MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Văn kiện đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ XI đã khẳng định: "Phát triển giáo
dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo
hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong
đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý
là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo
dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập
nghiệp ".
Để đạt được điều đó nền giáo dục phải đổi mới toàn diện và quan trọng nhất
phải đổi mới chiến lược đào tạo con người, những con người mới đáp ứng yêu cầu
của thời đại mới. Đổi mới giáo dục cần phải đổi mới PPDH, trong đó cần vận dụng
những PPDH tích cực đã tổ chức thành công ở các nước tiên tiến trên thế giới vào
điều kiện thực tiễn ở Việt Nam. Phương pháp dạy học ở các cấp học nói chung và ở
THPT nói riêng phải hướng tới hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, nuôi
dưỡng các ý tưởng khoa học của người học, làm cho học sinh có nhu cầu khao khát
muốn bộc lộ ý tưởng, biết cách làm việc độc lập và làm việc hợp tác. Sự đổi mới
của PPDH cũng đã được đề cập ở Luật Giáo dục 2005, tại khoản 2 điều 28:
"Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học;
bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng
thú học tập cho học sinh". [3]
Đã có nhiều PPDH tích cực được áp dụng thành công ở nhiều nước trên thế
giới như: Dạy học theo góc, dạy học dự án, dạy học theo chủ đề, dạy học tích hợp,
dạy học theo "LAMAP" LAMAP (là viết tắt của cụm từ tiếng Pháp: La main à la
pâte) là một trong những phương pháp dạy học tích cực.
So với phương pháp dạy học truyền thống, dạy học theo phương pháp
LAMAP học sinh học tập nhờ hành động, cuốn hút mình trong hành động, học sinh
1
học tập tiến bộ dần bằng cách tự nghi vấn, bằng cách trình bày quan điểm của mình
học tập.
3. Đối tượng nghiên cứu
+ Nội dung kiến thức "Thiên văn" chương trình Vật lí THPT.
+ Hoạt động dạy và học nội dung kiến thức "Thiên văn" chương trình Vật lí
THPT.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng phương pháp LAMAP để tổ chức tiến trình hoạt động nhận
thức một số kiến thức "Thiên văn" chương trình Vật lí THPT thông qua hoạt động
ngoại khóa và đáp ứng được các yêu cầu của khoa học luận trong dạy học Vật lí
thì có thể phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong
học tập.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu ở trên, chúng tôi đề ra các nhiệm vụ
nghiên cứu cụ thể như sau:
+ Nghiên cứu về phương pháp dạy học tích cực: nghiên cứu cơ sở sinh lí thần
kinh, các biểu hiện của tính tích cực
+ Nghiên cứu và làm rõ cơ sở lí luận của dạy học theo phương pháp LAMAP.
+ Nghiên cứu cơ sở lí luận về việc tổ chức hoạt động ngoại khóa Vật lí.
+ Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa hiện hành, sách giáo viên và các tài
liệu tham khảo có liên quan đến nội dung kiến thức "Thiên văn" và phân tích những
khó khăn của học sinh khi học những nội dung kiến thức này.
+ Tìm hiểu thực tế dạy và học kiến thức "Thiên văn".
+ Vận dụng phương pháp LAMAP để tổ chức tiến trình hoạt động nhận thức
một số kiến thức "Thiên văn" chương trình Vật lí THPT thông qua hoạt động ngoại
khóa theo hướng phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh.
+ Tiến hành thực nghiệm sư phạm theo nội dung và tiến trình dạy học đã soạn
thảo. Phân tích kết quả thực nghiệm để đánh giá tính khả thi của đề tài, sơ bộ đánh
giá hiệu quả dạy học kiến thức Vật lí với việc vận dụng dạy học theo phương pháp
3
LAMAP nhằm phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
5
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Phương pháp dạy học tích cực
1.1.1. Cơ sở sinh lí thần kinh của các phương pháp dạy học tích cực
Những năm gần đây các kết quả nghiên cứu về sự khác biệt giữa bán cầu não
trái và phải của con người đã rọi luồng sáng mới vào quá trình hoạt động trí óc và
mối quan hệ giữa trí thông minh và óc sáng tạo của con người, vấn đề mà trước đó
đã không được làm sáng tỏ.
