1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN
Môn học: Tài chính quốc tế
Phân tích tình hình kinh tế thế giới hậu khủng
hoảng tài chính toàn cầuGiáo viên: TS. MAI THU HIỀN
Lớp TCNH – 19A
Nhóm thực hiện: - Nguyễn Như Trinh
- Đậu Huy Ngọc
- Ngô Hoài Nam
- Đào Thị Thu Thủy
- Trần Thị Thu Nga
2 LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG I. NHỮNG HỆ LỤY VÀ CHUYỂN ĐỔI TRẬT TỰ TOÀN CẦU
CHƯƠNG II. VỊ THẾ MỚI CỦA CÁC NỀN KINH TẾ LỚN TRÊN THẾ GIỚI
CHƯƠNG III. KẾT LUẬN VÀ THÔNG ĐIỆP ĐỐI VỚI VIỆT NAM
kiếm những giải pháp và điều chỉnh những kế hoạch trung và dài hạn.
Cho đến nay, cuộc khủng hoảng này là tồi tệ nhất kể từ Đại khủng hoảng năm
1929-1933, làm cho hàng triệu người trên khắp thế giới mất việc làm. Cuộc khủng
hoảng bắt đầu từ Mỹ, nhanh chóng lan rộng ra toàn cầu và kéo theo toàn bộ nền
kinh tế thế giới xuống dốc. Trong khi người ta nghĩ rằng Mỹ là một trong những
động lực của nền kinh tế toàn cầu với những chính sách kinh tế đúng đắn thì cuộc
khủng hoảng là một sản phẩm mang nhãn hiệu Mỹ được xuất khẩu ra toàn thế giới
với khoảng một phần tư các khoản vay thế chấp của Mỹ đã được chuyển sang nước
ngoài.
Cuộc khủng hoảng cũng đã làm nhiều nền kinh tế gánh chịu tổn thất do lượng cầu
của thế giới tụt giảm. Các nước đang phát triển cũng gánh chịu những hậu quả
nặng nề, đặc biệt là dòng vốn giảm mạnh, trong một số trường hợp là đảo chiều.
Mặc dù đã có những phản ứng nhanh chóng và mạnh mẽ của nhiều chính phủ, nền
kinh tế thế giới tưởng như đã thoát khỏi suy thoái với những tín hiệu lạc quan vào
cuối năm 2010, nhưng tâm lý lo ngại vẫn bao trùm viễn cảnh kinh tế toàn cầu.
Cuộc khủng hoảng đã bắt đầu từ năm 2008 đã để lại một hệ lụy là nền kinh tế suy
yếu, những khoản nợ chồng chất, giá cả tăng vọt, lạm phát leo thang, thất nghiệp
tăng cao và các chính sách thắt lưng buộc bụng đã gây ra bất ổn xã hội ở nhiều
quốc gia.
Trong cuộc khủng hoảng, người ta cũng chứng kiến một xu hướng bổ sung là sự
thay đổi vị thế sản xuất và lợi thế so sánh ở Trung Quốc, Ấn Độ, Brasil và các
nước đang phát triển khác. Sự tăng trưởng ở các nước đang phát triển cũng cho
4
thấy những nền kinh tế lớn trở nên ngày càng quan trọng hơn. Sự phát triển của
những nước này tác động lẫn nhau một cách đáng kể và tác động tới những nước
phát triển.
Những nền kinh tế mới nổi đã bật lên được từ cuộc khủng hoảng và trở thành động
lực của nền kinh tế thế giới trong giai đoạn này. Trong khi đó, các nước phát triển
lại phải đối mặt với hàng loạt vấn đề như tăng trưởng thấp và nợ nần. Trong môi
vấn đề cơ cấu thường diễn ra trong một thời gian dài trong cả thời kỳ tăng trưởng
kinh tế nhanh cũng như tăng trưởng chậm. Ví dụ, tỷ lệ thất nghiệp cao ở khu vực
sử dụng đồng Euro (Eurozone) hay thâm hụt cán cân thanh toán của Mỹ và việc
không tạo thêm việc làm trong nhiều năm ở Nhật Bản.
Tất cả các khu vực giàu có trên thế giới đang gặp nhiều vấn nạn. Nhật Bản với tỷ lệ
tăng trưởng bình quân trên đầu người gần như bằng không, tỷ lệ tăng trưởng ở mức
âm. Eurozone liên tục gặp tỷ lệ thất nghiệp cao, phúc lợi xã hội không bền vững, tỷ
lệ sinh sản thấp hơn nhiều so với mức đủ thay thế lực lượng lao động. Mỹ đạt kết
quả tốt hơn một chút xét về mặt tăng trưởng GDP bình quân đầu người nhưng cán
cân thanh toán của Mỹ bị thâm hụt triển miên.
