MỤC LỤC
Hội nhập kinh tế quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá tạo ra nhiều cơ hội phát
triển cho các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam,
song những quốc gia này vẫn đang đứng trước những thách thức to lớn. Trong công
cuộc đổi mới của Việt Nam trong những năm qua đã đạt được những thành tựu
quan trọng, đem lại nhiều lợi ích kinh tế cho đất nước góp phần thức đẩy kinh tế
nước ta ngày càng phát triển. Nhưng cũng đứng trước một thách thức vô cùng to
lớn đối với Việt Nam do phải chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nền kinh tế thế giới đến
cán cân thương mại của Việt Nam.
Với ý nghĩa to lớn về sự phát triển của nền kinh tế nước nhà và sự ảnh hưởng
to lớn của nền kinh tế thế giới khi Việt Nam là 1 nước hội nhập, chúng em đã chọn
đề tài “ Ảnh hưởng của tình hình kinh tế thế giới đến cán cân thương mại Việt Nam
trong năm 2012 đến 6 tháng đầu năm 2013” với mong muốn là rõ những lợi ích
cũng như thách thức mà nền kinh tế thế giới đối với cán cân thương mại Việt Nam
cũng như các nước trên thế giới. Trong quá trình làm bài không tránh khỏi sai xót
mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn.
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT VỀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
1.1
Khái niệm:
Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh
toán quốc tế. Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập
khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng
như mức chênh lệch giữa chúng (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu). Khi mức chênh lệch
Trang 1
là lớn hơn 0, thì cán cân thương mại có thặng dư. Ngược lại, khi mức chênh lệch
Trang 2
- Thể hiện mức tiết kiệm, đầu tư và thu nhập thực tế. Mối quan hệ giữa cán cân
thương mại với tiết kiệm và đầu tư thể hiện qua công thức :
X - M=( S – I ) + ( T – G ).
1.4
Những nhân tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại:
1.4.1 Xuất, nhập khẩu:
- Nhập khẩu:
Có xu hướng tăng khi GPD tăng thậm chí còn tăng tăng nhanh hơn .Sự gia
tăng của nhập khẩu khi GPD tăng phụ thuộc xu hướng nhập khẩu biên MPZ. MPZ
là phần của GDP có thêm mà người dân muốn chi cho nhập khẩu. Ngoài ra nhập
khẩu còn phụ thuộc vào giá cả tương đối giữa hàng hóa
sản xuất trong nước và hàng hóa sản xuất nước ngoài. Nếu giá cả trong nước tăng
tương đối so với giá cả thị trường quốc tế thì nhập khẩu sẽ tăng lên và ngược lạ.
- Xuất khẩu:
Chủ yếu phụ thuộc vào những gì đang diễn biến tại các quốc gia khác vì xuất
khẩu của nước này là nhập khẩu của nước khác. Do vậy nó phụ thuộc vào sản
lượng và thu nhập của quốc gia bạn hàng. Chính vì thế trong các mô hình kinh tế
người ta coi xuất khẩu là yếu tố tự định.
1.4.2 Tỷ giá hoái đoái:
Là nhân tố quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh đến
giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa trên thị trường quốc
tế. Khi tỷ giá đồng tiền của một quốc gia tăng thì giá cả hảng hóa nhập khẩu sẻ trở
nên rẻ hơn trong khi giá cả của hàng xuất khẩu trở nên đắt đỏ hơn đối với người
nước ngoài. Vì thế tỷ giá đồng nội tệ tăng lên sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu và thuận
lợi cho nhập khẩu dẫn đến kết quả xuất
Trang 4
2.1.1 Đà phục hồi của các nền kinh tế lớn trên thế giới chưa vững chắc:
Tại Mỹ, sau 4 tháng đầu năm lấy lại đà tăng trưởng, nền kinh tế lại rơi vào
những khó khăn mới do những diễn biến bất lợi từ môi trường tài chính toàn cầu.
Cụ thể, hầu hết các chỉ số vĩ mô đều thể hiện sự tụt dốc, trong đó, đáng chú ý là
tăng trưởng kinh tế vẫn thấp trong khi tỷ lệ thất nghiệp duy trì ở mức cao.
