1
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt
nghiÖp
LỜI MỞ ĐẦU
Gần 70% dân số Việt Nam là dân số ở nông thôn và hoạt động trong
lĩnh vực
nông nghiệp. Hoạt động sản xuất nông nghiệp của nước ta chủ yếu vẫn là
sản xuất
truyền thống, ít sử dụng máy móc và công nghệ mới. Hiện nay nước ta
đang tiến
hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng nông nghiệp vẫn là ngành quan
trọng
trong phát triển kinh tế cũng như giải quyết phần lớn nguồn lao động ở
nông thôn.
Do đó, đầu tư vào nông nghiệp và phát triển nông thôn là rất cần thiết. Sự
đầu tư
này không chỉ tác động tới ngành nông nghiệp mà còn tác động tới tất cả
các ngành
trogn nền kinh tế. Trong thời gian qua các nguồn vốn dành cho nông
nghiệp và phát
triển nông thôn đã mang lại những lợi ích to lớn trong đó phải kể đến
nguồn vốn
ODA. Các chương trình, dự án ODA đẫ mang lại những lợi ích kinh tế xã
hội cho
nhiều vùng đặc biệt là vùng sâu, vung xa. Tuy nhiên việc quản lý nguồn
vốn ODA
còn nhiều bất cập cần phải giải quyết.
Chính vì vậy em đã quyết định chọn đề tài “ Thực trạng thu hút
và sử
dụng ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn tại các tỉnh Miền
Trung”.
1.1.1 Khái niệm, đặc
điểm, phân loại ODA:
1.1.1.1 Khái niệm
ODA:
- Sự hình thành
ODA trên thế
giới:
Sau đại chiến thế
giới lần thứ II,
các nước công
nghiệp phát triển
đã thỏa
thuận vì sự trợ giúp dưới
dạng viện trợ không
hoàn lại hoặc cho vay
với điều kiện
ưu đãi cho các nước
đang phát triển. Tháng 7
năm 1944, tại Bretton
Woods bang
Hampshire (Hoa Kỳ),
Hội nghị tài chính tiền tệ
đã ra quyết định thành
lập tổ chức
tài chính Quốc tế – Ngân
hàng thế giới ( WB ).
Mục tiêu của WB là thúc
đẩy phát
triển kinh tế và tăng
trưởng phúc lợi của các
đế cải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội thì khó có
cơ hội để thu hut vốn FDI cũng
như vay vốn tín dụng khác để mở rộng kinh
doanh.Nhưng ngược lại chỉ dừng lại ở
việc tìm kiếm ODA mà không tìm cách thu hút các
nguồn vốn FDI và các nguồn
vốn tín dụng khác thì không có điều kiện tăng
trưởng nhanh sản xuất và dịch vụ, sẽ
không có đủ thu nhập để trả nợ lại vốn ODA.
NguyÔn ThÞ
H»ng
Líp : Kinh tÕ ®Çu t−
48B - QN
3
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
1.1.1.2. Đặc điểm của
ODA
Thứ nhất, vốn
ODA mang tính
ưu đãi.
Vốn ODA có thời
gian cho vay
(hoàn trả vốn)
dài, có thời gian
ân hạn (chỉ
trả lại chưa trả nợ
gốc).Đây cũng chính là
một sự ưu đãi dành cho
nước vay.
Thông thường,
quân đầu người càng thấp thì thường được tỉ lệ viện
trợ không hoàn lại của ODA
càng lớn và khả năng vay với lãi suất thấp và thời
hạn ưu đãi càng lớn. Khi các
nước này đạt trình độ phát triển nhất định qua
ngưỡng đói nghèo thì sự ưu đãi này
sẽ giảm đi.
-Mục tiêu sử dụng ODA của các nước này phải phù hợp
với chính sách và
phương hướng ưu tiên xem xét trong mối quan hệ
giữa bên cấp ODA và bên nhận
ODA.
Thông thường, các nước cung cấp ODA đều
có những chính sách và ưu tiên
riêng của mình và đối tượng ưu tiên của các nước
cung cấp ODA cũng có thể thay
đổi theo từng giai đoạn cụ thể. Do đó, nắm được
hướng ưu tiên và tiềm năng cảu
các nước, các tổ chức cung cấp ODA là rất cần
thiết. Về thực chất, ODA là sự
chuyển giao có hoàn lại hoặc không hoàn lại một
phần tổng sản phẩm quốc dân
trong những điều kiện nhất định. Như vậy, nguồn
gốc thực chất của ODA chính là
một phần của GNP các nước giàu được chuyển sang
các nước nghèo. Do vậy, ODA
rất nhạy cảm về mặt xã hội và chịu sự điều chỉnh
của dư luận xã hội nước cung cấp
cũng như tiếp nhận ODA.
