thành viên tham gia xây dựng, quy
hoạch các khu trồng cà phê với nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất và kinh doanh
cà phê.
+ Ngoài những diện tích trồng cà phê là chủ yếu, các đơn vị còn sản
xuất một số loại nông sản khác như ; lúa, mía, ca cao, hạt tiêu, hạt điều.
Cùng với việc sản xuất các mặt hàng nông sản này, tổng công ty cà phê có
nhiều cơ sở chế biến để cung cấp ra thị trường các mặt hàng tinh chế như:
Đường tinh luyện, cà phê hoà tan, cà phê sữa, kẹo…
+ Cùng với việc sản xuất các mặt hàng nông sản, tổng công ty cà phê
còn sản xuất cả gạch để phục vụ cho quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng của
các đơn vị và cung cấp cho thị trường. Các trung tâm y tế cũng được tổng
công ty thành lập để phục vụ cho công nhân viên và người dân tham gia vào
quá trínhản xuất ở những vùng sâu, vùng xa.
thiệt hại nặng nề cho Tổng công ty. Mưa lũ lớn đã phá hỏng kêng mương, đè
đập, kéo trôi hàng trăm ha cà phê và hàng chục ha nông sản khác của công
ty, mức thiệt hại đã lên gần 20tỷ đồng. Cùng với mức thiệt hại đó,Tổng công
ty phải đầu tư cứu vớt số cà phê còn lại đã làm giá thành cà phê tăng , trong
khi đó giá cà phê trên thị trường lại giảm mạnh, làm tổng công ty thiệt hại
nặng nề hơn .
Giá xuất khẩu cà phê Việt nam đã giảm mạnh; vào tháng 1/1999 bình
quân 1567usd/tấn, giảm xuống 1220 usd/tấn trong tháng 6/1999 và xuống
mức 1000-1020usd/tấn trong tháng 9/1999. Mức giá xuống thấp làm kim
ngạch xuất khẩu của công ty cũng giảm mạnh. Tổng kim ngạch xuất khẩu năm
1998 chỉ đạt 55,15% so với kế hoạch năm 1999 và bằng 85%so với năm 1998.
Trong đó sản lượng cà phê đạt 61% kế hoạch năm 1999 và bằng 95% năm
1998, kim ngạch xuất khẩu đạt 48% kế hoạch1998 và bằng 72% năm 1998.
Tuy sản lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu giảm nhiều, nhưng
năm1999 Tổng công ty cà phê vẫn giữ vị trí số 1 trong 87 đơn vị tham gia
vào xuất khẩu cà phê của ngành cà phê Việt nam .Tổng công ty cà phê Việt
nam vẫn giữ đươc mạng lưới khách hàng ổn định và giữ được uy tín với
khachs hàng. Ngoài việc xuất khẩu cà phê là mặt hàng chính, công ty còn
xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản khác cũng mang lại kết quả cao.Để giữ
được vị trí số 1 của mình, Tổng công ty cũng đã tăng cường đầu tư cho khâu
chế biến cà phê nhân xuất khẩu hàng trăm ngàn m
2
sân phơi, nhà xưởng.
Trang bị thêm nhều dây truyền chế biến cà phê có kỹ thuật tiên tiến của
nước ngoài và sản xuất trong nước, nhờ vậy chất lượng cà phê xuất khẩu
ngày càng cải thiện, nâng cao. Nếu năm 1995, Tổng công ty chỉ mới có 8
dây chuyền, xưởng chế biến cà phê thì cuối năm 1998 đã có 28 dây chuyền
trong đó có 19 dây chuyền thiết bị xát khô và 9 dây chuyền xát khô, 11 dây
11
chuyền nhập ngoại và 17 dây chuyền sản xuất trong nước, gần 800 ngàn m
+Thóc: 20500 tấn, đạt 103 % so với năm 1999(20000 tấn)
*Diện tích gieo trồng:
+Diện tích cà phê:27800 ha, đạt 105% so với nâm 1999 (26.542)
+Diện tích lúa nước :3.300ha, đạt 101% so với năm 1999(3.200 ha )
13
*Công nghiệp :
BảNG KếT QUả SảN XUấT MộT Số SP CÔNH NGHIệP CHíNH NĂM 2000
STT
Sản phẩm chính
ĐVT KH 2000 TH2000
So v
ới KH
năm (%)
1
2
3
4
5
6
Đường trắng
Cà pê hoà tan
Cà phê sữa
Cà phê rang xay
Gạch tuy nen
1500
168
15
100
116
45
95,5
70
89
-Về dự án phát triển 40000ha cà phê chè:
Thực hiện quyệt định số 172TTg, ngày 24/3/1997 của Thủ Tướng
chỉnh phủ về chương trình phát triển 40000 ha cà phê chè ở các tỉnh trung
du, miền núi phía Bắc, sau khi hoàn thnàh sẽ cho sản lượng cà phê của dự án
khoảng 60000-80000 tấn /năm. Theưo kế hoạch chương trình sẽ hoàn thành
vào năm 2001, nhưng trong thực tế quá trình triển khai đã gặp phải một số
vướng mắc như: mức lãi suất vay vẫn còn cao, chi phí cho quản lý dự án
thấp, nguồn chi cho phí thuê chuyên gia không có, bộ máy quản lý hạn
chế do đó tiến đọ triển khai dự án chậm lại. Tính đến năm 2000 mới có 9
-Tình hình đầu tư xây dựng cơ bản cả qui mô lẫn tiến độ của các công
trình đầu tư giảm mạnh một mặt do tình hình tài chính của các doanh nghiệp
gặp nhiều khó khăn, mặt khác tổng công ty cũng đã chỉ đạo tập trung đầu tư
15
các công trình trọng điểm, trực tiếp phục vụ sản xuất kinh doanh có hiệu
quả.