Theo quan điểm cũ, các chức năng của bán cầu não trái luôn được coi là trội
hơn, nó như một đặc điểm chung của con người, mang tính bẩm sinh di truyền. Tuy
nhiên kết quả nhiều nghiên cứu về sinh lí, thần kinh và tâm lí học đã đạt được vào
những năm cuối của thế kỉ XX đã cho thấy rằng: sở dĩ có vấn đề này chủ yếu là do
học tập chứ không phải do gen di truyền. Nghĩa là người ta sinh ra có thể phát triển
trội (hoặc cân bằng) các chức năng của hai bán cầu não trái hay phải nhưng giáo
dục có ảnh hưởng tiếp theo đến sự phát triển của chúng.
Nghiên cứu về bộ não cho thấy, bộ não chia thành các khu vực hoạt động của
bản thân thành não trái (chất xám não trái) và não phải (chất xám não phải) rất rõ
ràng và đồng đều. Hai bán cầu não nối liền nhau nhờ vào tập hợp các sợi dây thần
kinh. Mỗi bán cầu não có một vai trò hết sức khác nhau. Chức năng chủ yếu của
não phải và não trái phân công như sau [16]:
Hình 1.1: Mô phỏng chức năng của bán cầu não trái và bán cầu não phải.
6
Con người khi sinh ra có thể có sự phát triển trội ở một trong hai bán cầu
não, nhưng hai bán cầu não cần phải hoạt động, phát triển cân bằng và phối hợp tốt
với nhau để con người phát triển toàn diện về cả trí tuệ và thể lực, về cả suy nghĩ và
hành động.
Trong hệ thống giáo dục truyền thống, kiến thức được cung cấp theo quy
trình liên tục và tuần tự. Trong mỗi môn học, chương trình thiết lập theo kiểu gần
như tuyến tính, phù hợp với học sinh có não trái phát triển trội vì đó cũng là cách
điệu, vũ điệu, các hoạt động phối hợp
thể lực, các quá trình tư duy tổng hợp
và tư duy suy diễn.
- Các chức năng não trái có đặc điểm là
tuần tự, hệ thống.
- Các chức năng não phải có đặc điểm
ngẫu hứng, tản mạn.
- Não trái có thể ghép các mảnh rời
thành tổng thể (từ chi tiết đến tổng thể,
tuần tự theo quy trình: cứ làm rồi sẽ
biết).
- Não phải nhìn thấy cái tổng thể trước
(nắm lấy cái tổng thể (bằng trực giác,
linh cảm): nhận ra kết quả cuối cùng
rồi mới làm, sau đó mới mổ xẻ thành
chi tiết).
- Tư duy não trái là tố chất phát triển trí
thông minh.
- Tư duy não phải là tố chất của óc
sáng tạo.
- Định hướng bằng quy trình. - Định hướng bằng hình ảnh, biểu đồ
- Đặt và trả lời các câu hỏi tuần tự. - Câu hỏi đủ loại, ngẫu hứng.
1.1.2. Cơ chế phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh
Để tất cả học sinh, dù là thuận não trái hay phải, dù có phong cách học khác
nhau đều có cơ hội tham gia tích cực vào hoạt động học, đều có cơ hội phát triển
toàn diện thì quá trình học tập đều phải trải qua ba giai đoạn:
1. Nhập dữ liệu: Nghe, nhìn, đọc.
2. Xử lí: Qua bộ não.
* Xử lí phân tích.
* Xử lí tổng hợp.
quả học tập.
9
b) Các biểu hiện của tính tích cực trong học tập
Tính tích cực học tập ở học sinh biểu hiện ở những dấu hiệu như:
* Biểu hiện bên ngoài, qua thái độ, hành vi và hứng thú:
+ Học sinh chú ý lắng nghe, quan sát, theo dõi thầy cô giáo.
+ Học sinh khao khát tự nguyện tham gia vào các hoạt động học tập.
+ Học sinh tham gia trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời
của bạn, phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra, nêu thắc mắc, đòi hỏi giải
thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ.
+ Học sinh sẵn sàng, hồ hởi đón nhận các nhiệm vụ, tự giác thực hiện các
nhiệm vụ, cố gắng hoàn thành công việc bằng mọi cách, hoàn thành công việc sớm
hơn kế hoạch, xin nhận thêm nhiệm vụ để thực hiện.
