Ứng dụng Stress Test trong việc đánh giá khả năng chịu đựng rủi ro kinh tế của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam - Pdf 11

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH CÔNG TRÌNH DỰ THI

GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2012”
Tên công trình
ỨNG DỤNG STRESS TEST TRONG VIỆC ĐÁNH GIÁ KHẢ
NĂNG CHỊU ĐỰNG RỦI RO KINH TẾ CỦA HỆ THỐNG
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

này cho các định chế tài chính trên thế giới. Đặc biệt, đề tài sẽ vẽ nên một bức tranh
tổng thể tình hình hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra các kiến nghị
cho từng ngân hàng cụ thể cũng như cho toàn hệ thống. Vì lý do đó, tác giả đã chọn
và thực hiện đề tài:

“Ứng dụng Stress Test trong việc đánh giá khả năng chịu đựng rủi ro kinh tế của
hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam” Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây

Tháng 4 năm 1995, Ủy ban Basel đề xuất phương pháp tiếp cận mô hình nội bộ theo

đó các ngân hàng cần phải thực hiện Stress Test để gia tăng vốn cần thiết.

Berkowitz (1999), cung cấp cách tiếp cận lý thuyết Stress Test áp dụng cho lĩnh vực
tài chính như là một thay thế cho phương pháp tiếp cận VaR khi mà phương pháp
này không xét đến tác nhân làm thay đổi rủi ro hiện tại. Mô hình Stress Test được
phát triển bởi Berkowitz (1999) gợi ý một cách ước tính rủi ro danh mục tiềm ẩn
của các ngân hàng bằng cách kết hợp các biến động lịch sử của các hành vi kinh tế
vĩ mô vào mô hình.

Lee (2007) xem xét tác động của quy định về vốn lên sự ổn định cấu trúc tài chính ở
Hàn Quốc. Cụ thể, Lee (2007) xem xét mối quan hệ thực nghiệm giữa quy định về
vốn và các rủi ro kinh tế vĩ mô và thấy rằng mức vốn ngân hàng hiện tại đóng một
vai trò hạn chế trong việc hấp thụ các cú sốc kinh tế vĩ mô. Lee chứng minh tầm
quan trọng của việc nâng cao các tiêu chuẩn quy định đối với vốn ngân hàng ở cả
cấp độ vi mô và vĩ mô.

Nghiên cứu thực nghiệm của Renzo và các tác giả khác (2006) xem xét rủi ro vỡ nợ

- Phương pháp toán kinh tế - thống kê mô tả: Dựa vào các số liệu thu thập được và
diễn dịch thông qua hình vẽ, biểu đồ để đưa ra các nhận xét và kết luận ban đầu
về vấn đề cần được rút ra. Trên cơ sở đó, tạo nền tảng cho phân tích định lượng
sâu hơn, cụ thể là chương trình đánh giá kiểm soát vốn.
- Phương pháp duy vật biện chứng: Các đối tượng nghiên cứu sẽ được đặt trong
mối quan hệ nhân quả, tác động lẫn nhau. Mọi vấn đề sau khi được giải quyết sẽ
được tổng kết hoặc mô hình hóa một cách tổng quan.

Nội dung nghiên cứu

Bài nghiên cứu dưới đây bước đầu sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về công cụ ưu
việt này. Từ thực tiễn số liệu có được từ các ngân hàng, bài nghiên cứu sẽ đo lường
khả năng hấp thụ các giá trị rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt trong mối tương quan
với kế hoạch thực hiện của Chính phủ. Cuối cùng dựa vào kinh nghiệm của các
nước để xây dựng nên một lộ trình thực hiện Stress Test cho tình hình cụ thể Việt
Nam.

