ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MẬT ĐỘ NUÔI
KẾT HỢP HÀU CỬA SÔNG (Crassostrea
rivularis) VỚI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG
(Penaeus vannamei)
Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 405-416 Trường Đại học Cần Thơ
405
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MẬT ĐỘ NUÔI KẾT HỢP
HÀU CỬA SÔNG (Crassostrea rivularis)
VỚI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Penaeus vannamei)
Trần Tuấn Phong
could consume feed better at density of 100 ind/m
2
. Survival rate of oyster at
density of 100 and 150 ind/m
2
were rather high (83.3% and 80.4%). Results
showed that oyster could be cultivated with white leg shrimp, and the density of
100 oysters/m
2
and 74 shrimp/m
2
was more suitable than others.
Keywords: White leg shrimp, Penaeus vannamei, oyster, Crassostrea
rivularis, integrated culture.
Title: Effects of different stocking densities of the oyster (Crassostrea
rivularis) integrated culture with the white leg shrimp (Penaeus vannamei)
TÓM TẮT
Nghiên cứu được tiến hành với 4 nghiệm thức: nuôi 150 con hàu/m
2
(NT1), 100
con hàu/m
2
(NT2), 50 con hàu/m
2
(NT3) và không có hàu nhằm đánh giá khả
năng nuôi kết hợp hàu cửa sông (Crassostrea rivularis) với tôm thẻ chân trắng
(Penaeus vannamei) 74 con/m
2
. Các cá thể hàu có chiều dài và khối lượng
trung bình là 40,5 mm và 11,08g được bố trí vào bể khi tôm đã nuôi khoảng 30
2
và 74 con
tôm/m
2
.
Từ khóa: Nuôi kết hợp, tôm chân trắng, Penaeus vannamei, hàu cửa sông,
Crassostrea rivularis.
1 GIỚI THIỆU
Việt Nam là nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có vị trí địa lý thuận
lợi và tiềm năng lớn về thủy sản. Đặc biệt ở vùng nước lợ, mặn thì con tôm
đang được chú ý và nuôi nhiều nhất với các hình thức nuôi quảng canh, quảng
canh cải tiến, bán thâm canh đến thâm canh. Tuy nhiên bên cạnh đó nguồn chất
thải của tôm đã làm cho môi trường nước bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng
và lây lan dịch bệnh thường xuyên xảy ra. Vấn đề giảm thiểu nguồn chất thải
trong ao nuôi cũng như thải ra ngoài môi trường ngày càng cấp thiết.
Hàu là một trong những loài động vật thân mềm có giá trị kinh tế, là loài có
tính ăn lọc phiêu sinh thực vật chủ yếu tảo đơn bào và mùn bã hữu cơ (Nguyễn
Chính, 2007). Do đó, hàu có vai trò như “một lọc sinh học” xử lý môi trường
góp phần làm sạch các cặn bả hữu cơ, hạn chế ô nhiễm môi trường (Lê Minh
Viễn và Phạm Cao Vinh, 2007). Chính vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện
nhằm đánh giá khả năng nuôi kết hợp hàu và tôm thẻ chân trắng trong mô hình
thâm canh, cải thiện nước ao nuôi, giảm ô nhiễm môi trường và góp phần đa
dạng hóa đối tượng trong nghề nuôi thủy sản hiện nay.
2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thí nghiệm đượ
c tiến hành trong 4 tháng. Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần,
cách bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với độ mặn là 15‰ chọn ra từ nghiên cứu
trước. Các cá thể hàu thí nghiệm có chiều dài và khối lượng trung bình là
40,5mm và 11,08 g/con. Hàu được đánh số thứ tự và thả vào bể nuôi sau khi bố
trí tôm được 30 ngày. Tôm chân trắng có khối lượng từ 1-3g/con và chiều dài
NH
4
+
/NH
3
(mg/L), NO
2
-
(mg/L), pH: 10 ngày kiểm tra 1 lần bằng các bộ test
Germany.