+ Học sinh thường xuyên tranh luận, trao đổi với bạn bè về các vấn đề học
tập, không nản chí khi gặp khó khăn.
*Biểu hiện bên trong: những biểu hiện này khó phát hiện hơn, như có tư duy
chuyển biến, có những sáng tạo trong học tập hơn trước, tập trung chú ý vào vấn đề
đang học.
*Biểu hiện qua kết quả học tập: học sinh chủ động vận dụng linh hoạt những kiến
thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới, kiên trì hoàn thành các bài tập,
không nản lòng trước những tình huống khó khăn và đạt kết quả học tập tốt hơn.
c) Các cấp độ của tính tích cực trong học tập
Khi nói về tính tích cực người ta thường đánh giá nó ở cấp độ cá nhân người
học trong quá trình thực hiện mục đích hoạt động chung. Tính tích cực được chia
làm ba cấp độ:
+ Tính tích cực bắt chước, tái hiện (xuất hiện do tác động bên ngoài): học
sinh bắt chước hành động của giáo viên, của bạn bè.
+ Tính tích cực tìm tòi (đi liền với quá trình hình thành khái niệm, giải quyết
tình huống nhận thức): học sinh tìm cách độc lập giải quyết vấn đề đã nêu ra, tìm ra
cách giải quyết hợp lí nhất.
11
Trong học tập, năng lực sáng tạo của học sinh được biểu hiện qua các hành
động cụ thể như:
+ Học sinh đề xuất được các giả thuyết và vận dụng linh hoạt kiến thức vào
thực tế để giải thích các hiện tượng Vật lí.
+ Học sinh đưa ra được các phương án thiết kế thí nghiệm để kiểm tra giả
thuyết. Có những sáng kiến trong quá trình làm thí nghiệm để thí nghiệm dễ quan
sát, dễ thực hiện, cho kết quả chính xác.
+Học sinh biết đưa ra giả thuyết mới khi mà giả thuyết trước đó không đúng
biết lựa chọn các phương án thí nghiệm để kiểm tra.
* Các phương pháp dạy học tích cực đều hướng tới việc bồi dưỡng tính tích cực và
tư duy sáng tạo của học sinh trong đó có phương pháp LAMAP.
1.2. Dạy học theo phương pháp LAMAP
1.2.1. "LAMAP" là gì?
"LAMAP" (là viết tắt của cụm từ tiếng Pháp: La main à la pâte) là phương
pháp dạy học tích cực dựa trên cơ sở của sự tìm tòi nghiên cứu. Phương pháp này được
khởi xướng bởi Giáo sư George Charpak (người đoạt giải Nobel Vật lí năm 1992).
LAMAP là phương pháp hình thành kiến thức cho học sinh thông qua thí nghiệm, dưới
sự giúp đỡ của giáo viên chính các em tìm ra câu trả lời cho vấn đề được đặt ra thông
qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra
1.2.2. Cơ sở của việc tổ chức dạy học theo phương pháp LAMAP
Cơ sở lí luận chính của dạy học theo phương pháp LAMAP là sự kết hợp
những mặt mạnh của ba thuyết: Hành vi, Nhận thức và Kiến tạo.
1.2.2.1. Thuyết hành vi
Thuyết hành vi cho rằng học tập là học tập là một quá trình đơn giản mà
trong đó những mối liên hệ phức tạp sẽ được làm cho dễ hiểu và rõ ràng thông qua
các bước học tập nhỏ được sắp xếp một cách hợp lí. Thông qua các những kích
thích về nội dung, phương pháp dạy học, người học có phản ứng tạo ra những
hành vi học tập và qua đó thay đổi hành vi của mình. Vì vậy quá trình học tập
được hiểu là quá trình thay đổi hành vi.
13
Cần có sự cân bằng giữa những nội dung do giáo viên truyền đạt và
những nhiệm vụ tự lực.
Vậy thuyết nhận thức coi trọng quá trình nhận thức dẫn đến cấu trúc kiến
thức một cách hệ thống, kiến thức phải có ý nghĩa đối với người học và vận hành
được để giải quyết vấn đề thực tiễn.