Tăng trưởng trì trệ
Nền kinh tế thế giới đã trải qua một giai đoàn phát triển tương đối ổn định, trung
bình khoảng 5% cho đến trước khi cuộc khủng hoảng toàn cầu diễn ra vào quý
I/2008. Các nước đang phát triển đã đạt mức tăng trưởng trung bình cao hơn
8%/năm so với mức 3%/năm của các nước phát triển trong giai đoạn này. Cuộc
khủng hoảng kéo dài sang năm 2009 lan trộng trên toàn thế giới đã khiến GDP
toàn cầu năm 2009 giảm 5.826 tỷ USD so với năm 2008 (đây là lần đầu tiên GDP
toàn cầu tăng trưởng âm trong vòng 20 năm trở lại đây). Khi khủng hoảng kinh tế
xảy ra, các nền kinh tế phát triển bị ảnh hưởng nặng nề hơn, chạm đáy ở mức -8%
vào quý 4/2008, trong khi các nền kinh tế đang phát triển bị kéo lùi mức tăng
tưởng -4% vào quý I/2009. Tốc độ tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2006 đến nay
có biên độ biến động rộng hơn hẳn so với thới kỳ trước. Sau một giai đoạn tương
đối ổn định, tăng trưởng kinh tế thế giới đã suy giảm mạnh vào những năm 2008-
2009 do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Biên độ biến động rộng của tốc độ
tăng trưởng cho thấy cùng với quá trình phát triển nhanh, có nhiều nhân tố rủi ro
tiềm ẩn, kinh tế thế giới ngày càng trở nên khó dự báo và kiểm soát. Cơ cấu GDP
của nhóm các nước phát triển và các nước đang phát triển có sự thay đổi rõ rệt.
Nhóm các nước đang phát triển có sự thay đổi rõ rệt. Nhóm các nước đang phát
triển chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng GDP của thế giới, đã duy trì được
tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định ở mức trên 6 % trong suốt thời kỳ từ 2003 đến
15
20
1 2 3 4 5 6 7 8 9
Mỹ
Nhật Bản
Trung Quốc
Thế Giới
EU
7 2008
2009
2010
2011
2012Các n
ề
n kinh t
ế
phát tri
ể
n
trợ thất nghiệp và những nỗ lực kích thích kinh tế. Theo ước tính của Quỹ Tiền tệ
quốc tế (IMF), chính phủ của 10 quốc gia giàu nhất thế giới đang có món nợ
50.000 USD tính trên mỗi đầu công dân của họ.
8
Chỉ trong vòng hai tuần đầu tháng 8/2011 những nỗ lực kém hiệu quả trong việc
ngăn chặn khủng hoảng nợ công ở châu Âu và việc Chính quyền Mỹ với Quốc hội
không đạt được thỏa thuận về lộ trình và liều lượng cắt giảm ngân sách khiến cho
giới đầu tư mất niềm tin vào khả năng lãnh đạo và phối hợp chính sách kinh tế toàn
cầu của nhiều quốc gia chủ chốt.
Bảng 1.2. Nợ chính phủ năm 2011 của một số quốc gia
Quốc gia % GDP Quốc gia % GDP
Mỹ 93,2 Hy Lạp 142,8
Eurozone 85,1 Bồ Đào Nha 93,0
Trung Quốc 17,1 Singapore 97,2
Nhật Bản 220,3 Iceland 96,2
Đức 83,2 Italia 119
Pháp 81,7 Canada 84
Anh 80 Bỉ 96,8
Nguồn: CIA Factbook 2011
Hiện tại, Mỹ - con nợ lớn nhất thế giới với tổng số nợ đã tăng lên trên 500 tr USD
mỗi năm kể từ năm tài chính 2003, với mức tăng 1000 tỷ USD năm 2008, lên 1,9
nghìn tỷ trong năm 2009, và 1,7 nghìn tỷ USD trong năm 2010. Tổng số nợ công
cộng đã đạt mức 100% GDP và món nợ này là một trong những lý do được đưa ra
bởi Standard & Poor’s hạ cấp triển vọng tín dụng Hoa Kỳ xuống mức AA+ từ mức
AAA vào ngày 06/8/2011, lần đầu tiên trong lịch sử của quốc gia này.