-Bên cạnh đó quá trình thực hiện các nghị quyết số: 52/NĐCP-1999,
ngày 8/7/1999 của chính phủ về “qui chế quản lý đầu tư và xây dựng” và
Nghị định số: 12/NĐ-CP/1999 nagỳ 05/5/2000, về việc sửa đổi bổ sung một
số điều của nghị định số 52/NĐCP/1999 đã nảy sinh một số vướmg mắc về
thủ tục pháp lý, tiến độ giải ngân cho dù án chậm kể cả nguồn vốn tín dụng
ưu đãi lẫn ngân sách nhà nước.
-Đã chú trọng đầu tư vào lĩnh vực công nghệ về thiết bị chế biến cà
phê, Tổng công ty đã đầu tư lắp đặt 12 dây chuyền chế biến theo phương
pháp ướt đưa công suất đạt 88 tấn quả tươi/ h; 16 dây chuyền chế biến khô
công suất 26 tấn nhân/h .
Công tác tài chính:
-Từ năm 1999 giá cà phê liên tục hạ không có lợi cho các nhà sản xuất
kinh doanh cà phê. Năm 1999 nhiều đơn vị thành viên tổng công ty kinh
doanh thua lỗ với số luỹ kế 76,7 tỷ đồng trong đó 1998 lỗ 38,1 tỷ đồng, năm
1999 lỗ 39,6 tỷ. Năm 2000 hầu hết các đơn vị thành viện tiếp tục lỗkhoảng
140 tỷ đồng.Hầu hết các đơn vị bị thua lỗ, nhiều đơn vị đã thua lỗ 2-3 năm
liền dần đến tài chính mất cân đối nghiêm trọng, dư nợ vay ngân hàng lớn,
khả năng thanh toán các khoản rất khó khăn, vốn chiếm dụng giữa các đơn
vị trong tổng công ty cũng như bị bên ngoài rất lớn. Một số đơn vị mất vốn
hoặc có tiềm Èn mất vốn.
-Trước tình hình khó khăn về tài chính tổng công ty đã tích cực làm
việc với các bộ ngành, đề nghị nhà nước hỗ trợ một phần lỗ, cấp bổ sung
vốn lưu động , bố trí vốn ngân sách cho một số dự án.Kết quả tổng công ty
đã được nhà nước hỗ trợ trên 17 tỷ đồng, và được cấp 3,4 tỷ vốn lưu động,
quản lý, từng bước khắc phục khó khăn và tạo nền tảng cho sự phát triển bền
vững những năm sau”.
Kết quả đạt được năm 2001 như sau:
Sản xuất công nông nghiệp:
-Chăm sóc 27000 ha cà phê đạt 92 % kế hoạch, sản lượng đạt 50000
tấn cà phê nhân đạt 91% kế hoạch.
-Diện tích lúa gieo trổng 4200 ha đạt 102% kế hoạch, sản lượng đạt
26000 tấn –96% kế hoạch.