1.2.2.3. Thuyết kiến tạo
Thuyết kiến tạo có thể được coi là bước phát triển tiếp theo của thuyết nhận
thức. Tư tưởng nền tảng cơ bản của thuyết kiến tạo là đặt vai trò của chủ thể
nhận thức lên vị trí hàng đầu của quá trình nhận thức. Khi học tập, mỗi người
hình thành thế giới quan riêng của mình. Tất cả những gì mà mỗi người trải nghiệm
thì sẽ được sắp xếp chúng vào trong “bức tranh toàn cảnh về thế giới’’ của riêng
người đó, tức là tự kiến tạo riêng cho mình một bức tranh thế giới.
Hình 1.2:Mô hình học tập theo thuyết kiến tạo.
Những đặc điểm cơ bản của học tập theo thuyết kiến tạo.
Không có kiến thức khách quan tuyệt đối. Kiến thức là một quá trình và
sản phẩm được kiến tạo theo từng cá nhân (tương tác giữa đối tượng học tập và
người học).
Học tập trong nhóm có ý nghĩa quan trọng, góp phần cho người học tự điều
chỉnh sự học tập của bản thân mình.
14
HỌC SINH
HỌC SINH
HỌC SINH
HỌC SINH
NỘI DUNG HỌC
TẬP
(Phức hợp)
NỘI DUNG HỌC
tạp. (Thuyết kiến tạo)
1.2.3. Các đặc điểm của dạy học theo phương pháp LAMAP
Dạy học theo phương pháp LAMAP tuân thủ theo các nguyên tắc cơ bản sau:
+ Quan sát sự vật hiện tượng của thế giới thực tại gần gũi với học sinh và dễ
cảm nhận, học sinh thực hành thao tác trên các sự vật đó.
15
+ Học sinh lập luận bảo vệ ý kiến đưa ra thảo luận tập thể những suy nghĩ và
những kết luận.
+ Tiến trình sư phạm nhằm nâng cao dần mức độ học tập tự lực.
+ Học sinh phải có vở thực hành.
+ Việc chiếm lĩnh dần các khái niệm khoa học và kĩ thuật, đi kèm theo là sự
phát triển ngôn ngữ viết và nói.
Từ các nguyên tắc cơ bản đó có thể nhận thấy những đặc điểm chủ yếu của
phương pháp LAMAP như sau:
+ Phương pháp LAMAP nhấn mạnh đến việc tạo ra một môi trường học tập
mà trong đó vai trò tự chủ của học sinh được thể hiện rất rõ nét từ: đề xuất các dự
đoán, các ý tưởng thực nghiệm, lựa chọn các thiết bị đến việc tiến hành các thí
nghiệm. Các em vừa phải thể hiện khả năng làm việc độc lập của mình vừa thể hiện
khả năng làm việc theo nhóm. Để cho hoạt động nhóm có hiệu quả thì trước khi
hoạt động nhóm mỗi cá nhân phải tích cực làm việc, từng cá nhân phải có chính
kiến của mình. Khi thảo luận phải biết bảo vệ ý kiến của mình nhưng đồng thời biết
lắng nghe người khác.
+ Học theo phương pháp LAMAP giúp nuôi dưỡng các ý tưởng khoa học của
người học. Khi thực hiện việc học tập làm cho học sinh có nhu cầu và khao khát
muốn bộc lộ ý tưởng, khao khát muốn kiểm tra tính đúng đắn của chúng bằng thực
nghiệm. Học sinh biết xem xét vấn đề cần giải quyết dưới nhiều góc độ khác nhau,
qua đó rèn luyện được năng lực giải quyết vấn đề khoa học và làm quen với tiến
trình nghiên cứu khoa học một vấn đề thực tiễn.
+ Học theo phương pháp LAMAP giúp cho học sinh tìm hiểu sâu rộng về
nội dung kiến thức cần học, học sinh biết nhiều hơn nội dung học sau khi giải quyết
+ Giáo viên hướng dẫn cho học sinh chiếm lĩnh dần dần những khái niệm và
tiến trình khoa học phù hợp với chương trình học ở nhà trường.