Để trả lời câu hỏi trên, bài nghiên cứu sẽ đi qua các phần sau:

- Chương 1: Khái quát công cụ đánh giá rủi ro - Stress Test cho hệ thống ngân

hàng

- Chương 2: Đo lường khả năng chịu đựng rủi ro kinh tế của các ngân hàng
thương mại Việt Nam
- Chương 3: Đề xuất lộ trình áp dụng Stress Test vào thực tiễn Việt Nam và giải
pháp nhằm nâng cao khả năng chịu đựng rủi ro kinh tế cho các ngân hàng
thương mại trong thực tế

Đóng góp của đề tài

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 - KHÁI QUÁT CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ RỦI RO – STRESS TEST

CHO HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 3

1.1 Tổng quan về phương pháp Stress Test 3

1.1.1 Khái niệm Stress Test 3
1.1.2 Vai trò của Stress Test 3
1.1.2.1 Nắm bắt được các tác động lên ngân hàng khi các sự kiện không thường

xuyên xảy ra và gây nên tổn thất lớn 4

1.1.2.2 Xác định và kiểm soát rủi ro 4
1.1.2.4 Đưa ra quyết định về mức độ chịu đựng rủi ro và phân bổ nguồn lực 5
1.1.3 Phân loại Stress Test 6
1.1.3.1 Theo mức độ kiểm định 6
1.1.3.2 Theo phương pháp kiểm định 7
1.2 Mô hình thực hiện Stress Test vĩ mô cho hệ thống ngân hàng 9

1.2.1 Mô tả thử nghiệm chương trình Stress Test 9

1.2.2 Các bước thực hiện 12
1.2.2.1 Bước thứ nhất, xây dựng kịch bản vĩ mô 12
1.2.2.2 Bước thứ hai, tính tốc độ tăng trưởng NPLs và tổng dư nợ 13

3.1.1 Mục đích thực hiện 59

3.1.2 Đối tượng thực hiện 59

3.1.3 Phương pháp thực hiện và cách thức tiến hành Stress Test 60
3.1.3.1 Khái quát về chương trình thực hiện 60
3.1.3.2 Các bước tiến hành Stress Test thường niên 61
3.1.4 Các hành động sau khi có kết quả Stress Test 64

3.2 Khảo sát khả năng đáp ứng tiêu chuẩn an toàn vốn và các phương pháp nâng
cao nguồn vốn và chất lượng hoạt động cho các NHTM Việt Nam 65
3.2.1 Quy định Hiệp ước Basel III và thực trạng đáp ứng của NHTM Việt

Nam 65

3.2.2 Các phương pháp nâng cao nguồn vốn và chất lượng hoạt động cho các
NHTM Việt Nam 68

3.2.2.1 Một số giải pháp nâng cao năng lực tài chính của các NHTMCP 69
3.2.2.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của các NHTMCP 73
KẾT LUẬN 78

PHỤ LỤC 1 - KHUYẾN NGHỊ CỦA BASEL NHẰM TĂNG HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG STRESS TEST i

PHỤ LỤC 2 - GIẢI PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO CỦA
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM iv

PHỤ LỤC 3 - ĐO LƯỜNG TƯƠNG QUAN HỒI QUY CỦA TỶ SỐ NPL VỚI
CÁC BIẾN KINH TẾ VĨ MÔ xii

Nợ xấu của ngân hàng
npl
Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng
PD
Xác suất khách hàng không trả được nợ
PPNR
Doanh thu thuần trước khi được điều chỉnh bởi khoản dự phòng
RR
Rủi ro
RWA
Tài sản tính theo rủi ro gia quyền
SCAP
Chương trình đánh giá kiểm soát vốn
DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Các biến dùng trong mô hình hồi quy

Bảng 1.2: Tác động của lãi suất đối với giá trị của ngân hàng
Bảng 1.3: CAR của ngân hàng tương ứng với PD
Bảng 2.1: Kịch bản vĩ mô