Tương tự như Mỹ, châu Âu cũng phải đối mặt với không ít khó khăn. Kể từ
khi bước sang quý 2, niềm tin của thị trường đã giảm đi bởi những biến động chính
trị bất lợi gần đây ở khu vực đồng Euro. Cuộc khủng hoảng nợ vẫn có những diễn
biến phức tạp khi tính đến thời điểm hết tháng 6, đã có tới 5 nước ở eurozone phải
nhận gói cứu trợ gồm Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Ireland, Tây Ban Nha và mới đây nhất
là Cộng hòa Síp.
Nhiều quốc gia châu Âu đã phải thực hiện những cải cách chính sách, trong
đó, có chính sách tài khóa để vực dậy nền kinh tế đang trên đà suy thoái. Kết quả là
chỉ số PMI của toàn khu vực giảm mạnh nhất kể từ tháng 6 năm 2009 hiện còn 45,1
điểm, trong khi tỷ lệ thất nghiệp chạm mức kỷ lục 11,1%. Điểm sáng duy nhất đó là
sự thặng dư trở lại của cán cân thương mại. Các số liệu thống kê công bố trong
tháng 8 của Eurostat cho thấy, cán cân thương mại của 17 nước thành viên EU có
sự cải thiện đáng kể trong tháng 6/2012 với con số thặng dư lên đến 14,9 tỷ Euro (~
18,4 tỷ USD), mức cao nhất kể từ năm 1999.
Trung Quốc cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề cần giải quyết. Mặc dù
duy trì được tốc độ tăng trưởng cao nhưng thời gian qua, tại Trung Quốc bắt đầu
xuất hiện tình trạng nợ công, đầu tư tràn lan và tiềm ẩn nguy cơ vỡ nợ hàng loạt tại
các cơ quan quản lý tại địa phương. Sau khi thực hiện các biện pháp kích thích kinh
tế nhằm đương đầu với khủng hoảng tài chính toàn cầu của Trung Quốc, các tỉnh và
thành phố của nước này đã nợ tới 10,7 nghìn tỷ Nhân dân tệ, tương đương 1/4 GDP
Trang 5
Gánh nặng nợ công khiến các chính phủ tiếp tục siết chặt chi tiêu công như
một xu hướng ngày càng đậm và lan tỏa rộng khắp khu vực Euro, ở Mỹ và cả ở
Nhật Bản... Theo IMF, chính phủ các nước cần kết hợp đồng thời chính sách thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi tài khóa và chi tiêu của chính phủ,
như việc giới hạn lãi suất danh nghĩa và thúc đẩy lạm phát sẽ giúp nhanh chóng
giảm tỷ lệ nợ công trong khi vẫn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
2.1.2 Gia tăng xu hướng nới lỏng tài chính tiền tệ và áp lực lạm phát:
Năm 2012, chứng kiến hàng loạt động thái chú trọng nhiều hơn vào việc nới
lỏng tài chính - tín dụng, hỗ trợ giải tỏa sức ép nợ công và thúc đẩy tăng trưởng,
song song với việc thực thi những biện pháp thắt lưng buộc bụng để cắt giảm nợ và
thâm hụt ngân sách, trong đó, đáng kể nhất là hai chính sách kích thích kinh tế mới
của Mỹ và EU.
Tại Mỹ, tăng trưởng kinh tế thấp đã khiến FED tiếp tục phải tung ra gối nới
lỏng định lượng lần 3 (QE3). Động thái này cho thấy, sự chuyển biến rõ rệt trong
định hướng chính sách tiền tệ (CSTT) của Mỹ, cụ thể là chương trình kích thích
kinh tế thông qua việc mua chứng khoán thế chấp sẽ được thực hiện với quy mô 40
tỷ USD/ tháng cho đến khi thị trường lao động được cải thiện một cách bền vững
hoặc lạm phát chạm ngưỡng 3%. Như vậy, yếu tố quyết định giá trị và thời hạn
thực hiện QE3 sẽ tùy thuộc vào tiến triển trên thị trường lao động và diễn biến của
chỉ số giá tiêu dùng.
