Đôi Điều Về Cá Tra Và
Cá Basa Phần 1
Cá tra và cá basa là hại loài cá da trơn được nuôi khá nhiều ở đồng bằng sông
Cửu Long (tập trung chủ yếu ở hai tỉnh: An Giang và Đồng Tháp). Hai loài cá
này có thịt trắng và ngon, cổ giá trị xuất khẩu cao, đặc biệt là cá basa. Hiện
nay, nước ta đã xuất khẩu cá basa đến hơn 40 thị trường trên khắp thế giới.
Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là cá nguyên con, cá miếng, cá khúc tươi đông
lạnh (sẵn sàng để nấu), phơi khô, đóng hộp (sẵn sàng để ăn).
Hình minh họa
ở Việt Nam, người ta nuôi cá tra và cá basa theo hình thức nuôi tập trung và
bán tập trung trong lồng, bè và ao. Việc sản xuất con giống nhân tạo và áp
dụng kỹ thuật tiên tiến cũng đã giúp cho nghề nuôi cá phát triển mạnh, giá
thành giảm và hợp vệ sinh.
I. TÊN KHOA HỌC VÀ THƯƠNG MẠI
Năm 1991, Roberts và Vidthayanon đã xếp cá tra vào giống Pangasius và đặt
tên khoa học cho chúng là Pangasius sutchi. Song cái tên này đã không được
công nhận chính thức. Đến năm 1996, Rainboth (1996), đặt tên khoa học mới
cho loài cá tra là Pangasianodon hypophthcdmus (Rainboth đã tách cá tra từ
giống Pangasỉus sang giống Pangasianodon). Hiện nay, nhiều người đã chấp
nhận cái tên này, song theo quan điểm của chúng tôi, từ lâu người Việt Nam
đã biết hãi loài cá này với tên khoa học như sau: cá tra: Pangasỉus
hypophthalmus (Sauvage, 1878) và cá basa: Pangasius bocourti. Cả hai loài
này đều thuộc giống Pangasius, họ Pangasidae, bộ Siluriíormes, lớp
Osteichchthyes và ngành Chordata. Do đó, chúng tôi mạn phép chọn hai cái
tên khoa học: Pangasius hypophthalmus (Sauvage, 1878) và Pangasius
bocourti để thuận tiện trong việc nghiên cứu và biên soạn quyển sách này.
có độc tố. Lưng có màu tro nhạt, bụng trắng bóng.
Tuỳ theo loài, cá tra có kích cỡ khác nhau. Ở Việt Nam, loài cá tra đáp ứng
với nhu cầu thị trường cổ trọng lượng khoảng 4 - 5 kg/con, song trên thực tế,
một số loài cá tra khác xuất hiện ở sông Mekong lại có trọng lượng lớn hơn
nhiều, chiều dài của chúng cổ thể từ 1 - 3 m và cân nặng từ 10 - 20kg trở lên.
Cá tra là loài ăn tạp. Ngoài nguồn đánh bắt trên sông, người chăn nuôi Việt
Nam nuôi chúng chủ yếu trong ao, bè hoặc lồng. Loài này ăn rau, củ, thức ăn
hỗn hợp, thức ãn tự chế với các nguyên liệu như: tấm, cám, cá tạp, rau
muông Thậm chí, chúng có thể ăn được phân người, phân heo và một sô'
nguồn thức ăn khác.
Nếu cho cá ăn thức ăn có nguồn gốc động vật thì chúng lớn rất nhanh, đặc
biệt là khi nuôi trong ao. Sau 1 năm, cá có thể đạt trọng lượng 1 - l,5kg/con và
càng về sau, chúng càng lớn nhanh hơn. Lúc 10 năm tuổi, cá có thể đạt trọng
lượng 25kg.
Nhìn chung, cá tra dễ nuôi, có thể sống tốt trong điều kiện ao tù nước đọng,
nhiều chất hữu cơ, có hàm lượng oxygen hoà tan và độ pH thấp. Người ta có
thể nuôi loại cá này với mật độ rất cao. Một ao nuôi có thể chứa 50 con/m2,
còn nuôi bè thì khoảng 90 - 120 con/m2.
Cá tra là loài đẻ trứng vào giai đoạn khá muộn trong cuộc sống. Khả năng
động dục của chúng hình thành mất hơn ba năm. Việc sản xuất trứng tăng đột
ngột tùy theo trọng lượng của cá mái. Một con cá mắỉ cân nặng 5kg sẩn xuất
khoảng 30.000 trứng, cồn cá mái cân nặng 10 kg thì sản xuất trên 1.000.000
trứng. Tuy nhiên, nếu nuôi ở ao thi chúng không đẻ trứng tự nhiên. Ở Việt
Nam, cá tra không có bãi đẻ tự nhiên. Thông thường, chúng đẻ ở Campuchia,
sau đố cá bột sẽ theo dòng nước đến Việt Nam.