Bảng 2.2: Giá trị rủi ro tỷ giá của các ngân hàng theo từng kịch bản
Bảng 2.3: Giá trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng theo từng kịch bản
Bảng 2.4: Giá trị rủi ro còn lại sau khi đã hấp thụ bởi lợi nhuận ròng của các ngân

hàng

Bảng 2.5: Hệ số CAR các ngân hàng theo thống kê gần nhất

Bảng 3.1: Tổng quan về chương trình thực hiện Stress Test định kỳ

“Tái cấu trúc kinh tế” là thuật ngữ thường thấy khi nhắc đến kinh tế Việt Nam
trong những năm gần đây. Sự mất cân đối sẵn có của thị trường tài chính cộng thêm
hệ lụy từ cuộc khủng hoảng toàn cầu và khủng hoảng nợ công Châu Âu khiến cho
tình hình ngày càng nghiêm trọng. Từ thực trạng đó, tại kỳ họp thứ hai của Quốc
Hội khóa XIII, Chính phủ đã đưa ra mục tiêu tương lai là xây dựng mô hình đổi
mới, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả cạnh tranh.
Để thực hiện được mục tiêu trên, một trong ba trọng tâm cần được giải quyết đó là
cải cách hệ thống ngân hàng.

Hệ thống ngân hàng giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế của một quốc gia do
vị thế trung gian trong việc kết nối các chủ thể thừa vốn và thiếu vốn. Mọi hoạt
động của định chế này đều có ảnh hưởng truyền dẫn trực tiếp đến sức khỏe của
toàn bộ hệ thống tài chính cũng như là công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của
NHNN. Từ khi ra đời vào năm 1951 cho đến nay, ngành ngân hàng không ngừng
phát triển về quy mô và chất lượng hoạt động. Đặc biệt, năm 2007 đánh dấu sự gia
tăng vượt bậc về số lượng các ngân hàng mới được thành lập và cũng chính là thời
điểm mà những rủi ro tiềm ẩn trong hệ thống bắt đầu được bộc lộ và đi theo chiều
hướng mất kiểm soát. Để tái cấu trúc hệ thống ngân hàng việc đầu tiên là phải xây
dựng các chỉ tiêu để giám sát an toàn, đánh giá mức độ lành mạnh, tính hiệu quả
trong hoạt động, từ đó phân loại các ngân hàng thành từng nhóm tương thích để có
thể áp dụng chính sách phù hợp cho từng nhóm. Tuy nhiên, đây là một thách thức
lớn vì trong điều kiện hệ thống ngân hàng chịu tác động liên tục từ môi trường vĩ
mô bên ngoài, chẳng hạn như các chính sách quản lý và giám sát của nhà nước,
khủng hoảng tài chính thế giới, khủng hoảng nợ công… thì hệ thống tiêu chuẩn này
không thể đo lường được tính hiệu quả và an toàn của các ngân hàng cũng như hỗ
trợ các nhà quản trị ngân hàng trong việc ra quyết định. Như vậy, đòi hỏi cần phải
có một hệ thống đo lường khác, một mô hình khác ưu việt hơn nhằm đánh giá hợp
lý nhất sức khỏe của hệ thống ngân hàng trong từng điều kiện kinh tế khác nhau,
giải pháp này chính là Stress Test - mô hình này từng được Chính phủ Mỹ thực hiện
đầu năm 2009 bởi sự dẫn dắt của Bộ trưởng Timothy Geithner.

1.1 Tổng quan về phương pháp Stress Test

1.1.1 Khái niệm Stress Test

Theo định nghĩa chung, Stress Test là khái niệm dùng để chỉ công cụ mô tả mức
độ biến động của danh mục khi có sự xuất hiện đột ngột của các biến cố vĩ mô có
tầm ảnh hưởng lớn. Stress Test được xem là một công cụ hữu dụng bởi nó cung cấp
các thông tin về sự thay đổi của thị trường dưới tác động của các sự kiện lớn trong
khi hầu hết các tài sản thị trường và các khoản thu nhập trong quá khứ không cho
chúng ta biết về các tín hiệu đó.