Thứ hai, ODA mang tính chất ràng buộc.
ảnh hưởng chính trị, vừa
thực hiện xuất khẩu hàng
hóa, dịch vụ tư vấn vào
nước
tiếp nhận viện trợ. Ví dụ:
BỈ, Đức, Đan Mạch yêu
cầu khoảng 50% viện trợ
phải
mua bằng hàng hóa và
dịch vụ của nước mình.
Canada yêu cầu cao nhất
tới 65%. F
Còn Thụy Sỹ yêu cầu
7.1%; Hà Lan 2.2%, hai
nước này được coi là
những nước có
tỉ lệ ODA yêu cầu phải
mua hàng hóa dịch vụ
của nhà tài trợ thấp. Đặc
biệt New
Zealand không đòi hỏi
phải tiêu thị hàng hóa,
dịch vụ của họ.
Kể từ khi ra đời
đến nay, viện trợ
luôn luôn chứa đựng hai mục tiêu cùng tồn
tại song song đó là thúc đẩy tăng trưởng bền vững
và giảm nghèo ở những nước
đang phát triển và tăng cường vị thế chính trị của
các nước tài trợ.
- Hỗ trợ cơ bản: là những nguồn lực được
cung cấp để đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng kinh tế xã hội và môi trường. Đây thường là
những khoản cho vay ưu đãi.
NguyÔn ThÞ
H»ng
Líp : Kinh tÕ ®Çu t−
48B - QN
5
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
- Hỗ trợ kĩ thuật:
là những nguồn
lực dành cho
chuyển giao tri
thức, công
nghệ, xây dựng năng lực,
… loại viện trợ này chủ
yếu là viện trợ không
hoàn lại.
* Theo điều kiện,
ODA bao gồm:
- ODA không
ràng buộc nước
nhận: việc sử
dụng nguồn tài
trợ không bị ràng
buộc bởi nguồn sử dụng
hay mục đích sử dụng
nào.
- ODA có ràng
+ Hỗ trợ trả nợ: giúp thanh toán các khoản
nợ quốc tế đến hạn.
+ Viện trợ chương trình: là khoản ODA dành
cho mục đích tổng quát với
thời gian nhất định mà không phải xác định một
cách chính xác nó sẽ được sử dụng
như thế nào?
+ Hỗ trợ cán cân thanh toán: thường là hỗ
trợ tài chính trực tiếp hoặc hỗ trợ
hàng hóa, hỗ trợ qua nhập khẩu.
* Theo nhà cung cấp ODA được chia thành:
- ODA song phương: là ODA của một chính
phủ tài trợ trực tiếp cho một
chính phủ khác.
- ODA đa phương: là ODA của nhiều chính
phủ cùng đồng thời tài trợ,
thường được thực hiện qua các tổ chức quốc tế.
- ODA của tổ chức phi chính phủ (NGO)
1.1.2 Tình hình chung về ODA trên thế giới
Trên thế giới việc cung cấp ODA thực chất
đã được tiến hành từ nhiều thập
kỉ trước đây, bắt đầu bằng kế hoạch Marshall của
Mỹ viện trợ cho các nước Tây Âu
NguyÔn ThÞ
H»ng
Líp : Kinh tÕ ®Çu t−
48B - QN
6
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
sau chiến tranh thế giới
tư. Và kể từ năm
1960 đến nay, ODA
được coi là khoản tài trợ
quốc tế ưu đãi cho các
nước chậm và
đang phát triển. Các
khoản ODA phần lớn
được cung cấp bởi thành
viên DAC,
chiếm khoảng 95% tổng số ODA thế giới. Ngoài ra
các tổ chức phi chính phủ
(NGO) cũng tham gia vào việc cung cấp ODA trên
thế giới.
Trong suốt giai đoạn 2000-2006, tổng
nguồn vốn ODA của các nước DAC
đạt bình quân gần 56 tỷ USD, thấp nhất năm 1997
(gần 47 tỷ USD) và đạt cao nhất
vào năm 2008 (gần 68.5 tỷ USD).Tuy có một số
biến động như vậy nhưng nhìn
chung giá trị tuyệt đối ODA toàn cầu không thay
đổi nhiều và không đủ đáp ứng
nhu cầu ngày càng gia tăng của các nước tiếp nhận.