Môi trường sống chủ yếu của cá tra là: ghềnh thác, bờ sông có bãi cát. Ngoài
ra, người ta còn thây chúng rải rắc ở lòng sông sâu nhiều đá và kênh rạch
hoặc ở trong ao. Loài cá này sinh sấng chủ yếu dọc theo dòng sông Mekong
(Cửu Long), nhiều nhất là ở Campuchia, Lào và Việt Nam; Cá tra tập trung ở
những chỗ cố nước sâu vào mùa khô khỉ dòng sông đã hạ rất thấp mực nước.
triển thành cá con chưa định hình hoàn toàn. Sau dó, chúng sẽ phát triển thành
cá bột, sông gần mặt nước và có khả năng di chuyển độc lập.
2. Di trú
Thời gian đẻ trứng và sự di trú xuôi theo dòng nước của cả tra bột chưa định
hình hoàn toàn: Theo Poulsen và Valbo - Jrgensen (2001),cá đẻ trứng vào
giữa tháng 5 và tháng 8, đặc biệt là trong tháng 6 và tháng 7.
Vào tháng 5, cá tra có tuyến sinh dục trưởng thành và gần trưởng thành
thường bơi ngược dòng nước và bị đánh bắt nhiều nhất. Gió mùa khiến mực
nước sông Mekong dâng lên. Đây chính là thời điểm cá tra mái bắt đầu dẻ
trứng, thường là trong tháng 6.
Thức ăn chính của cá tra là rong tảo, sâu bọ, côn trùng, trái cây, loài giáp xác
và cá nhỏ
Cá trưởng thành và cận trưởng thành cũng di trú ngược dòng trong mùa sinh
sản. Tuy nhiẽn, sau khi chấm dứt việc đẻ trứng, cá trưởng thành sẽ lại di trú
xuôi theo dòng sông để tìm thức ăn ở các cửa sông.
III. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ BASA
Về ngoại hình, bạn có thể phân biệt dễ dàng giữa cá basa và cá tra. Loài cá
basa có thân hình thoi, hơi dẹp hai bên, bụng to chứa nhiều mỡ. Lưng màu
nâu (hoặc xám xanh), nhạt dần xuống bụng, còn phần bụng thì trắng. Da lưng
và gai vi ngực cứng và nhọn, mặt sau của vi này có răng cưa xuống tới gôc.
Đầu cá ngắn, hơi dẹp, trán rộng, mắt to. Phần sau thân dẹp một bên, cuống
đuôi thon dài. Miệng nằm hơi lệch dưới mõm, miệng cận dưới không co đuôi
được, răng nhỏ và mịn. Răng hàm trên lớn, hơi nhô ra khi miệng khép lại.
Loài này có hai đôi râu, một dôi ở hàm trên và một đôi ở hàm dưới, kích cỡ
của hai đôi râu khác nhau. Vi bụng kéo dài gần tới vi hậu môn. Vi lưng và vi
ngực có màu xám, vi hậu môn có màu trắng trong, màng da giữa các vi có
màu đen nhạt.
Cá basa có thể sông ở sông có dòng nước chảy tương đốỉ mạnh và cả ở những
hồ lớn. Loài này chịu đựng được lượng oxygen dao động ở mức 3-6 mg/1, độ
pH từ 7 - 8,3.
cá basa nhân tạo, nên đã chủ động cung cấp thêm nhiều con giông cho người
chăn nuôi trong nước.
IV. MỘT SỐ LOÀI CÁ THUỘC HỌ PANGASIIDAE
1. Loài cá Pangasianodon gigas: (Pangasianodon gigas Chevey, 1931)
Họ: Pangasiidae (Shark catíĩshes).
Bộ: Siluriformes (cá da trơn ).
Lớp: Actinopterygii (cá có vây tia).
Tên cơ bản: Mekong giant Catíĩsh.
Kích cỡ tối đa: Con đực và vô tính có thể dài 300cm, con cái có thể dài
235cm.
Có trường hợp ngư dân bắt được con nặng tới 350kg.
Môi trường: Nước ngọt.
Vùng khí hậu: Nhiệt đới.
Tầm quan trọng: Đối với nghề cá: thương mại; đối với ngành Nuôi trồng thủy
sản: thí nghiệm.
Phân bố: Châu Á. Là loài cá đặc hữu của lưu vực sông Mekong. Tuy nhiên,
loài này đang trở nên khan hiếm do bị khai thác quá nhiều.
- Hình tháỉ: Xương sống lưng (tổng cộng): 2 vây tia ở lưng mềm (tổng cộng):
7-8; vây tia ỗ hậu môn mềm: 35; cột sống: 48. Thân không có sọc.