Tương tự, đầu tháng 9, ECB đã công bố chương trình mua trái phiếu không
giới hạn nhằm giảm bớt áp lực về tài chính cho các nước đang đối mặt với khủng
hoảng nợ công như Tây Ban Nha, Ý, Hy Lạp,… Đây là một bước tiến quan trọng
của EU trong nỗ lực thoát khỏi vòng xoáy của cuộc khủng hoảng nợ, đồng thời
giúp cho thị trường tài chính khu vực bớt căng thẳng. Theo đó, ECB có thể mua
Trang 7
nhằm hỗ trợ quá trình phục hồi kinh tế khu vực cũng như toàn cầu.
2.2 Tình hình kinh tế thế giới 6 tháng đầu năm 2013:
2.2.1 Về tăng trưởng kinh tế thế giới:
Tăng trưởng kinh tế thế giới chậm hơn dự báo do khủng hoảng ở Châu Âu và
suy giảm tăng trưởng ở Trung Quốc và Ấn Độ. Theo ngân hàng thế giới trong
tháng 6/2013, kinh tế toàn cầu sẽ tăng trưởng 2,2% trong năm 2013, thấp hơn mức
dự báo đầu năm là 2,4% và mức 2,3% của năm 2012. Khu vực Euro vẫn đang là
khu vực có nhiều dấu hiệu kém lạc quan khi quý I/2013 là quí thứ 6 có mức tăng
trưởng âm, với mức tăng trưởng GDP so với quý trước là âm 0,2% và so với cùng
kì năm trước 7,7% trong năm 2013, giảm so với mức dự báo 8,4% vào đầu năm.
Ấn Độ cũng chỉ đạt mức tăng trưởng GDP 4,8% trong quý 1/2013, thấp hơn mức
5,3% của cùng kì năm trước và tiếp tục xu hướng suy giảm tốc độ tăng trưởng từ
đầu năm 2010. Ấn Độ cũng đang phải nối mặt với tình hình nợ xấu khi theo
Morgan Stanley, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Ấn Độ đã lên tới 9%, tập
trung vào các đối tượng người nông dân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Mười
trong số các tập đoàn gia đình lớn cũng chiếm tới 13% toàn bộ tổng số nợ của hệ
thống, đa phần được xếp vào loại nợ đang thực hiện mặc dù trong tình trạng rất yếu
kém.
Tăng trưởng kinh tế thế giới có sự hỗ trợ của hai nền kinh tế lớn nhất thế giới
là Mỹ và Nhật Bản.Mỹ đang duy trì được tốc độ tăng trưởng khoảng 2% từ đầu
năm 2010, tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 9% trong năm 2011 xuống 7,6% trong tháng
5/2013, chỉ số giá nhà S&P/Case Shiller trong tháng 4/2013 đã tăng 12,1% so cùng
kì năm trước, niềm tin tiêu dùng ở mức cao nhất trong vòng 5 năm qua, chỉ số tín
nhiệm tăng từ mức tiêu cực lên ổn định. Nhật Bản cũng duy trì được tốc độ tăng
Trang 9
trưởng dương từ quý 1/2012 với tỷ lệ thất nghiệp giảm từ mức trên 4,5% đầu năm
Nguồn: Thị trường hàng hóa (NHTG)
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
NĂM 2012 VÀ 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2013
3.1 Thực trạng CCTM năm 2012:
3.1.1 Tình hình xuất khẩu năm 2012, những kết quả và tiến bộ đáng ghi
nhận:
Tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm 2012 ước đạt 114.6 tỷ USD, tăng 18.3% so
với năm 2011 là mức cao nhất từ trước tới nay, vượt xa so với kế hoạch đề ra (tăng
10%). Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người cả năm lên tới 1.306 USD, so với
mức 1.083 USD năm 2011 và mức 831 USD năm 2010. Tỷ lệ xuất khẩu/GDP vượt
qua mốc 75%, là mức cao so với tỷ lệ đã đạt được trong các năm trước.