Năm 2011, cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu diễn biến hết sức phức tạp. Sau
khi từ Hy Lạp lan sang Ireland và Bồ Đào Nha, “bệnh nợ công” đã tấn công những
nền kinh tế chủ chốt của Khu vực đồng euro là Pháp, Italia và Tây Ban Nha. Sự trợ
giúp của IMF chưa đủ để dập tắt nguy cơ khủng hoảng nợ công biến thành khủng
ngân hàng là 3 thành tố chủ yếu trong cơ cấu tổng tài sản tài chính toàn cầu. Năm
2008, tổng giá trị tín dụng ngân hàng của toàn thế giới là 61,1 nghìn tỷ USD (bằng
101% tổng GDP), tăng 221% so với năm 1990, trong đó tín dụng ngân hàng tại Mỹ
đạt 12,5 tỷ USD (chiếm 20,4%). Quy mô của nợ chính phủ tăng trưởng chậm hơn
và dần chiếm tỷ trọng nhỏ hơn trong tổng cơ cấu thị trường tài chính. Tuy nhiên cơ
cấu này cũng khác nhau giữa các quốc gia và thay đổi giữa các thời kỳ trong cùng
một quốc gia. Như tại thị trường Nhật Bản, chứng khoán vốn chiếm tới 68% tổng
giá trị tài sản, tỷ lệ này ở EU là 36%, Hoa Kỳ là 22% và ở các nền kinh tế mới nổi
là 56%, nợ chính phủ chiếm tỷ trọng đặc biệt lớn tại Nhật Bản (26%). Chứng
khoán nợ tư nhân phát triển mạnh tại thị trường Hoa Kỳ (42%) và EU (36%), ít
phát triển tại thị trường các nước mới nổi (6%) và chưa xuất hiện tại thị trường
Nhật Bản (theo số liệu 2004 - 2005). Tuy nhiên đến năm 2008, chứng khoán nợ tư
nhân đã tăng lên 9% tại thị trường Nhật Bản, thị trường cổ phiếu thu hẹp chỉ còn
12%, tín dụng ngân hàng tăng lên 44%, nợ chính phủ tiếp tục duy trì ở mức cao.
10
Quy mô thị trường vốn quốc tế đã tăng liên tục từ năm 2002. Cho vay và cấp tín
dụng là hoạt động chủ yếu, tiếp theo là giao dịch trái phiếu. Đầu tư trực tiếp chỉ
chiếm 20% năm 2007 nhưng đứng khá vững trong năm 2008 – khi khủng hoảng
kinh tế xảy ra. Trong khi đó, sự giảm sút đột ngột của dòng vốn cho vay và cấp tín
dụng năm 2008 là nguyên nhân cơ bản dẫn đến giảm sút thị trường vốn toàn cầu.
Thị trường bất động sản đạt mức cao nhất trong năm 2007 với tổng giá trị thị
trường lên tới 90 nghìn tỷ USD, tuy nhiên thị trường này đã giảm xuống 87,4
nghìn tỷ vào năm 2008. Sự tăng trưởng liên tục của thị trường bất động sản từ
1990 cho đến 2007 chính là nguyên nhân tạo nên các bong bóng bất động sản gây
ra các cuộc đổ vỡ tài chính nghiêm trọng.
Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 – 2009, hệ thống tài chính thế giới
được nhận định có sự cải biến tổng thể. Cơ chế kiểm soát rủi ro, an toàn về vốn, cơ
chế kinh doanh các sản phẩm tài chính phái sinh đã được nhìn nhận lại và đòi hỏi
những sự thay đổi cơ bản trong hoạt động của các định chế tài chính trên toàn thế
thống tài chính yếu, không đủ sức để trang trải những gánh nặng do dân số già đặt
ra.
Trong một vài thập kỷ tới, chúng ta sẽ chứng kiến một quá trình tái cân bằng nền
kinh tế thế giới, và điều này càng làm cho thuyết phân biệt giữa trung tâm và ngoại
vi của chủ nghĩa cấu trúc đưa ra cách đây nửa thế kỷ càng trở nên lỗi thời. Đặc biệt
là Châu Á sẽ từng bước khôi phục vai trò kinh tế đã từng có của mình trước khi
cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra và cũng không loại trừ một điều là nhiều ước
Mỹ Latinh cũng sẽ có tiếng nói riêng đối trọng lại các nước châu Âu, Nhật Bản và
trong một chừng mực nào đó cả với Mỹ.