Trong thời gian 2006-2009, khối lượng viện
trợ dành cho Châu Á chiếm
trung bình khoảng 30% ODA toàn cầu. Nhìn vào
thực tế sử dụng cho thấy, ODA
không phải luôn có hiệu quả đối với bất kì quốc gia
nào, bất kỳ lĩnh vực nào. Trong
khi đó ODA mang lại gánh nặng nợ nần khó trả cho
một số nước nhất là Châu Phi.
ng
Líp : Kinh tÕ
®Çu t− 48B -
QN
7
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
về môi trường trong thời
đại ngày nay, cải thiện
môi trường sống vì sự
phát triển lâu
bền.
Thứ hai là vấn đề
“phụ nữ trong
phát triển”
(Women in
Development-
WID)
thường xuyên được đề
cập tới trong chính sách
ODA của nhiều nhà tài
trợ.
“ Phụ nữ trong
phát triển” là một
quan điểm đề cao
vai trò của phụ nữ
và
khuyến khích họ tham
gia vào các hoạt động
phát triển. Việc tạo ra
các cơ hội cho
được sự nhất trí ngày càng cao
giữa nhà tài trợ và nước nhận viện trợ là:
-
-
-
-
Tạo tiền đề tăng trưởng kinh tế
Xóa đói giảm nghèo
Bảo vệ môi trường
Hỗ trợ khai thác tiềm năng sẵn có và sử dụng chúng
một cách có hiệu quả.
Thứ tư, nguồn vốn ODA tăng chậm.
Các tổ chức tài chính quốc tế như WB,
ADB đang phải đương đầu với
những khó khăn về nguồn vốn do phần góp vốn hạn
hẹp của một số nước thành
viên. Tình trạng một số nước nghèo mắc nợ nhiều,
khả năng hấp thụ ODA của
nhiều nước tiếp nhận còn hạn chế, thiếu chủ động
trong thu hút viện trợ… cũng
là một trong những nguyên nhân làm nguội “nhiệt
tình” của các nhà tài trợ.
Ngoài ra, trên thế giới đã xuát hiện những quan
điểm mới tiến bộ hơn là quan
tâm nhiều hơn đến hiệu quả sử dụng vốn ODA chứ
không phải quan tâm tới số
lượng ODA được cung cấp. Bởi vậy, thêm một lý
do nữa để các nhà tài trợ trân
trọng hơn trong việc mở “hầu bao” của mình. Mặt
khác, hiện nay ở nhiều nước
giúp đỡ các nước đang phát triển
giải
quyết các vấn đề môi
trường toàn cầu như sự
thay đổi khí hậu, bảo vệ
tầng Ozon,
bảo vệ sinh thái, bảo vệ
nguồn nước. Vì vậy, các
nước muốn nhận được
viện trợ
phải cạnh tranh để nhận
được sự giúp đỡ này vì
cung cấp ODA nhỏ hơn
nhu cầu
về vốn rất nhiều. Hơn
nữa, vốn ODA dành cho
các vấn đề môi trường
có một tỷ
trọng lớn thường là viện
trợ không hoàn lại nên các nước đều muốn nhận
được
sự ưu đãi này.
-Gần đây trên thế giới xuất hiện một loạt những vấn đề
mà việc giải quyết
nó cần đến những khoản ODA khẩn cấp như: khắc
phục hậu quả chiến tranh vùng
vịnh, xung đột sắc tộc ở Châu Phi, khắc phục hậu
quả của thiên tai…
1.1.3. Vai trò của ODA trong chiến lược phát
triển kinh tế xã hội của các nước
mật thiết với việc phát triển nguồn
Ngu
yÔ
n
ThÞ
H»
ng
Líp : Kinh tÕ
®Çu t− 48B -
QN
9
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
nhân lực. Đây chính là
những lợi ích căn bản
lâu dài đối với nước
nhận tài trợ. Nhật
Bản được biết đến là
nước đứng đầu thế giới
về cung cấp ODA. Hợp
tác kĩ thuật
của Nhật Bản là một ví
dụ minh họa điển hình
về vai trò của hỗ trợ phát
triển chính
thức trong việc giúp các
nước đang phát triển tiếp
thu những thành tựu
khoa học
hiện đại, công nghệ tiên
tiến và phát triển nguồn
sang chính sách khuyến khích
nền kinh tế phát triển theo định hướng phát triển
kinh tế khu vực tư nhân. Thế giới
đã thừa nhận sự cần thiết của loại hình viện trợ này
đối với các nước đang phát triển
và Nhật Bản cũng chú trọng tới loại hình này.