- Sinh học: Là loài cá di trú thường xuất hiện ở những con sông lớn và trung
bình. Có đặc điểm ngoại hình như những loài cá lớn khác ở vùng sông
Mekong, bộ răng không đầy đủ và phần lớn hoàn toàn không có râu. Loài này
chỉ ăn thực vật trong dòng sông. Tuy nhiên, chúng vẫn có thể ăn những thứ
khác nếu bị “bắt buộc”. Chúng thường di trú đến nơi khác trong giai đoạn
sinh đẻ. Chúng là một trong những loài cá có tỷ lệ tăng trưởng nhanh nhất
trên thế giới, có thể đạt tới 150 - 200kg lúc 6 năm tuổi. Theo sách kỷ lục
Guinness, chúng là loài cá nước ngọt lớn nhất.
2. Loài cá Pangasíus bedado (Pangasius bedado Roberts, 1999)
- Họ: Pangasiidae (Shark catíĩshes).
- Bộ: Sỉlurỉíormes (cá da trơn ).
- Sinh học: Loài cá này thường xuất hiện ở những con sông lớn và tràn vào
rừng khi mùa lũ tới. Cá con ăn tôm panđan và côn trùng, sâu bọ. Cá gần
trưởng thành và cá trưởng thành cũng dùng những loại thức ãn này, song đặc
biệt là chúng thích ăn những động vật thân mềm và thực vật. Khi nước sông
ngày càng đục dần thì chúng di trú đến giữa lưu vực sông Mekong, dọc theo
biên giới Thái Lan và Lào. Loài cá này sinh sản vào đầu mùa lũ, cá con sẽ có
chiều dài khoảng 6 — 70111 vào cuối tháng 6.
5. Loài cá Pangasius dịambal (Pangasius djambal Bleeker, 1846)
- Họ: Pangasiidae (Shark catíìshes).
- Bộ: Siluriĩormes (cá da trơn ).
- Lớp: Actinopteiygii (cá có vây tia).
- Chiều dài và trọng lượng tối đa: Con đực và vô tính có thể dài 90cm, cân
nặng tối đa lồkg.
- Môi trường: Nước ngọt
- Vùng khí hậu: Nhiệt đới.
- Tầm quan trọng: Đối với nghề cá: thương mại.
- Phân bố: ở lưu vực sông Mekong, đặc biệt là ở Maỉaỵsỉa và Indonesia.
- Sinh học: Loài cá này thường ăn những sinh vật nhỏ dưới đáy sông như: ấu
trùng sâu bọ và giun, những thực vật và hạt chìm trong nước.
6. Loài Pangasius elongatus (Pangasius eíongatus Pouyaud, Gustiano &
Teugels, 2002)
- Họ Pangasiidae (Shark catíĩshes).
- Bộ: Siluriíbrmes (cá da trơn ).
- Lớp: Actinopterygii (cá có vây tia).
- Chiểu dàỉ tối đa: Con đực và vô tính cố thể đài 28,2 cm.
- Môi trường: Nước ngọt và nước lợ.
- Vùng khí hậu: Nhiệt đới.
- Tầm quan trọng: Đối với nghề cá: thương mại
- Phân bố: ở châu Á (hạ lưu sông Chao Phraya Bangpakong và lưu vực sông
Mekong ở vùng Đông Nam Á).
dòng chảy chính khi nước sông hạ xuông để tìm môi trường sống (vào tháng
9 đến tháng 12). Ở miền Nam sông Khone Falls, chúng thường di trú ngược
dòng từ tháng 10 đến tháng 2, cao điểm là từ tháng 11 - 12. Sự di trú này xảy
ra là do mực nước sông hạ xuống, cá phải tìm môi trường sống mới. Ngoài ra,
vào mùa lũ lụt, chúng sẽ di trú xuôi dòng từ Stung Treng đến Kandal
(Campuchia) vào tháng 5 cho đến tháng 8 rồi đi xa hơn nữa để đến vùng đồng
bằng sông Cửu Long (Việt Nam).
9. Loài cá Pangasius kỉnabatanganensis (Pangasius kinabatanganensis Roberts
& Vidthayanon, 1991)
- Họ: Pangasỉidae (Shark catíishes).
-Bộ: Sỉluriíbnnes (cá da trơn ).
- Lớp: Actinopterygii (cá có vây tia).
- Chiều dài tối đa: Con đực và vô tính có chiều dài tối đa là 23,8cm.
- Môi trường: Nước ngọt.
- Vùng khí hậu: Nhiệt đới.
- Phân bố: Ở châu Á (loài này thường xuất hiện ở lưu vực sông Kinabatangaii,
đông bắc Bomeo).
10. Loài cá Pangasius krempíi (Pangasius krempíi Fang & Chaux, 1949)
- Họ: Pangasiidae (Shark catfishes).
- Bộ: Siluriíbrmes (cá da trơn ).