Tương quan sức mạnh kinh tế thay đổi
Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, những người khổng lồ châu Á – Trung Quốc và
Ấn Độ - đang dẫn dắt châu Á tiếp tục phát triển trong khi các nền kinh tế phương
Tây vẫn đang khó khăn bởi cuộc khủng hoảng. Thực tế là sự vững mạnh của khu
vực tài chính các nước châu Á có được nhờ những cải cách thực hiện trong thởi
gian khủng hoảng tài chính châu Á đã giúp họ đứng vững, trái ngược với tình trạng
kinh tế bị khủng hoảng nặng nề của các nước phương Tây. Trung Quốc vẫn tiếp
tục là tâm điểm của kinh tế thế giới với tốc độ tăng trưởng luôn được duy trì ở mức
cao trên 8%. Dự trữ ngoại hối của nước này lớn nhất thế giới với mức trên 3,2
nghìn tỷ USD và là chủ nợ lớn nhất của Mỹ. Và mặc dù đã có nhiều kêu gọi “tái
cân bằng” lại nền kinh tế toàn cầu nhưng đà xuất khẩu của Trung Quốc không suy
giảm mà chỉ chuyển hướng từ thị trường Mỹ và Châu Âu sang Mỹ Latinh và châu
Phi. “Công xưởng thế giới” vẫn tiếp tục sản xuất ra hàng hoá vật chất cho thế giới
nên gia tăng nhu cầu với tài nguyên thiên nhiên và nguyên liệu thô trên thế giới,
tạo ra áp lực khiến giá cả tăng cao.
Trong những năm qua, các nước công nghiệp hoá đã phải đối phó với hệ quả của
cuộc khủng hoảng như vấn đề nợ công lan rộng và thất nghiệp tăng cao. Tăng
12
trưởng kinh tế của các nước này sẽ không còn tạo đà cho các nền kinh tế đang phát
triển như trong thời kỳ bùng nổ trước khủng hoảng.
tế phát triển và vùng ngoại vi gồm các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển. Tuy
13
nhiên, trong khu vực ngoại vi cũng nổi lên những sức mạnh kinh tế mới có thể làm
thay đổi trật tự này.
Trong những thập kỷ tiếp theo, các nước phát triển vẫn là đầu tàu của nền kinh tế
thế giới như trước đây và thế giới vẫn sẽ phân chia thành nhóm các nước giàu,
nhóm các nước nghèo. Nhưng nhìn xa hơn, cấu trúc này sẽ thay đổi bởi sự trỗi dậy
của các nước đang phát triển như Trung Quốc và Ấn Độ.
2.1. Mỹ: Tiếp tục là động lực chính yếu
Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 là cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất của kinh tế
Mỹ tính từ sau cuộc Đại suy thoái 1929 – 1933. Mặc dù chính phủ Mỹ đưa ra
nhiều gói cứu trợ và đã có một số chính sách cải cách kinh tế, nhưng nền kinh tế
Mỹ cho đến nay vẫn chưa thoát ra khỏi giai đoạn đình trệ. Về mặt tổng quát, tốc độ
tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ còn thấp và thiếu ổn định, thất nghiệp vẫn cao,
thâm hụt ngân sách gia tăng mạnh và khó kiểm soát, thâm hụt thương mại vẫn còn
ở mức cao. Việc giải quyết những khó khăn này một mặt đòi hỏi chính phủ Mỹ
phải có những giải pháp ngắn hạn thỏa đáng, nhưng mặt khác những khó khăn này
là kết cục của những tương quan mất cân bằng kinh tế toàn cầu và vì vậy, chúng
chỉ có thể giải quyết khi các cân bằng kinh tế toàn cầu được thiết lập.
Với tình hình kinh tế ảm đạm từ năm 2008, những cảm nghĩ về một nước Mỹ suy
tàn và khủng hoảng đã lại xuất hiện khi nhìn vào những khoản thâm hụt tài khóa
lớn của Mỹ mà nếu kết hợp với mức tăng trưởng liên tục của Trung Quốc, Ấn Độ,
Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ và các nền kinh tế khác thì dường như báo trước một sự dịch
chuyển quan trọng và không thể đảo ngược của sức mạnh kinh tế toàn cầu.