-Hồ tiêu đạt 300 ha đạt 75% kế hoạch, sản lượng 150 tấn đạt 75% kế
hoạch
-Đường kính đạt 4790 tấn đạt 53% kế hoạch
-Gạch ngãi 19 triệu viên đạt 90% kế hoạch
-Cà phê hào tan 302 tấn đạt 121 % kế hoạch
-Cà phê sữa 1830 tấn đạt 87,3% kế hoạch
-Cà phê rang xay 113 tấn đạt 32% kế hoạch
-Nhân hạt điều 719 tấn
-Diện tích cà phê chè đã trồng theo chương trình AFD đạt 7405 ha
Công tác đầu tư xây dựng cơ bản:
Tổng công ty đã thực hiện khối lượng xây dựng cơ bản đạt 161 tỷ
đồng, tập trung các công trình chăm sóc vườn cây, công trình thuỷ lợi, công
nghiệp chế biến, nhà kho chứa sản phẩm, giao thông, xây dựng vùng nguyên
liệu mía, điều, lúa nước của 11 hạng mục công trình xây dựng cơ bản năm
2001.
Tuy nhiên trong công tác đầu tư xây dựng cơ bản vẫn còn những thiếu
sót như tốc độ triển khai chậm , chất lượng chưa được giám sát chặt chẽ, vẫn
còn dùng vốn ngắn hạn đầu tư. Đầu tư theo qui hoạch, kế hoạch đầu tư
không cân đối khả năng tài chính và nguồn vốn.
18
Công tác xuất nhập khẩu:
Kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 130 triệu USD
độ công nghệ và kỹ thuật, sự chênh lệch về năng suất lao động và giá thành
sản phẩm đã làm xuất hiện lợi thÕ mới của mỗi quốc gia. Điều đó cho phép
và đòi hỏi mỗi nền kinh tế quốc gia phải phát huy triệt để lợi thế của mình
trong sự phân công lao động và sự trao đổi mậu dịch quốc tế. Sự hình thành
các mối quan hệ quốc tế này ban đầu là dựa trên học thuyết về thương mại
trên cơ sở lợi thế tuyệt đối của A.S mith và thương mại trên lợi thế so sánh
của D.Ricardo. Theo thuyết thương mại dựa trên lợi thế tuyệt đối, khi một
quốc gia sản xuất hàng hoá có hiệu quả hơn so với quốc gia khácnhưng lại
kém hiệu quả hơn trong sản xuất hàng hoá thứ hai, hai quốc gia có thể thu
được lợi Ých bằng cách mỗi quốc gia chuyên môn hoá sản xuất và xuất khâủ
hàng hoá có lợi thế và nhập khẩu hàng hoá không có lợi thế. Thông qua quá
trình này, các nguồn lực được sử dụng có hiệu quả nhất và sản lượng của hai
20
hàng hoá đều tăng. Sự tăng lên về sản lượng của hai hàng hoá này đo lường
thặng dư từ chuyên môn hoá trong sản xuất được phân bổ lại giữa hai quốc
gia thông qua hoạt động ngoại thương. Theo qui luật về lợi thế so sánh, thậm
chí một quốc gia sản xuất cả hai hàng hoá đều kém hiệu quả so với quốc gia
kia vẫn có thể thu được lợi Ých từ thương mại quốc tế. Quốc gia đó sẽ tập
trung sản xuất và xuất khẩu hàng hoá kém lợi thế Ýt hơn, nhập khẩu hàng
hoá có lợi thế nhiều hơn. Xuất phát từ lợi Ých thu được khi thm gia hoạt
động ngoại thương nên hầu hết các quốc gia trên thế giới đều muốn xuất
những hàng hoá trong nước và sản xuất những hàng hoá có lợi thế và nhập
những hàng hoá mà sản xuất trong nước không có hiêụ quả. Từ đó, các
ngành kinh doanh đều Ýt nhiều mang tính toàn cầu, từng ngành kinh doanh
phải chuẩn bị để cạnh tranh trong một môi trường toàn cầu ngày càng trở lên
phụ thuộc lẫn nhau. Chính vì vậy có thể nói trong nền kinh tế hiện đại không
có một ngành kinh doanh nào có thể tránh được ảnh hưởng của quá trình khu
vực hoá, quốc tế hoá kinh tế.