Đối với các tổ chức tài chính, Stress Test được sử dụng rộng rãi hơn với vai trò
là một công cụ quản trị rủi ro đo lường tác động của các rủi ro khác nhau, bao gồm
rủi ro thị trường (các khoản lỗ xảy ra khi có sự thay đổi trong giá hay lãi suất), rủi
ro tín dụng (các khoản lỗ xuất hiện khi người đi vay hay người được cấp tín dụng bị
phá sản), rủi ro thanh khoản (sự mất thanh khoản của các tài sản và sự rút vốn ồ ạt
của người cho vay). Dần dần Stress Test được ứng dụng với quy mô rộng hơn, mục
đích để đo lường độ nhạy cảm của một nhóm các tổ chức (như một nhóm các ngân
hàng thương mại) hoặc là toàn bộ hệ thống tài chính dưới tác động của một cú sốc
nào đó.

1.1.2 Vai trò của Stress Test

Stress Test được sử dụng để hỗ trợ các mô hình thống kê như VaR, và chủ yếu là

năng xuất hiện thấp
được nắm bắt bởi
công cụ Stress Test

Rủi ro được thể hiện
bởi VaR đã từng xuất
hiện trong quá khứ Nhân tố rủi ro 1.1.2.2 Xác định và kiểm soát rủi ro

Công dụng thứ hai của Stress Test là xem xét các rủi ro tiềm tàng mà các ngân
hàng có thể đối mặt, với phương pháp kiểm tra độ nhạy chúng ta có thể tính toán
được mức độ nhạy cảm của từng khoản mục ứng với mỗi rủi ro cụ thể. Từ đó có thể
xem xét tổng thể rủi ro và tác động tổng hợp của chúng, bởi tác động riêng rẽ của
5
đựng rủi ro của từng bộ phận. Sau đó chúng được liên kết lại và đưa ra quyết định
phân bổ nguồn lực một cách tốt nhất cho toàn ngân hàng. Có hai cách phân bổ
nguồn lực là trực tiếp và gián tiếp:

Phương pháp phân bổ trực tiếp, có hai cách tiếp cận: cách tiếp cận thứ nhất là
xây dựng các kịch bản dựa trên cấu trúc của ngân hàng, sau đó sử dụng các kết quả
tính toán được để hình thành nên quyết định phân bổ nguồn lực (được thể hiện phía
bên phải của hình 1.2); cách tiếp cận thứ hai sẽ xây dựng các kịch bản bất lợi nhất
mà ngân hàng có thể đối mặt trong tương lai, sau đó tùy thuộc vào khả năng xảy ra
6
và mức độ thiệt hại của từng trường hợp mà đưa ra các quyết định phân bổ. Quy
trình này đòi hỏi tính khách quan nhưng rất khó để đạt được bởi sự giới hạn của chu
kỳ cũng như chiều dài của dữ liệu lịch sử.

Phương pháp phân bổ gián tiếp, ngân hàng sẽ sử dụng các phương pháp khác
như VaR để xác lập các giới hạn và phân bổ nguồn lực từ trước, Stress Test sẽ được
sử dụng ở giai đoạn sau để đánh giá mức độ thích hợp của chúng và đảm bảo rằng
việc cân nhắc phân bổ nguồn lực từ trước là đúng (được biểu hiện phía bên phải của
hình 1.2).

Hình 1.2: Sự phân bổ và xác định nguồn lực

Vốn chủ
sở hữu

Ngoại
hối

Khác

Kết quả
của Stress
Test được
sử dụng để
phân bổ
nguồn lực
thích hợp

1.1.3 Phân loại Stress Test

1.1.3.1 Theo mức độ kiểm định

Stress Test được chia làm hai loại: Stress Test hệ thống (vĩ mô) và Stress Test

danh mục (vi mô). Có một vài khác biệt giữa hai loại Stress Test này.


Phân tích độ nhạy

Phân tích độ nhạy là loại kiểm định đơn giản nhất, xem xét sự thay đổi của từng
biến rủi ro khi các biến tài chính thay đổi một đơn vị. Loại kiểm định này cho ra kết
quả tương đối nhanh và thường được sử dụng bởi các nhà quản lý cấp cao để có cái
nhìn đầu tiên tương đối khi có sự thay đổi của các biến tài chính. Tác dụng thứ hai
của phân tích độ nhạy là kiểm định sự di chuyển của thị trường trong quá khứ với
nhiều nhân tố khác nhau. Có nhiều cách thực hiện trong ứng dụng này, một trong
những cách đó là xem xét tác động của các yếu tố rủi ro làm thị trường sụt giảm như
thế nào (ví dụ như tác động của lãi suất hay chứng khoán). Tuy nhiên cần phải lưu ý
nếu sự kết hợp các rủi ro không đúng với thực tế có thể cho ra kết quả không chính
xác. Hơn nữa vì sử dụng các dữ liệu trong quá khứ để xác định sự di chuyển của các
nhân tố rủi ro trong tương lai có thể dẫn đến các sai lầm như phương pháp VaR.