+ Giáo viên giúp cho học sinh diễn đạt đúng đắn và chính xác nhất những ý
tưởng của mình. Để làm được như vậy, bước đầu giáo viên chấp nhận ngôn ngữ của
học sinh nếu như chỉ gần đúng để khỏi hạn chế ý tưởng của học sinh, song cần hướng
cho học sinh có ngôn từ chính xác. Đó cũng là mục tiêu của phát triển ngôn ngữ.
17
+ Giáo viên cố gắng làm phong phú các vấn đề nêu ra của học sinh và
khuyến khích chúng thắc mắc.
+ Giáo viên cổ vũ khích lệ học sinh nêu vấn đề và đưa ra những ý kiến bình luận.
+ Giáo viên tạo điều kiện cho học sinh được tự chủ.
1.2.4.2. Vai trò của học sinh
Học sinh là trung tâm của quá trình dạy học, họ tự quyết định một phần hay
toàn bộ chiến lược học tập, tự nghiên cứu, hoạt động theo cách thức làm việc độc lập
sau đó tranh luận và trao đổi với nhau để tìm ra giải pháp, chiến lược giải quyết vấn đề.
+ Trong một số trường hợp có khi học sinh đưa ra tình huống vấn đề.
+ Học sinh là người thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau rồi tổng hợp,
phân tích rồi tích lũy kiến thức từ quá trình làm việc.
+ Học sinh quyết định cách tiếp cận vấn đề và các hoạt động cần phải tiến
hành để giải quyết vấn đề.
+ Học sinh đưa ra giả thuyết, tiến hành thực nghiệm để kiểm tra giả thuyết
nếu giả thuyết sai thì bác bỏ và đưa ra giả thuyết mới, quá trình này có khi phải lặp
lại nhiều lần.
+ Học sinh trao đổi và lập luận trong quá trình hoạt động, chúng chia sẻ với
nhau những ý tưởng của mình, cọ sát với những quan điểm của nhau và hình thành
những kết luận tạm thời hoặc cuối cùng, bằng ghi chép hoặc bằng phát biểu. Như
vậy chúng sẽ biết nghe người khác, hiểu người khác, tôn trọng người khác và biết
bảo vệ ý kiến của mình.
1.2.5. Vai trò của vở thực hành
Vở thực hành là một công cụ quan trọng của phương pháp LAMAP. Nó là
vấn đề thì các em phải tìm kiếm từ ngữ giúp cho việc trình bày tốt nhất những quan
điểm, những suy nghĩ của mình để cho người khác hiểu.
+ Trao đổi thông tin với nhau: khi học sinh làm việc nhóm hoặc làm việc
chung cả lớp, các em phải trình bày quan điểm của mình trước nhóm hoặc trước
lớp. Qua đó các em sẽ nhận được thông tin phản hồi từ các bạn, quá trình trao đổi
thông tin qua lại sẽ giúp các em mạnh dạn hơn và tự tin hơn.
+ Tranh luận, bảo vệ ý kiến của mình: sự tranh luận khoa học giúp các em
học cách bảo vệ quan điểm của mình, biết lắng nghe người khác, biết thừa nhận trên
cơ sở của lí lẽ, biết làm việc cho mục đích chung trong một khổ nhất định.
Ngoài ra phương pháp LAMAP khuyến khích trao đổi bằng ngôn ngữ nói về
những quan sát, những giả thuyết, thí nghiệm và những giải thích.
*Về ngôn ngữ viết:
19
Vì sao phải viết?
20
Viết cho bản thân
mình nhằm:
Hành động
- Chỉ rõ một thiết bị.
- Dự đoán một kết quả, sự lựa
chọn một thiết bị thí nghiệm.
- Lập kế hoạch nghiên cứu.
Ghi nhớ
- Lưu lại những điều đã quan sát
được, những nghiên cứu, những
điều đọc được.
- Nhớ lại một hành động trước
đó.
- Ghi lại các kết quả.
Hiểu
+ Thực hiện một tiến trình nào đó trong một thời gian ngắn.
* Cả lớp:
+ Tổ chức lại.
+ Đề xuất các nghiên cứu.
+ Tổng hợp kiến thức.
Mặt khác việc ghi chép không chỉ bằng ngôn ngữ mà còn bằng biểu đồ, hình
vẽ kí hiệu Qua đó ngôn ngữ viết dần được hoàn thiện hơn.
* Vậy dạy học theo phương pháp LAMAP giúp cho học sinh có thể làm chủ được
ngôn ngữ.