Thứ tư, ODA góp phần tăng khả năng thu
hút FDI và tạo điều kiện để mở
rộng đầu tư phát triển trong nước ở các nước đang
phát triển
Các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài khi
quyết định bỏ vốn đầu tư vào một
nước trước hết họ quan tâm tới khả năng sinh lời
của vốn đầu tư tại nước đó.
Việc đầu tư của Chính Phủ vào việc nâng
cấp, cải thiện và xây dựng mới các
cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng đều hết
sức cần thiết nhằm làm cho
môi trường đầu tư hấp dẫn hơn. Nhưng vốn đầu tư
cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng
rất lớn, trong nhiều trường hợp các nước đang phát
triển cần phải dựa vào nguồn
vốn ODA để bổ sung cho vốn đầu tư hạn hẹp từ
ngân sách nhà nước. Như vậy,
muốn thu hút được vốn đàu tư trực tiếp nước ngoài
thì cần phải có một môi trường
đầu tư thuận lợi và hấp dẫn.
1.2. Sự cần thiết của ODA đối với phát triển
Nông nghiệp nông thôn các tỉnh
Miền Trung
nghèo đói và cơ sờ hạ
tầng nông thôn yếu kém
cũng được minh
chứng rõ ràng qua thực
tế. Ở Việt Nam cũng như
nhiều nước đang phát
triển khác
có cùng tình trạng cơ sở
hạ tầng nông thôn yếu
kém, tỉ lệ nghèo rõ ràng
cao hơn hẳn
những nước có cơ sở hạ
tầng hoàn chỉnh gồm
mạng lưới đường giao
thông, hệ
thống thủy lợi, hay trạm
cấp nước sạch và các
chợ… được xây dựng để
thúc đẩy
giao lưu buôn bán. Sự
đóng góp của cơ sở hạ
tầng nông thôn trong xóa
đói giảm
nghèo đã được minh
chứng qua những thành
quả của dự án ngành cơ
sở hạ tầng
nông thôn (RISP) do ADB tài trợ trong những năm
1998-2004. Các báo cáo đánh
giá và kết thúc dự án cho thấy tỉ lệ nghèo trong
nhậ
p.
-
Tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp, đa dạng hóa sinh
kế và các nguồn
Tăng cường sự tham gia của người nghèo vào các hoạt
động kinh tế, giảm tỉ
lệ nhiễm bệnh do sử dụng nguồn nước không an
toàn và một số bệnh tật khác.
-
-
Thúc đẩy giao lưu buôn bán và trao đổi thông tin.
Góp phần trong công tác xóa đói giảm nghèo
Qua đó ta thấy rằng, xây dựng và tái thiết cơ
sở hạ tầng nông thôn là một
điều hết sức cần thiết. Nhưng để có thể thực hiện
được nhiệm vụ này quả là rất khó
NguyÔn ThÞ
H»ng
Líp : Kinh tÕ ®Çu t−
48B - QN
11
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
khăn và cần thềm sự
giúp đỡ của các nguồn
lực bên ngoài cụ thế ở
đây là nguồn vốn
hỗ trợ chính thức
(ODA).
Ng
ng
nă
m
200
9
N
gu
ồn
:
số
liệ
u
do
cá
c
tỉn
h
cu
ng
cấ
p
NguyÔn ThÞ H»ng
Líp : Kinh tÕ ®Çu t− 48B - QN
Tỉnh
ĐVT
Thanh
Hóa
Nghệ
An
Hà
bình quân theo đầu
người một năm từ 950
USD đến 1000 USD vào
năm 2010 )
• Phát triển xã hội
– cải thiện đáng
kể cuộc sống tinh
thần , văn hóa và
vật
chất của con người
• Quản lý nhà
nước tốt- tạo nền
móng cơ sở hạ
tầng và thể chế
nhằm thúc
đẩy quá trình hiện đại
hóa và công nghiệp hóa
từng bước chuyển sang
nền kinh tế
tri thức.
Để đạt được mục
tiêu tăng trưởng
kinh tế, Chính