So với phân tích kịch bản dưới đây, phân tích độ nhạy chủ yếu dựa vào sự tương
quan của thị trường trong thực tế. Ngoài ra, chúng ta còn có thể sử dụng một biến
thể của kỹ thuật này: ban đầu xác định sự thay đổi của một nhân tố rủi ro sau đó sẽ
thông qua mối tương quan giữa các rủi ro trong từng giai đoạn cụ thể để xác định sự
thay đổi của các nhân tố rủi ro đó. Phương pháp này sẽ hỗ trợ nhiều trong việc đưa
8
ra các quyết định nhưng sẽ có sai lệch nhiều khi cấu trúc tài chính trong tương lai
xảy ra hiện tượng sụp đổ và không giống với quá khứ. Phân tích kịch bản

Khác với phân tích độ nhạy, phân tích kịch bản phức tạp hơn, nó không xem xét

1.2 Mô hình thực hiện Stress Test vĩ mô cho hệ thống ngân hàng

Như đã đề cập ở trên, Stress Test được chia làm hai loại là Stress Test vi mô cho
từng ngân hàng và Stress Test vĩ mô cho toàn hệ thống. Bài nghiên cứu này sẽ đi
sâu vào Stress Test cho hệ thống ngân hàng trong giai đoạn khủng hoảng tài chính
vẫn đang tiếp diễn hiện nay. Thông qua kinh nghiệm từ các nước, Stress Test được
chứng minh có khả năng giúp khôi phục lòng tin cho hệ thống tài chính, làm tăng
tính minh bạch và giảm thiểu các rủi ro không chắc chắn cho thị trường trong thời kì
khủng hoảng. Mục tiêu của phương pháp nghiên cứu này là giúp cho các nhà điều
hành chính sách và NHNN có thể xác định được nguồn gốc tiềm ẩn của các rủi ro
hệ thống, đồng thời đo lường các khoản lỗ có thể phát sinh khi rủi ro xảy ra đối với
các tổ chức tài chính nòng cốt. Ưu điểm của phương pháp top-down này là dễ thực
hiện bởi nó chỉ đòi hỏi các dữ liệu chung và chỉ sử dụng đồng nhất một phương
pháp. Ngoài ra mô hình này áp dụng loại hình phân tích kịch bản bao gồm kịch bản
chuẩn và kịch bản bất lợi hơn để đánh giá.

Để thực hiện kiểm định Stress Test cho hệ thống ngân hàng, bài nghiên cứu đề
xuất sử dụng phương pháp SCAP hay còn gọi là chương trình đánh giá kiểm soát
vốn được thực hiện đầu tiên ở các ngân hàng Mỹ, đây là đánh giá được thực hiện
bởi hệ thống Dự trữ Liên bang và các giám sát viên để xác định liệu các tổ chức tài
chính Mỹ lớn nhất đã có bộ đệm vốn cần thiết để chịu đựng các suy thoái thị trường
và khủng hoảng tài chính hay không.