Trang 11
Quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao đạt được chủ yếu ở khu vực có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng giá trị lên tới 73 tỷ USD (tăng 31%)
so với năm 2011 còn khu vực kinh tế trong nước đạt 42 tỷ USD (tăng 0,9%).
Một số mặt hàng chủ lực đạt kim ngạch xuất khẩu tăng cao so với năm 2011
là: Điện thoại các loại và linh kiện: đạt 12,7 tỷ USD, tăng 101,6%; điện tử, máy
tính và linh kiện đạt 7,9 tỷ USD, tăng 67,1%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng
đạt 5,5 tỷ USD, tăng 29,8%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 4,4 tỷ USD, tăng
31%; cà phê đạt 3,6 tỷ USD, tăng 37,1%.
Một số mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch tăng khá là: dầu thô đạt 9,5 tỷ USD,
tăng 15%; giày dép đạt 7,0 tỷ USD, tăng 11%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 4,6 tỷ USD,
tăng 18,3%; sản phẩm chất dẻo đạt 1,6 tỷ USD, tăng 18%; túi xách, ví, va-li, mũ, ô,
dù đạt 1,6 tỷ USD, tăng 17,9%. Rau quả tăng 26%, sắn và sản phẩm từ sắn tăng
STT Quốc
Giá trị xuất
gia/vùng
khẩu
(tỷ
lãnh thổ
USD)
1
Hoa Kỳ
19,668
2
Nhật Bản
13,060
3
Trung
12,388
Quốc
4
Hàn Quốc
5,580
Trang 13
5
6
7
8
9
10
đạt 2,2 tỷ USD, tăng 23,2%; tân dược đạt 1,8 tỷ USD, tăng 20,8%; phương tiện vận
tải và phụ tùng đạt 1,6 tỷ USD, tăng 22,5%.
Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước là:
xăng dầu (giảm 9,3%), sắt thép (giảm 6,2%), kim loại thường (giảm 3,3%), ô tô
(giảm 34,3%), trong đó ô tô nguyên chiếc giảm 43,9%; phân bón (giảm 8,6%); sợi
dệt (giảm 10,6%), bông (giảm 17,5%).
Trang 14
Sau khi Hiệp định thương mại tự do (FTA) ASEAN - Ấn Độ có hiệu lực vào
năm 2010, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Ấn Độ liên tiếp tăng cao,
chủ yếu nhờ khối doanh nghiệp có vốn FDI. Năm 2012, về xuất khẩu, nhiều mặt
hàng của Việt Nam được hưởng thuế từ 0 - 7% khi vào thị trường Ấn Độ, như điện
thoại các loại, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, cao su, sắt thép, máy vi tính,
sản phẩm điện tử, hoá chất, gỗ và sản phẩm gỗ. Xuất khẩu sang Ấn Độ tăng nhanh,
từ 992 triệu USD (năm 2010, tăng hơn 2 lần so với năm 2009), lên 1,55 tỷ USD
(năm 2011), tăng 56,5% và năm 2012, ước đạt trên 1,7 tỷ USD. Các doanh nghiệp
Việt Nam nhập khẩu khá nhiều sản phẩm của Ấn Độ, chủ yếu là những nguyên liệu
đầu vào cho sản xuất, như mực sống, vải, bông, thức ăn gia súc và nguyên liệu, da,
sợi,…
Top 10 thị trường nhập khẩu nhiều
nhất của Việt Nam 2012
Giá trị nhập
STT Quốc
gia/vùng
khẩu (tỷ USD)
Trang 15
4,827
3,412
2,377
2,248
- Về các thị trường nhập khẩu của Việt Nam, năm 2012 Trung Quốc là thị trường
nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với 28,786 tỷ USD, chiếm 25,3% tổng kim ngạch
nhập khẩu và cũng gần gấp đôi giá trị của thị trường nhập khẩu đứng thứ 2 là Hàn
Quốc. Trong năm 2012, Nhật Bản không chỉ là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai mà
còn là thị trường nhập khẩu quan trọng thứ ba của Việt Nam.