1.2.7. Tiến trình dạy học theo phương pháp LAMAP
Dựa trên các nguyên tắc của phương pháp LAMAP nhấn mạnh đến tính độc
lập, tự chủ trong học tập của học sinh và cách thức làm việc tập thể của họ, dựa trên
đặc điểm của các môn khoa học, chúng tôi đề xuất một tiến trình dạy học gồm 5 pha
được sơ đồ hóa như dưới đây [18]:
21
Hình 1.3: Sơ đồ tiến trình dạy học theo LAMAP.
Nhìn về hình thức thì sơ đồ trên rất giống với sơ đồ của phương pháp dạy
học giải quyết đề. Sự khác biệt nằm ở nội dung cụ thể của các pha.
+ Thứ nhất "Vấn đề" của dạy học theo phương pháp LAMAP không chỉ đơn
thuần là những vấn đề từ chương trình học như dạy học giải quyết vấn đề thường áp
dụng mà là những vấn đề có trong thế giới thực và liên hệ với cuộc sống thực.
Những vấn đề như vậy thực sự thu hút học sinh và nó không đòi hỏi ở học sinh một
câu trả lời đúng hay sai mà quan trọng là việc các em phải đưa ra giải pháp để giải
quyết vấn đề đó.
+ Tiếp nữa về việc lĩnh hội kiến thức: Học sinh lĩnh hội được nó thông qua
giải quyết những vấn đề có thực trong đời sống của họ chứ không phải chỉ quyết
vấn đề sau khi đã lĩnh hội nội dung.
22
+ Điểm khác biệt nữa của dạy học theo phương pháp LAMAP với dạy học
giải quyết vấn đề ở chỗ: dạy học theo phương pháp LAMAP xoay quanh các kĩ
tìm cách lí giải.
Như vậy, không chỉ quan sát và thao tác, điều quan trọng là suy nghĩ về
những kết quả có được từ quan sát và đối chiếu giữa cái có được từ suy luận và cái
có được từ thực nghiệm.
Nếu ở pha này kết quả không đúng thì học sinh lại đưa ra giả thuyết mới và
lại thực hiện nghiên cứu để giải quyết vấn đề. Pha 2 và pha 3 liên tục luân chuyển
nhau.
Pha 4: Lập luận, trao đổi xung quanh các kết quả nghiên cứu đã thu được
Theo phương pháp LAMAP, “Chuẩn bị cho trẻ vào cuộc sống dân chủ, tức là
cho trẻ cái ham thích tham gia tranh luận, dạy cho các em cách phát biểu ý kiến của
mình, đối chiếu với quan điểm của người khác” [7]. Trong pha này, học sinh làm
việc chung cả lớp, trao đổi ý kiến đi đến kết quả chung dưới sự hướng dẫn của giáo
viên. Chính quá trình này giúp cho học sinh tiếp thu được kiến thức một cách tự
nhiên. Qua quá trình trao đổi còn giúp cho học sinh rèn luyện ngôn ngữ nói, các kĩ
năng giao tiếp, khả năng ứng xử.
Pha 5: Tổng hợp kết quả
Học sinh tiếp nhận kiến thức mới và nhập nó vào hệ thống kiến thức đã có.
Việc vận hành kiến thức thu được giúp cho người học làm chủ kiến thức và kĩ năng
mới, nhưng qua đó lại có thể nảy sinh vấn đề mới, bắt đầu cho tiến trình nghiên cứu
mới.
Tóm lại dạy học theo phương pháp LAMAP người học luôn được đặt vào
những tình huống rất thật trong đời sống khiến cho họ luôn khao khát tìm hiểu và
giải quyết. Và như vậy sự tiếp nhận kiến thức cũng diễn ra hết sức tự nhiên. Bên
cạnh mục tiêu về kiến thức thì mục tiêu về rèn luyện kĩ năng khác cũng đồng thời
được tiếp nhận.
1.2.8. Khả năng vận dụng phương pháp LAMAP ở trường phổ thông
24
* Dạy học theo phương pháp LAMAP ở trường phổ thông sẽ đạt hiệu quả khi đảm
bảo các điều kiện sau đây:
+ Lựa chọn nội dung bài học phù hợp với phương pháp LAMAP. Các môn