1.2.1 Mô tả thử nghiệm chương trình Stress Test

Sau khi đã xây dựng được các kịch bản kinh tế vĩ mô bao gồm kịch bản chuẩn
và kịch bản bất lợi hơn. Dựa trên mối liên hệ giữa nền kinh tế vĩ mô và báo cáo tài
chính, các ngân hàng tham gia Stress Test được chỉ đạo đánh giá các khoản lỗ tiềm
năng trên các khoản cho vay, đầu tư, các danh mục chứng khoán giao dịch, bao gồm
các ràng buộc ngoại bảng, các khoản nợ dự phòng (là các khoản nợ có thể phát sinh


PPNR + Doanh thu khác - Các khoản dự phòng -
Tổn thất của chứng khoán sẵn sàng để bán
(AFS) và chứng khoán để đến ngày đáo hạn
(HTM)
= Thu nhập ròng trước thuế

Thu nhập ròng trước thuế - Thuế + Thuế ròng
cho các lợi nhuận hoặc lỗ từ các khoản mục phát
sinh bất thường
= Thu nhập ròng sau thuế Thu nhập ròng sau thuế - Chi trả cổ tức cho cổ
phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi, và các khoản
giảm trừ ròng khác liên quan đến vốn chủ sỡ hữu
= Sự thay đổi trong vốn chủ sỡ hữu Sự thay đổi trong vốn chủ sỡ hữu - Các khoản
giảm trừ vốn bắt buộc + Các khoản tăng thêm
của vốn bắt buộc
= Sự thay đổi trong quy định của nguồn vốn
11
Các chuyên gia và nhà phân tích sẽ xem xét và đánh giá báo cáo của các ngân
hàng. Một số nhóm sẽ chú ý xem xét các loại tài sản, doanh thu, dự trữ và nguồn
vốn, nhóm khác sẽ tập trung hơn cho các ngân hàng đặc biệt. Các ngân hàng đó bị

thiểu cho các ngân hàng.
12
Hình 1.4: Khuôn khổ của Stress Test Cú sốc
ban đầu

Hướng
tương tác
của các rủi
ro trong
kịch bản
Thiết lập khả
năng vỡ nợ vào
các tổn thất

Quy trình về khả

1.2.2 Các bước thực hiện

1.2.2.1 Bước thứ nhất, xây dựng kịch bản vĩ mô

Bước đầu tiên của Stress Test hệ thống là xác định các rủi ro trọng yếu của hệ
thống tài chính có thể bị tác động khi xảy ra các cú sốc và thu hẹp mức độ tập trung
của thử nghiệm, bởi vì rất khó để có thể thực hiện các thử nghiệm với mỗi nhân tố
rủi ro. Để có thể xác định các đối tượng đó đòi hỏi phải có một kiến thức rộng về
môi trường vĩ mô, từ đó đưa ra một bức tranh rõ ràng hơn về hệ thống tài chính
cũng như dự đoán được nguồn gốc của các cú sốc chính xác hơn.

Sau khi đã xác định được các đối tượng chịu tác động chủ yếu, bước tiếp theo là
xây dựng các kịch bản trọng tâm của thử nghiệm Stress Test. Với mỗi đối tượng
được xác định trước, các nhà phân tích sẽ xác định các biến vĩ mô nào sẽ có tác
động lớn lên các đối tượng này. Các kịch bản có thể được xây dựng dựa trên các dữ
liệu lịch sử hoặc là các giả định. Sự lựa chọn giữa kịch bản quá khứ hay kịch bản
giả định phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, bao gồm các nhân tố liên quan đến danh
mục đầu tư bị ảnh hưởng như thế nào với các sự kiện đặc biệt trong lịch sử, cũng
như sự khác nhau về các nguồn lực được đưa vào kiểm định. Kịch bản lịch sử chủ yếu dựa vào các biến động mạnh của thị trường trong lịch
sử, phản ánh các tác động của thị trường đã xảy ra, do đó vai trò của các nhà
13
quản lý rủi ro trong các kịch bản này là không nhiều. Nhưng nhược điểm là
không phản ánh được sự biến động cũng như xu hướng mới của rủi ro tài chính
có khả năng xảy ra.

dụng. Trong đó rủi ro thị trường sẽ chịu tác động trực tiếp khi biến đại diện vĩ mô
thay đổi. Rủi ro tín dụng không thay đổi một cách lập tức mà trước tiên các khoản
nợ xấu sẽ bị ảnh hưởng, sau đó dẫn tới các khoản lỗ kỳ vọng và các khoản lỗ không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status