* Như vậy, theo thống kê cho thấy tính chung cả năm 2012, kim ngạch hàng hóa
xuất khẩu đạt 114.6 tỷ USD, tăng 18.3% so với năm 2011, kim ngạch hàng hóa
nhập khẩu đạt 114.3 tỷ USD, tăng 7.1%. Theo đó, cán cân thương mại cả năm 2012
thặng dư khoảng 0.3 tỷ USD. Đây là lần đầu tiên cán cân thương mại thặng dư kể
từ năm 1993 đến nay. Biểu đồ bên dưới cho thấy, thâm hụt thương mại sau khi đạt
đỉnh với 18.03 tỷ USD trong năm 2008, đã có dấu hiệu thu hẹp dần; và đến năm
2012, cán cân thương mại đã có thặng dư.
Trang 16
3.1.3 Những hạn chế, bất cập của xuất nhập khẩu trong năm 2012:
- Về xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu chủ yếu trong năm 2012 vẫn là các mặt hàng
gia công như điện thoại và các linh kiện, điện tử, máy tính, máy móc thiết bị, dụng
cụ phụ tùng, phương tiện vận tải và phụ tùng, gỗ. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ
lực có thế mạnh như dệt may, thủy sản lại tăng chậm: dệt may tăng 8,2%, thủy sản
tăng 1,8%, giày dép tăng 11%, mây tre tăng 6%, điều tăng 1,5%. Riêng mặt hàng
gạo tuy tăng 10% về lượng nhưng lại giảm 1,8% về giá (bình quân giảm 43
USD/tấn ), cao su tăng 29% về lượng, nhưng giảm 12% về kim ngạch so với năm
2011,…
kim ngạch hàng hóa xuất khẩu sáu tháng đầu năm ước tính đạt 64,8 tỷ USD, tăng
21,2%. Điều này cho thấy mức tăng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu sáu tháng đầu
năm nay chủ yếu do lượng xuất khẩu tăng. Các mặt hàng có đơn giá bình quân
giảm so với cùng kỳ chủ yếu là nhóm hàng nông sản và thủy sản, trong đó giá cao
su giảm 19,3%; giá hạt điều giảm 14,8%; giá gạo giảm 12,8%; giá hạt tiêu giảm
10,2%; giá thủy sản giảm 2,9%.
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu sáu tháng đầu năm tăng cao chủ yếu ở khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài với các mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim
ngạch xuất khẩu các mặt hàng tương ứng của cả nước như: Điện tử, máy tính và
linh kiện; điện thoại các loại và linh kiện; giày dép; hàng dệt may. Mức tăng kim
ngạch hàng hóa xuất khẩu của khu vực này đóng góp 15,3 điểm phần trăm vào mức
tăng chung, trong khi đó khu vực kinh tế trong nước chỉ đóng góp 0,8 điểm phần
trăm.
Trong các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu, một số mặt hàng có kim ngạch tăng
cao so với cùng kỳ năm trước là: Điện thoại các loại và linh kiện đạt 9,9 tỷ USD,
tăng 97%; hàng dệt may đạt gần 8 tỷ USD, tăng 16,8%; điện tử, máy tính và linh
Trang 18
kiện đạt 4,7 tỷ USD, tăng 39,3%; giày dép đạt 4,1 tỷ USD, tăng 16,4%; phương
tiện vận tải và phụ tùng đạt 2,6 tỷ USD, tăng 16,6%; túi xách, va li, mũ, ô dù đạt
925 triệu USD, tăng 23,6%. Một số mặt hàng có kim ngạch tăng khá là: Gỗ và sản
phẩm gỗ đạt 2,4 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước; sắt thép đạt 878 triệu
USD, tăng 13,9%; sản phẩm chất dẻo đạt 851 triệu USD, tăng 11,5%. Kim ngạch
xuất khẩu một số mặt hàng giảm so với cùng kỳ năm trước là: Dầu thô đạt 3,8 tỷ
USD, giảm 2%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 2,7 tỷ USD, giảm