Các yếu tố sinh trưởng và tỷ lệ sống: Hàu được thu định kỳ 15 ngày/lần để
kiểm tra tốc độ sinh trưởng và 30 ngày/lần để kiểm tra tỷ lệ sống. Các công
thức sau:
Hệ số tiêu tốn thức ăn của tôm nuôi (FR)
FR =
Chỉ số thể trạng của hàu được xác định lúc bắt đầu và kết thúc thí nghiệm
(5con/bể):
CI (mg/g) = x1000 Sau khi kết thúc thí nghiệm thu 5 con tôm/bể, đo chiều dài và cân khối lượng
tôm rồi sấy khô ở nhiệt độ 60ºC trong 48 giờ, cân khối lượng sau khi sấy. Tỷ lệ
khô được tính theo công thức:
Tỷ lệ thịt khô (%) = 100*
3.1 Biến động của các yếu tố môi trường
Nhìn chung nhiệt độ và pH không có sự khác biệt lớn giữa các nghiệm thức,
trung bình nhiệt độ buổi sáng là 27,4°C và nhiệt độ chiều là 28,8°C. Khoảng
biến động giữa nhiệt độ sáng và chiều không quá 1°C và nằm trong khoảng
thích hợp cho sự sinh trưởng của tôm và hàu. Theo (Whetstone et al., 2002)
nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của tôm là 23-34°C, nhiệt độ tối ưu 26-
29°C, nhưng không được thay đổi quá 5°C trong ngày (Boyd et al., 2002). Đối
với hàu Crassostrea gigas có thể sinh sản
ở nhiệt độ từ 22-25
o
C (Thao et al.,
2002). Tuy nhiên đối với các loài hàu nhiệt đới, nhiệt độ thích hợp cho sinh
trưởng và phát triển có thể trên 25
o
C. Nhìn chung, các yếu tố môi trường pH,
nhiệt độ đều nằm trong khoảng thích hợp so với kết quả nghiên cứu trên tôm
Penaeus indicus của Vijayan và Diwan (1995).
Bảng 1: Giá trị trung bình các yếu tố môi trường của thí nghiệm
Yếu tố NT1 NT2 NT3 NT4
Sáng
27,4±0,4 27,4±0,4 27,4±0,4
27,4±0,4
Nhiệt độ (
o
C)
Chiều
28,8±0,6 28,8±0,6 28,8±0,6
28,8±0,6
thì thấp nhất
Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 405-416 Trường Đại học Cần Thơ
409
(2,9 và 3,1 mg/L) và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với NT 4 (3,7±0,5 mg/l)
(p<0,05). Theo kết quả nghiên cứu của Luis & Marcel (2006) khi nuôi kết hợp
giữa tôm thẻ Litopenaeus vannamei, hàu Crassostrea gigas, nghêu Chione
fluctifraga thì ammonium tổng cộng trong những ao nuôi kết hợp với mật độ
động vật thân mềm sẽ thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với những ao còn lại.
Theo Chen và Chin (1998) nồng độ an toàn của NO
2
-
đối với hậu ấu trùng tôm
sú tôm là 4,5mg/l. Ngoại trừ nghiệm thức 4 có hàm lượng NO
2
-
cao vào ngày
thứ 50 của quá trình thí nghiệm, các nghiệm thức khác đều có hàm lượng NO
2
-
nằm trong khoảng an toàn cho sinh trưởng của tôm.
0
2
0.4
0.6
0.8
1
g
ệm thức không có hàu
(p<0,05).
0
0.2
0.4
0.6
0.8
1
10 20 30 40 50 60 70 80 90 100 110 120
Hàm lượng NH
4
+
(mg/L)
Thời gian TN (ngày)
NT1 NT2
Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 405-416 Trường Đại học Cần Thơ
410
Bảng 2. Trung bình tốc độ tăng trưởng chiều dài tương đối và tuyệt đối của tôm
Nghiệm thức
Trung bình
NT1 NT 2 NT 3 NT4
Tăng trưởng tuyệt đối (cm/ngày) 0,09±0,00
a
0,09±0,00
a
0,08±0,00
a
0,08±0,00
a
Trung bình
0,17±0,02 0,17±0,01 0,15±0,01 0,15±0,01 3,39±0,09 3,27±0,06 3,15±0,04 3,17±0,06
Các giá trị khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
0
5
10
15
20
25
15 30 45 60 75 90 105 120
Thời gian TN (ngày)
Khối lượng (gam
)
NT1 NT2 NT3 NT4
Hình 3. Tăng trưởng về chiều dài tôm Hình 4. Tăng trưởng về khối lượng của tôm
Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối của tôm trong các nghiệm thức có xu hướng giảm
dần theo thời gian nuôi ở cả 4 nghiệm thức. Tương tự như tốc độ tăng trưởng
0
3
6
9
12
15
18
15 30 45 60 75 90 105 120
Chiều dài (cm)
Thời gia n TN (ngà y)
NT1 NT2
60
70
80
90
100
Tỷ lệ sống(%)
NT1 NT2
Hình 5. Tỷ lệ sống (%) của tôm theo thời gian thí nghiệm
Năng suất tôm và các chỉ tiêu chất lượng sau thu hoạch được trình bày ở Bảng
4. Kết quả cho thấy năng suất tôm tỷ lệ thuận với mật độ hàu nuôi kết hợp.
Năng suất cao nhất ghi nhận được là NT1 (711,1g/m
2
) không khác biệt so với
NT2 (670g/m
2
) nhưng khác biệt có ý nghĩa so với 2 nghiệm thức còn lại.