Nhưng một đợt suy thoái hay thậm chí một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng,
không nhất thiết đồng nghĩa với việc khởi đầu của sự kết liễu một siêu cường. Như
đã biết, Mỹ đã chịu những cuộc khủng hoảng nặng nề và kéo dài trong những thập
niên 1890, 1930 và 1970. Mỗi lần như thế, nước Mỹ lại hồi phục trong thập niên
tiếp theo và thực sự lại đạt đến vị thế mạnh hơn so với các cường quốc khác, hơn
-10
-8
-6
-4
-2
0
2
4
6
1
I/2008
II/2008
III/2008
IV/2008
I/2009
II/2009
III/2009
IV/2009
I/2010
II/2010
III/2010
15
Bên cạnh đó, sự suy giảm của nền kinh tế Mỹ do tác động của khủng hoảng đã làm
cho vấn đề thất nghiệp trở nên trầm trọng. Tỷ lệ thất nghiệp vào cuối năm 2009 đã
vượt lên mức hai con số khi tỷ lệ này đạt mức 10,2 %. Tình hình thất nghiệp không
có những cải thiện đáng kể mặc dù chương trình tạo việc làm đã được Chính quyền
của Tổng thống Obama rất quan tâm và giành nhiều nguồn tài chính. Việc làm là
một trong những yếu tố phản ánh sự phát triển của nền kinh tế. Nhưng thực tế cho
thấy, từ tháng 12 năm 2007 cho đến giữa năm 2011, khoảng 7 triệu người Mỹ bị
trắng đông hơn so với các nhóm người khác, và trong số những người da màu, trẻ
em nhiều hơn so với người lớn. Hiện nay, tại những khu vực có người nhập cư
đông nhất ở Mỹ, như các thành phố Los Angeles và Houston, một nửa số người
Mỹ Latinh là trẻ em dưới 14 tuổi. Như vậy, khi mà số trẻ em Mỹ Latinh này đến độ
tuổi sinh sản trong một hai thập kỷ tới thì số người Mỹ Latinh ở Mỹ sẽ tăng lên
nhanh chóng.
Trong tương lai Mỹ sẽ có một xã hội trẻ trung hơn với nhiều dân tộc hơn, và như
vậy sẽ năng động hơn. Một bằng chứng đơn giản nhất là tuổi trung vị ở Mỹ và
châu Âu đang ngày càng mở rộng và tuổi trung vị ở châu Âu có xu hướng tăng lên
nhanh hơn nhiều. Điều này cho thấy một thực tế về sự lão hóa dân số ở châu Âu và
sự ổn định ở Mỹ vì hiện tại, tuổi trung vị của Mỹ là 36,9 (US Census, 2010) và của
27 nước EU là 40,9 (Eurostats 2012).
Vai trò toàn cầu không thay đổi
Nhìn chung người ta cảm nhận rằng sự kết thúc của thế thống trị mà nước Mỹ đang
nắm giữ, nếu nó đến, không có nghĩa nước Mỹ mất đi vị thế hiện tại đối với quốc
tế. Ít quốc gia có được quan điểm tự do rộng khắp và sự thịnh vượng như ở Mỹ,
ngay cả trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế hiện nay.
Sức mạnh của nước Mỹ có thể giảm đi, nhưng những yếu tố căn bản làm nên vị thế
của nước Mỹ vẫn tồn tại và phát triển. Ngay cả khi thế cân bằng trở nên bất lợi với
Mỹ, thế giới sẽ vẫn chỉ tiếp tục tồn tại trong khuôn khổ hệ thống hiện tại. Nói cách
khác, thế giới “hậu Mỹ” sẽ không khác nhiều so với thế giới hiện nay bởi vì trật tự
thế giới hiện đại được định hình bởi sức mạnh của nước Mỹ và phản ánh về quyền
lợi cũng như lựa chọn ưu tiện của người Mỹ.
Nếu cán cân quyền lực thế giới chuyển hướng sang một hoặc một nhóm nước khác,
trật tự thế giới sẽ thay đổi để phù hợp với quyền lợi và lợi ích của người Mỹ. Nhiều
người mặc nhiên thừa nhận thế giới như nó vốn có hiện nay mà không hề tự hỏi
rằng mọi chuyện sẽ rất khác như thế nào nếu không có nước Mỹ đứng đầu.
Nếu nhìn vào thành tích của một vài năm qua người ta dễ bị thất vọng. Nước Mỹ
đã phải trả một giá đắt để bù đắp cho những tổn thất về nhà ở và việc làm. Sự hồi
sinh của khu vực doanh nghiệp, mang lại nhiều lý do để lạc quan, nhưng đã không
III/2011 sụt giảm 0.3% trong khi trước đây kinh tế Hà Lan tăng trưởng thuộc loại
tốt nhất khu vực. Đây có thể coi như hậu quả trực tiếp từ các biện pháp thắt chặt
ngân sách cũng như tác động từ khủng hoảng nợ của Eurozone.