1,1%; xăng dầu đạt 668 triệu USD, giảm 38,3%. Đối với các mặt hàng nông sản và
thủy sản, chỉ có hạt tiêu và rau quả đạt kim ngạch xuất khẩu tăng cao (Hạt tiêu đạt
554 triệu USD, tăng 17,3%; rau quả đạt 492 triệu USD, tăng 33,5%), các sản phẩm
khác đều tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ như: Thủy sản đạt 2,9 tỷ USD, tăng
Trong sáu tháng đầu năm nay, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu nhiều mặt
hàng tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó hàng điện tử, máy tính và linh kiện
đạt 8,6 tỷ USD, tăng 52,3%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 8,5 tỷ
USD, tăng 8,5%; vải đạt 4,1 tỷ USD, tăng 19,5%; điện thoại các loại và linh kiện
đạt 3,8 tỷ USD, tăng 87,6%; sắt thép đạt 3,5 tỷ USD, tăng 14,4%; chất dẻo đạt 2,8
tỷ USD, tăng 20,3%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép đạt 1,9 tỷ USD, tăng
22,4%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 1,5 tỷ USD, tăng 41,5%; kim loại
thường khác đạt 1,4 tỷ USD, tăng 15,8%; sản phẩm từ sắt thép đạt 1,4 tỷ USD, tăng
12%; sản phẩm hóa chất đạt 1,3 tỷ USD, tăng 12,3%; sản phẩm chất dẻo đạt 1,2 tỷ
USD, tăng 22,3%; ôtô đạt 1,1 tỷ USD, tăng 2,9%, trong đó ôtô nguyên chiếc đạt
308 triệu USD, tăng 7,5%. Riêng nhập khẩu xăng dầu giảm cả về lượng và kim
ngạch: lượng đạt 3,8 triệu tấn, giảm 22,1%, kim ngạch đạt 3,6 tỷ USD, giảm 25,5%
Trang 20
Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu sáu tháng đầu năm cũng có sự thay đổi so với
cùng kỳ năm trước: Tỷ trọng nhóm máy móc thiết bị, dụng cụ, phương tiện vận tải
và phụ tùng tăng từ 31,5% trong sáu tháng đầu năm 2012 lên 36,2% trong sáu
tháng đầu năm 2013; nhóm hàng nguyên, nhiên vật liệu giảm từ 61,6% xuống
57,2%; nhóm hàng tiêu dùng giảm từ 6,9% xuống 6,6%.
Về thị trường hàng hóa nhập khẩu trong sáu tháng đầu năm, Trung Quốc là
thị trường nhập khẩu lớn nhất với kim ngạch đạt trên 17 tỷ USD, tăng 33,2%;
ASEAN đạt 10,8 tỷ USD, tăng 5,3%; Hàn Quốc đạt 10,1 tỷ USD, tăng 39,8%; Nhật
Bản đạt 5,6 tỷ USD, tăng 4,3%; EU đạt 4,7 tỷ USD, tăng 21,6%; Hoa Kỳ đạt 2,7 tỷ
USD, tăng 14%.
Nhập siêu tháng 6/2013 ước tính đạt 200 triệu USD, bằng 1,8% kim ngạch
hàng hóa xuất khẩu. Nhập siêu sáu tháng đầu năm ước tính 1,4 tỷ USD, bằng 2,3%
kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, trong đó quý I xuất siêu 233 triệu USD; quý II nhập
siêu 1,6 tỷ USD (Nhập siêu sáu tháng năm trước là 585 tỷ USD, bằng 1,1% kim
lớn đang đương đầu với rất nhiều khó khăn.
Như vậy, khi triển vọng kinh tế thế giới năm 2012 không tích cực, nền kinh tế
Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng bởi yếu tố sau:
-
Suy thoái ở Hoa Kỳ và châu Âu có thể tác động tới xuất khẩu. Hai khu vực trên
chiếm tới 40% thị trường xuất khẩu của Việt Nam, và sự suy thoái trong năm tới ở
một trong hai thị trường đều làm giảm nhu cầu nhập khẩu. Nếu tình hình khủng
hoảng nợ châu Âu xấu đi trong năm 2012, điều có thể sẽ làm dầu mỏ giảm giá, và
như vậy giảm giá trị dầu mỏ xuất khẩu của Việt Nam và thu ngân sách chính phủ.