Nguyên nhân tôm ở hai nghiệm thức này có tỷ lệ sống cao và khối lượng trung
bình cũng lớn hơn so với NT3, NT4. Do môi trường ở hai nghiệm thức này tốt
hơn nên tỷ lệ sống của tôm cao hơn so với 2 nghiệm thức còn lại. Kết quả này
cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thức Tuấn và Phạm Mỹ
Dung (2008) là nuôi ghép tôm sú Penaeus monodon và hàu cửa sông
bc
bc
ab
a
Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 405-416 Trường Đại học Cần Thơ
412
Crassostrea rivularis giúp tăng năng suất tôm nuôi và giảm chi phí quản lý môi
59,05±2,85
ab
59,16±6,26
ab
61,11±3,89
bc
Tỷ lệ khô/tươi (%) 30,82±1,05
a
31,00±1,45
a
31,61±0,52
a
30,14±3,79
a
Tỷ lệ đầu/thân (%)
70,86±1,54
a
72,52±2,89
a
72,60±7,92
a
74,04±4,10
a
Màu sắc (%)
Vàng cam 66,7 66,7 60 20
Vàng nhạt 33,3 33,3 40 80
Các giá tri của mỗi chỉ số trong cùng một hàng có chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p<0,05)
Tỷ lệ thịt trong tôm cao nhất ở NT4 (61,11%) khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p<0,05) so với NT1 (56,91%). Nhìn chung, khi nuôi kết hợp với hàu mật độ
Chiều dài (mm) Khối lượng (g) Ngày
NT1 NT2 NT3 NT1 NT2 NT3
1
40,7
±1,1 42,0±0,5 41,6±1,0 11,07±0,5 11,78±0,4 11,63±0,3
30
40,8
±0,8 42,0±0,5 41,8±1,3 11,07±0,4 11,76±0,3 11,60±0,2
60
40,9
±0,6 41,8±0,5 41,7±1,0 10,84±0,4 11,58±0,6 10,99±0,3
90
40,3
±1,0 41,1±0,1 41,5±1,0 10,75±0,4 11,06±0,5 10,76±0,3
Các giá tri trong cùng một hàng có chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)
Các loài động vật thân mềm giúp làm giảm bớt vật chất lơ lửng trong cột nước
và nền đáy. Những vật chất này chủ yếu từ thức ăn dư thừa, vật chất hữu cơ lơ
lửng. Yokohama et al., (2002) đã tìm ra rằng trong hệ thống nuôi gồm tôm thẻ
Fenneropenaeus merguiensis và những loài động vật thân mềm như Perna
viridis, Nerrididae sp. và Cerithideopsilla cingulata, hầu hết các chất dinh
dưỡng cho nhóm thân mềm
được cung cấp từ thức ăn dư thừa của tôm. Trong
nghiên cứu này, thức ăn của hàu chủ yếu là vật chất hữu cơ từ phân tôm và
thức ăn tôm dư thừa thêm vào đó hàu được nuôi trong bể nước tĩnh làm cho
quá trình tăng trưởng không cao như trong tự nhiên. Theo Nguyễn Thức Tuấn
và Phạm Mỹ Dung (2008) môi trường sống tại các đầm phá và cửa sông vẫn
thuận lợi cho sự phát triển của hàu h
ơn trong môi trường nước tĩnh.
3.3.2
Tỷ lệ sống
Hìn
h 6. Tỷ lệ sống (%) của hàu theo thời gian
3.3.3 Tỷ lệ thịt khô, chỉ số thể trạng (CI) và chỉ số tuyến tiêu hóa (DGI)
Tỷ lệ khô của hàu khi kết thúc thí nghiệm dao động từ 18,2 đến 19,7%, không
có sự khác biệt thống kê giữa các nghiệm thức và thấp hơn so với tỷ lệ khô ban
đầu. Chỉ số thể trạng ban đầu của hàu (110,7±21,9
mg/g) cao hơn so với kết
quả ở các nghiệm thức khi kết thúc thí nghiệm. Nguyên nhân có thể hàu thí
nghiệm đã thành thục nên tỷ lệ tăng trưởng không đáng kể. Chỉ số CI ở NT3
(86,3 mg/g) cao hơn 2 nghiệm thức còn lại tuy nhiên khác biệt không có ý
nghĩa thống kê (p>0,05).