Liên minh châu Âu đã dự báo tăng trưởng năm 2011 từ 1.8% xuống còn 0.5%
trong năm 2012. Nền kinh tế khu vực này đang tăng trưởng chậm lại và có nguy cơ
rơi vào một cuộc suy thoái mới. Mặc dù đã có dấu hiệu tạm lắng nhưng vấn đề nợ
18
công cao đã tác động đến hoạt động sản xuất của các nhà máy, có thể tăng trưởng
chậm lại và có nguy cơ rơi vào một cuộc suy thoái mới. Mặc dù đã có dấu hiệu tạm
lắng nhưng vấn đề nợ công cao đã tác động đến hoạt động sản xuất của các nhà
máy, có thể tăng trưởng kinh tế sẽ đảo ngược.
Hình 2.2. Tăng trưởng GDP khu vực đồng Euro, 2008 – 2011
Nguồn: Eurostat
Cơn bão nợ công trở thành cuộc khủng hoảng của liên minh tiền tệ
Cuộc khủng hoảng tài chính của châu Âu đã biến thành một cuộc khủng hoảng tài
chính công ngăn cản mọi sự phục hồi kinh tế ở Eurozone. Vô số biện pháp được
tiến hành cho đến nay đã tỏ ra không có hiệu quả. Tất nhiên, cần phải tìm ra một
giải pháp cho phép châu Âu hóa những khoản nợ của các nhà nước. Đồng thời, cần
thiết phải sử dụng các biện pháp ngắn hạn để phục hồi tăng trưởng và để giảm bớt
sự mắc nợ toàn cầu của Eurozone, nhưng điều này chỉ có thể là về lâu dài.
Vào thời điểm nền kinh tế thế giới có hai năm phục hồi, cho dù không đồng đều
giữa các khu vực nhưng được giữ vững một cách tương đối. Trong liên minh tiền
tệ châu Âu, sự phục hồi này được ghi nhận ít hơn ở phần còn lại của thế giới. Khối
lượng hàng hóa xuất khẩu sang các nước mới nổi đang gia tăng mạnh mẽ đã dẫn
đến sử bùng nổ kinh tế nào đó ở một số nước như Đức, Áo, Hà Lan, Cộng hòa
Séc… đã làm người ta tin rẳng cuộc khủng hoảng của những năm 2008 – 2009 đã
qua và có thể chỉ còn kéo dài ở các nhà nước “ngoại vi”, những nước vẫn đang đấu
tranh chống thâm hụt ngân sách lớn hay một khoản nợ công cao.
Ban Nha, tỷ lệ thất nghiệp hiện nay đang chiếm hơn 20% lực lượng lao động, và
được dự báo là sẽ không giảm xuống 16% cho đến năm 2016. Điều đó không phải
chỉ do những việc làm được tạo ra trong thời kỳ bùng nổ bong bong xây dựng và
bất động sản của Tây Ban Nha nay đã biến mất. Trong một thập kỷ tới, vấn đề
nghiêm trọng hơn sẽ là việc những nhóm đặc lợi giữ chặt những việc làm trong
lĩnh vực tư nhân được trả lương cao và lâu dài. Nếu không có cải cách mở ra phân
khúc này của thị trường lao động thì ở các nước như Tây Ban Nha, Pháp, Hy Lạp
và Italia sẽ có số lượng rất lớn sinh viên tốt nghiệp đại học nhưng không có khả
năng kiếm được việc làm.
Trong suốt thập kỷ này, áp lực về ngân sách cho hệ thống y tế, hưu trí và giáo dục
sẽ ngày càng gia tăng. Một số nhóm xã hội nhất định sẽ dễ bị rơi vào vòng nghèo
khổ và bạo lực. Các quỹ hưu trí mất đi do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng của các
thị trường tài chính, lợi ích của các lao động trẻ bị cắt giảm trong tương lai, kích
động một cuộc xung đột thế hệ với những người lớn tuổi hơn. Bất bình đẳng thu
nhập gia tăng, bởi vì người giàu thì càng giàu và người nghèo càng nghèo hơn, sự
bất bình đẳng trong công việc và thu nhập sẽ ảnh hưởng nhiều đến phụ nữ và thanh
thiếu niên. Các trường đại học và trường phổ thông của nhà nước sẽ có chất lượng
giáo dục thấp hơn.
Một vấn đề khác đang nổi lên su một thập kỷ nhưng không được chú ý là tỷ lệ sinh
giảm sút ở khu vực này. Trong số 15 nước có số liệu báo cáo cho tới năm 2012
(Eurostat 2012), 11 nước có tỷ lệ sinh giảm trong năm 2011 theo cách tính tỷ lệ
sinh là số trẻ em mà một người phụ nữ có thể có trong suốt cuộc đời mình. Ở
những nước bị tác động mạnh mẽ nhất bởi cuộc khủng hoảng đồng euro có tỷ lệ
suy giảm lớn nhất.