Như vậy ta có thể hiểu xuất khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán
trên phạm vi quốc tế. Xuất khẩu không chỉ là những hành vi buôn bán riêng
Thứ năm, doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu chịu sự cạnh tranh không
những tại địa phương mà còn trong khu vực và trên thế giới về nhiều mặt
Thứ sáu, phương thức kinh doanh xuất khẩu đa dạng và có mối quan
hệ kênh phân phối quốc tê tương ứng
2. Vai trò hoạt động xuất khẩu trong nền kinh tế quốc dân:
Đối với nền kinh tế quốc dân:
Là mét trong hai nội dung chính của hoạt động ngoại thương, xuút
khẩu đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc
22
gia. Nó tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển một cách lành mạnh nhờ
những tác dụng chủ yếu sau:
-Tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá
đất nước. Cùng với vốn đầu tư nước ngoài, vốn từ hoạt động xuất khẩu có
vai trò quyết định đối với qui mô và tốc độ tăng trưởng của hoạt động nhập
khẩu. Đồng thời nguồn ngoại tệ từ xuất khẩu còn góp phần củng cố dự trữ
ngoại tệ của quốc gia, ổn định tài chính để từ đó để ổn định sản xuất
-Thúc đẩy chuyển dịch kinh tế và phát triển sản xuất. Bỏ qua quan
điểm chỉ xuất khẩu những sản phẩm thừa sau khi đã thoả mãn nhu cầu trong
nước, chỉ xét tới quan điểm lấy thị trường thế giới làm cơ sở kết hợp với lợi
thế so sánh vốn có để tổ chức sản xuất và xuất khẩu, thì xuất khẩu thực sự có
tác động tích cực tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất,đẩy mạnh xuất khẩu không chỉ phát triển ngành hàng có liên
quan. Ví dụ, đẩy mạnh xuất khẩu cà phê thì các ngành chế tạo máy phục vụ
chế biến, các ngành công nghiệp bao bì, cũng có điều kiện phát triển.
Thứ hai, xuất khẩu tạo thị trường tiêu thụ rộng lớn hơn và cũng khó
tính hơn cho sản xuất trong nước. Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của ta
phải cạnh tranh về cả chất lượng, giá cả, điều này ràng buộc ta phải cải cách
sản phẩm trong nước, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi với thị
trường.
Thứ ba, xuất khẩu thu ngoại tệ để nhập khẩu công nghệ, kỹ thuật hiện
-Xuất khẩu mở ra những thị trường rộng lớn hơn, giúp doanh nghiệp
có thêm cơ hội tiêu thụ hàng hoá, điều này đặc biệt quan trọng khi dung
lượng thị trường nội địa còn hạn chế như ở nước ta.
-Xuất khẩu buộc doanh nghiệp luôn phải cạnh tranh với các đối thủ
mạnh đến khắp nơi trên thế giới. Vì vậy, doanh nghiệp luôn phải nâng cao
24
khả năng quản lý để tăng năng lực cạnh tranh cho sản phẩm của mình. Đây
là điều kiện sống còn để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển
Xuất khẩu giúp doanh nghiệp mở rộng quan hệ, kịp thời nhận được
những thông tin mới để điều chỉnh chiến lược của mình cho phù hợp.
25
II. Vị trí của ngành cà phê trong nền kinh tế quốc dân và sự cần
thiết phải đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu cà phê ở Việt Nam.
1. Sơ lược hình thành và phát riển của cây cà phê:
Hiện nay trên thế giới có khoảng 75 nước trồng cà phê trong đó có trên 50
nước có cà phê xuất khẩu, nhưng đến nay người ta vẫn chưa xác định được
một cach chímh xác lịch sử phát triển của cây cà phê. Theo truyền thuyết thì
cây cà phê xuất hiện lần đầu tiên ở Châu Phi cách đây 1000 năm do một
ngưoừi chăn gia sóc. Sau đó người ta dùng cà phê làm thứ nước uốngtrong
những đêm đại hành lễ ở nhà thờ và các cuộc hành trình vượt sa mạc. Từ đó
cà phê trở thành một thứ đồ uống làm đam mê biết bao con người.
Về giống cà phê , trên thế giới hiện nay có khoảng 3 loại chủ yếu:
-Cà phê chè ( coffea arabica ): Có nguồn gốc từ Ethiopia, được phát
hiện vào năm 850 sau công nguyên từ những cây cà phê chè hoang dại mọc
rải rác dưới nhưngx tán rừng nơi đây. Hiện naycà phê chè được trồng rộng
rãi nhất bởi hương vị thơm ngon của nó, chiếm 70% diện tích cà phê thế
giới và trên 75% sản lượng xuất khẩu hàng năm ở các nước: Brazil,
Colombia, Mexico, Gua la ma la, Ên Độ
-Cà phê vối ( cofea canenphora pierre ) : Được phát hiện ở Châu Phi
vào đầu thế kỷ XX. Hiện nay cà phê vối được trồng khá phổ biến, gần 30%