- Kinh tế thế giới năm 2012 khó khăn cả ở cung và cầu:
+ Theo đánh giá của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), năm 2012, nền
kinh tế thế giới chỉ tăng trưởng khoảng 2,4%, trong đó Khu vực đồng tiền chung
Trang 22
châu Âu (Eurozone) giảm 0,8%; một số nền kinh tế của nhóm các nước phát triển
nhất cũng tăng trưởng chậm lại hoặc suy thoái. Nền kinh tế số một thế giới và cũng
là thị trường xuất, nhập khẩu thuộc nhóm hàng đầu của Việt Nam là Mỹ tăng
trưởng dưới 2%, kinh tế Nhật Bản giảm, kinh tế Anh, Pháp, CHLB Đức,... đều có
mức tăng trưởng thấp hơn năm 2011. Một số nền kinh tế mới nổi, như Ấn Độ,
Trung Quốc, Bra-xin,... đều có tốc độ tăng trưởng chậm lại. Tỷ lệ thất nghiệp ở
nhiều nước tăng cao, nhất là một số nước thuộc Eurozone, như Tây Ban Nha, Hy
Lạp,... do nhiều doanh nghiệp phá sản hoặc thu hẹp quy mô sản xuất kinh doanh.
+ Cuộc khủng hoảng nợ công của Eurozone vẫn tiếp tục lan rộng và chưa có lối ra,
đã tác động tiêu cực đến thị trường xuất, nhập khẩu của thế giới cũng như Việt
Nam. Mức cung và cầu trên thị trường tài chính quốc tế và thị trường tiêu thụ các
mặt hàng xuất khẩu hàng hóa và cung cấp hàng hóa, nhất là máy móc, thiết bị công
nghệ cao của Việt Nam như Pháp, Đức, Anh, bấp bênh và giảm sút mạnh. Thêm
trở lại chiếm thị trường nội địa là vô cùng khó khăn do khả năng PR, quảng cáo của
hàng Việt còn yếu kém và hạn chế. Mặt khác, chúng ta nằm ngay cạnh công xưởng
gia công hàng hóa khổng lồ của thế giới là Trung Quốc và khả năng hàng hóa trong
nước khó có thể cạnh tranh được với hàng hóa giá rẻ của Trung Quốc, một phần đi
sâu vào thói quen tiêu dùng của người Việt Nam.
Tóm lại : dưới tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu thì kim ngạch xuất
khẩu Việt Nam vẫn rơi vào tình trạng giảm mạnh và kim ngạch nhập khẩu giảm
chậm là nguy cơ khiến cán cân thương mại của nước ta nghiêng sang thế nhập siêu.
Cơ cấu ngành hàng cũng có sự biến động , nhóm hàng thô tăng, hàng qua chế biến
có xu hương giảm. Theo đó cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu.
Trang 24
4.2 Những thành tựu đạt được:
Xuất khẩu năm 2012 diễn biến theo hướng tích cực, tăng trưởng xuất khẩu
đã vượt mức kế hoạch đề ra và cao hơn so với kim ngạch xuất khẩu của năm 2011.
Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, tính đến ngày 15/11/2012, xuất khẩu đạt
98.555 triệu USD, tăng 18,7% so với cùng kỳ năm 2011, trong đó, kim ngạch xuất
khẩu của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 54.718 triệu
USD chiếm tới 55,5% tổng giá trị kim ngạch của cả nước và tăng 35,3% so với
cùng kỳ năm 2011. Trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn khiến cho
cầu hàng xuất khẩu giảm thì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu năm 2012 của Việt Nam
dù thấp hơn so với cùng kỳ năm 2011 (tăng 34,7%) vẫn là một kết quả tương đối
tốt.
Xét về cơ cấu, trong số các mặt hàng chủ lực, dệt may vẫn là ngành đóng
góp lớn nhất vào tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2012. Theo Tổng cục Hải quan,
tính đến ngày 15/11/2012, kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may đạt 13.089 triệu
USD, chiếm tới 13,28% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 7,8% so cùng kỳ năm
2011. Tiếp theo đó là những mặt hàng xuất khẩu có hàm lượng công nghệ cao như