20
Tỷ lệ sinh của Tây Ban Nha giảm từ 1,46 vào năm 2008 xuống khoảng 1,38 vào
năm 2011. Tỷ lệ sinh của Latvia giảm từ 1,44 xuống dưới 1,20. Sự gia tăng sinh đẻ
trong 10 năm trước đã bị xóa sạch chỉ trong 3 năm. Sự giảm lớn cũng đã xảy ra ở
các nước Bắc Âu không có tình trạng thất nghiệp tăng nhanh hay những cắt giảm
trưởng sẽ giảm. Lúc đó tăng trưởng toàn cầu cũng giảm và một lượng lớn người
trên thế giới sẽ sống ở các nước phát triển. Nhìn lại lịch sử, các nước phát triển
không thể tăng trưởng ở mức 6-10% mỗi năm.
Trung Quốc có tốc độ tăng trưởng cao, đặc biệt khi so với các nền kinh tế khác.
Trung Quốc đóng góp gần 13% tăng trưởng của thế giới, cao thứ hai, chỉ sau Mỹ.
Những dự đoán tăng trưởng GDP đến năm 2020 được dựa trên những giả định về
năng suất và đầu vào được tính toán kỹ lưỡng. Theo đó, Trung Quốc sẽ tăng trưởng
ở mức 6,6 % trong giai đoạn 2005 – 2020, con số khiêm tốn so với thập kỷ trước
đó nhưng sẽ vẫn cao nhất thế giới
Bảng 2.3. So sánh Trung Quốc với một số quốc gia khác
Nền
kinh tế
Tỷ lệ trong GDP
toàn cầu ($ và tỷ giá
năm 2004)
Tỷ lệ phát triển thực
trung bình hàng năm (%)
Đóng góp trung bình cho
tăng trưởng toàn cầu
2004 2020 1995-2004 2005-2020
1995-2004 2005-2020
Trung
Qu
ố
c
ỹ
28,4
28,5
3,3
3,2
33,1
28,6
Nh
ậ
t B
ả
n
11,2
8,8
1,2
1,6
5,3
1,7
Toàn c
ầ
u
100
100
3,0
3,2
100
100
Nguồn: Bảng 1.1. trong Winters A. and Shahid Yusuf (2007)
Với dân số lớn nhất thế giới, trên 1,3 tỷ người, Trung Quốc đã trở thành một nước
lớn và có ảnh hưởng trong nền kinh tế toàn cầu trong khi mức thu nhập trên đầu
người còn tương đối thấp. Hiện nay, Trung Quốc có sức ảnh hưởng ngày càng tăng
đến rất nhiều lĩnh vực như giá cả và tiêu thụ lương thực, năng lượng và các tài
nguyên thiên nhiên khác, khối lượng và kết cấu thương mại, các dòng vốn.
Khi Trung Quốc trở nên giàu có hơn thì những gì giúp họ tăng trưởng trong giai
đoạn trước sẽ trở nên bão hòa. Chính vì vậy, nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng
22
cho thấy từ nay đến năm 2020, tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc sẽ chậm lại,
không cao như giai đoạn trước đó. Sự tăng truwongr đó đã “đến ngưỡng”.
23
Trung Quốc hiện nay đang phải đối mặt với nhiều vấn đề cần giải quyết, trong đó
có sự chuyển đổi sâu sắc về mô hình, và tăng trưởng kinh tế sẽ chậm lại đáng kể.
Hàng loạt các vấn đề xã hội tạo ra sức ép trong quá trình phát triển tiếp theo của
Trung Quốc. Mỗi thách thức kinh tế - xã hội của một quốc gia đều đòi hỏi sự can
thiệp sáng tạo và phi ý thức hệ của nhà nước đối với thị trường. Trung Quốc có
lịch sử lâu dài trong việc nuôi dưỡng các lực lượng thị trường đồng thời vẫn đặt
chúng dưới sự kiểm soát, phục vụ xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, Trung Quốc sẽ
chấp nhận “sự lựa chọn không có lựa chọn”, đó là kết hợp giữa “con rắn” của nền
kinh tế thị trường với “con nhím” của lịch sử truyền thống để tiếp tục phát triển
một cách ổn định, gắn kết xã hội.