Bảng 6. Các chỉ tiêu tỷ lệ khô, CI, DGI và tỷ lệ đực cái của hàu trong từng
nghiệm thức
Chỉ số tuyến tiêu hóa khi bố trí thí nghiệm trung bình đạt 1,7±0,7. Sau 90 ngày
nuôi, DGI cao nhất ở nghiệm thức 2 (1,5) và thấp nhất là nghiệm thức 1 (0,6).
Các chỉ tiêu theo dõi Ban đầu NT1 NT 2 NT 3
Tỷ lệ khô (%) 24,4±3,5
18,2±2,3
a
1 153045607590
Thời gian T N (ngày )
Tỷ lệ sống (%)
NT1 NT2 NT3
b
b
a
Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 405-416 Trường Đại học Cần Thơ
415
Nhìn chung, DGI ở các nghiệm thức sau khi kết thúc thí nghiệm đều thấp hơn
so với ban đầu. Nguyên nhân có thể là khả năng lọc của hàu lớn nên nguồn vật
chất hữu cơ từ phân tôm và thức ăn tôm thừa không đủ so với nhu cầu của hàu.
Thực tế cho thấy trong quá trình thí nghiệm độ trong của cột nước trong bể
nuôi luôn cao. DGI của các cá thể trong các nghiệm thức không đồng đều do
đó độ biến động khá l
ớn. Ở nghiệm thức 2 và 3 số cá thể có vách tuyến tiêu
hóa dày với cấu trúc đầy đủ nhiều hơn so với NT1.
4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
4.1 Kết luận
-
Tỷ lệ sống của tôm thẻ đạt cao nhất khi nuôi kết hợp với hàu ở mật độ 100
và 150 con/m
2
.
-
Tăng trưởng khối lượng, năng suất tôm cao nhất ở nghiệm thức nuôi kết
hợp với hàu ở mật độ 100 và 150 con/m
giá trị kinh tế khác nhằm cải thiện môi trường. Đưa mô hình ra thực tế sản
xuất nâng cao hiệu quả kinh tế.
LỜI CẢM TẠ
Tác giả gởi lời cảm ơn đến Bộ môn Kỹ thuật nuôi hải sản, Bộ môn Sinh
học & Bệnh thủy sản, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ đã giúp đỡ
trang thiết bị mô học. Chân thành cảm ơn trường Đại học Cần Thơ đã
hỗ trợ kinh phí. Cảm ơn ThS Huỳnh Hàn Châu, bạn Phạm Thị Hồng
Diễm, Phan Thanh Toàn, Bùi Quốc Chiến đã giúp
đỡ trong quá trình
thực hiện nghiên cứu này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 405-416 Trường Đại học Cần Thơ
416
Boyd, C. E and Green, B. W, 2002. Coastal water quality mornitering in shrimp
Areas: An example from hondurras. Resport of the World Bank, NACA,
WWF and FAO consortium program in shrimp farming and the environment.
World progess for public discussion: 29p.
Chanratchkoll, P., J. R. Turbull, J. S. Funge-Smith and C. Limsuwan, 1995.
Health managent in shrimp ponds, 2nd edition. Aquatic Aninal Health
Research Institute, Department of Fisherries, Kasetsart University Campus,
Bangkok, Thailand, pp: 111.
Cheng , J.C and T.S Chin, 1998. Accute oxicity of Nitrite to shrimp tiger praw,
Penaeus monodon. Aquaculture 69(1998): 253-262.
Lê Minh Viễn và Phạm Cao Vinh, 2007. Nghề nuôi hàu ở miền Nam hiện nay và
những định hướng phát triển bền vững trong tương lai. Tuyển tập báo cáo
khoa học Hội thảo động vật thân mềm toàn quốc lần IV - Nha Trang, 5 –
6/09/2005. NXB Nông Nghiệp: 304 – 314.
Martinez-Cordova, L. R. and M. Martinez-Porchas, 2006. Polyculture of Pacific
white shrimp, Litopenaeus vannamei, giant oyster, Crassostrea gigas and