CHƯƠNG III. KẾT LUẬN VÀ THÔNG ĐIỆP ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm cho nền kinh tế thế giới suy giảm
nghiêm trọng mà hậu quả rõ nét nhất là hàng chục triệu người mất việc làm. Tổ
chức Lao động quốc tế (ILO) ước tính số lượng thất nghiệp toàn cầu tăng hơn 50
triệu người vào cuối năm 2012, với khoảng 200 triệu người lao động lam vào đói
nghèo cùng cực (ILO, 2012). Điều đó đã làm người ta phải suy nghĩ lại về mô hình
kinh tế thị trường tự do đã phát triển rộng khắp mà hệ quả của nó là sự lạc quan
thái quá của các chính phủ và người dân làm người ta chi tiêu nhiều hơn những gì
được tạo ra và không tuân thủ kỷ luật thị trường. Những tranh luận về cuộc khủng
hoảng cũng làm cho người ta cho rằng thế giới đang phải đối mặt với cuộc khủng
hoảng về mô hình phát triển trong dài hạn.
Sau thời điểm khủng hoảng, người ta nhìn nhận hệ thống thế giới đang diễn ra một
sự điều chỉnh quyền lực toàn cầu. Các nước đang phát triển đã trở thành động lực
của tăng trưởng toàn cầu, rõ ràng nhất là từ những năm 1990. Nhưng bản thân các
nước này cũng bị ảnh hưởng mạnh bởi cuộc khủng hoảng. Thế giới toàn cầu hóa
nay đã kết nối: Mỹ đã làm tổn hại các quốc gia khác nhưng bản thân việc phần còn
lại của thế giới thị tổn thương cũng đe dọa tới sự phục hồi của Mỹ.
Bức tranh kinh tế toàn cầu đó tạo ra sự nhận thức đang gia tăng trong chính các
mậu dịch và dự trữ ngoại hối. Dòng chảy vốn quốc tế cũng sẽ bị kiểm soát chặt
hơn, do vậy lượng giao dịch tài chính quốc tế nói chung và giao dịch ngoại hối nói
riêng sẽ giảm cả trên khối lượng thực lẫn khối lượng danh nghĩa.
Tính bất định, khó dự báo của các khuynh hướng toàn cầu đang đưa đến cho nền
kinh tế Việt Nam những rủi ro không nhỏ, trong lúc năng lực đối phó của đất nước
vẫn chưa đủ mạnh. Những biến động về giá cả lương thực và năng lượng trên thế
giới cùng với giá vàng và USD vừa qua là thí dụ điển hình cho thấy những rủi ro
lớn đối với nền kinh tế Việt Nam khi hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu.
Biến động kinh tế thế giới cũng làm tăng sức ép cạnh tranh đối với các doanh
nghiệp Việt Nam ngày một nhiều hơn trên cả thị trường trong nước và quốc tế. Ở
nước ngoài, Việt Nam phải đối mặt với các hàng rào kỹ thuật mới ngày càng tinh
vi hơn. Ở trong nước, nhiều sự hỗ trợ của chính phủ trước đây bị bãi bỏ. Đồng thời
25
việc gia tăng sự hiện diện của doanh nghiệp nước ngoài cũng làm cho không gian
phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam hẹp lại, đặc biệt nếu còn trong chờ vào
chính sách bảo hộ nhằm khai thác thị trường trong nước.
Áp lực cạnh tranh trong nước và quốc tế cho thấy Việt nam cần nỗ lực hơn nữa
trong việc tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài song song với
việc điều chỉnh cơ cấu xuất khẩu và đầu tư theo hướng tăng cường khai thác các lợi
thế cạnh tranh một cách bền vững, chú trọng các sản phẩm có giá trị gia tăng cao,
hàm lượng trí tuệ cao, thay cho các sản phẩm sơ chế và tài nguyên thiên nhiên. Để
làm được điều này, trước hết cần thay đổi cách nghĩ về lao động rẻ là lợi thế cạnh
tranh bởi đó đã không còn là nhân tố quyết định mà về lâu dài, lợi thế cạnh tranh sẽ
thuộc về các yếu tố công nghệ và tri thức.
Sự hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới với dấu mốc quan trọng là việc
gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007, đã đem sự cạnh
tranh đến tận cửa ngõ đất nước. Cho đến nay, Việt Nam đã có những thay đổi bao
gồm hạ thấp các rào cản thuế quan và xóa bỏ nhiều hàng rào phi thuế quan, mở cửa
ngành dịch vụ và phân phối, cải cách pháp lý và thể chế cho phù hợp với các quy