Đánh giá kết quả phục hồi tổn thương thân răng bằng Inlay sứ E.maxpress cho nhóm răng sau - Pdf 11

ĐặT VấN Đề
Bệnh răng miệng là Bệnh rất phổ biến ở nước ta nói riêng và trên thế
giới nói chung. Theo mét sè nghiên cứu về nhu cầu và yêu cầu điều trị răng
thì có 83,7% bệnh nhân đến là do sâu răng [8]. Sang chấn, mòn ngót thân răng
còng có nhu cầu điều trị cao [42]. Mặt dù cắm ghép Implant trên xương hàm
thay thế cho răng mất đang ngày càng phát triển nhưng vấn đề mà bệnh nhân
quan tâm nhất vẫn là các biện pháp điều trị, phòng ngõa sâu răng.
Các tiến bé của nha khoa phục hồi trong thế kỷ 21 đã có những biến đổi
đáng kể về kỹ thuật và vật liệu, do vậy đem lại cho Bác sỹ và Bệnh nhân
nhiều sù lùa chọn để có những miếng trám phục hồi mô răng ngày càng tù
nhiên và hài lòng hơn.
Đối với nhóm răng sau, do cấu tróc mặt nhai và các mói được phân bổ
mét cách tù nhiên, nên ngay cả răng không sâu còng có thể vì dưới lực nhai
mạnh. Việc phục hồi thân răng rất quan trọng đối với các răng sâu, răng đã
điều trị nội nha đồng thời việc phục hồi mô răng bị tổn thương cho nhóm răng
sau đòi hái phải bền vững để đảm bảo chức năng ăn nhai vì đây là những răng
chịu lực lớn. Các phương pháp phục hồi mô răng thông thường là:
- Phục hồi trực tiếp: trám răng bằng cách đặt trực tiếp các vật liệu khác
nhau vào xoang trám nh: Amalgam, Glass ionomer Cement, composite vv và
chỉ trong mét lần hẹn. Kỹ thuật hàn trực tiếp lên xoang trám có ưu điểm:
nhanh, đơn giản nhưng dễ hình thành vi kẽ do đó gây sâu răng thứ phát và
bong miếng trám. Mặt khác, việc tạo hình răng có những khó khăn về điểm
tiếp xúc với răng kế bên và răng đối diện. Các miếng trám thường không bền
khi phục hồi các tổn thương mặt bên kèm theo.
- Phục hồi gián tiếp: Dùng vật liệu chế tạo các phục hồi tại labo nh
chụp, inlay. Rồi đặt các phục hồi vào trong hoặc lên trên răng. Ưu điểm là có
1
độ chính xác cao hơn, phục hồi lại hình thể giải phẫu của thân răng tốt hơn
nhưng cần tới hai lần hẹn trở lên.
Composite được sử dụng để trám trực tiếp lên xoang trám cho răng sau
hoặc làm Inlay onlay gián tiếp. Các nhà sản xuất đã không ngừng cải tiến đặc

TổNG QUAN
Miệng, nơi tiếp nhận các vật liệu để hàn răng và làm răng giả, là môi
trường rất thuận lợi cho quá trình phá hủy cũng như quá trình tái khoáng và
hủy khoáng của răng. Các lực nén lên răng đã được phục hồi có thể đạt tới
hàng trăm kg/cm
2
. Nhiệt độ có thể thay đổi đột ngột. Độ PH của môi trường
miệng có thể chuyển nhanh chóng từ kiềm sang axít và ngược lại. Nóng, Èm
là điều kiện thuận lợi cho sự ăn mòn kim loại và những vật liệu khác. Ngoài
ra, bất kỳ tác nhân kích thích nào cũng có thể gây ảnh hưởng tai hại đến tủy
răng và niêm mạc. Vật liệu dùng để thay thế, phục hồi mô răng khi sử dụng
phải dễ dàng; bảo đảm độ cứng, khả năng chống bào mòn (phục hồi chức
năng); phục hồi được màu, vẻ tự nhiên của răng; khả năng gắn dính tốt với
mô răng; tương hợp sinh học tốt
1.1. Một sè đặc điểm giải phẫu và tổ chức học các răng sau.
Răng sau hay răng hàm, ngoài tham gia cơ quan phát âm, thẩm mỹ,
đóng vai trò chính trong ăn nhai. Các răng hàm chia làm hai nhóm: răng hàm
nhỏ (răng số 4, 5), răng hàm lớn (răng sè 6, 7, và 8).
Khác với những răng cửa, mặt nhai răng hàm có các rãnh, núm, (để
nghiền thức ăn), tùy từng răng có thể có 2 núm (răng hàm nhỏ) hoặc 4 -5 núm
(răng hàm lớn). Do có nhiều núm, rãnh, hốc trên mặt răng như vậy nên
thường thấy sâu ở các răng hàm nhiều hơn ở nhóm răng cửa.
Cũng như các răng cửa tổn chức cứng của răng hàm gồm men răng, ngà
răng, xương răng. Men răng có nguồn gốc từ ngoại bì, là tổn chức cứng nhất
của cơ thể, ròn, trong và cản quang. Theo Nguyễn Văn Cát, so với ngà và
xương men răng chứa nhiều thành phần vô cơ hơn cả (96%). Men răng được
cấu tạo bởi các trụ men, các trụ men này chạy suèt theo chiều dày của men
4
răng từ đường ranh giới men ngà đến bề mặt của men răng. Hướng đi của trụ
men nói chung thẳng góc với đường ranh giới trong và ngoài của lớp men,

Hình 1.2. Chiều dày tổ chức cứng của răng hàm
Bảng 1.1. Thành phần chất hữu cơ, vô cơ, muối ở men, ngà và xương răng
(Nguyễn Văn Cát [3] [4])
Men (%) Ngà (%) Xương răng (%)
Muối 2,3 13,2 32
Hữu cơ 1,7 17,5 22
Vô cơ 96 69,3 46
6
Thân răng
Chân răng
Men răng
Ngà răng
Tủy răng
Xi măng
Lớp màng
ngoài răng
Mạch máu và
dây thần kinh
4,1mm
3,5mm
Bảng 1.2. Đặc tính lý học của răng (Vũ Khoái [18] [17])
Răng Mô
Mô đuyn đàn
hồi (kg/cm2)
Giới hạn đàn
hồi (kg/cm2)
Tải trọng làm
vỡ (kg/cm2)
Răng hàm lớn
Men

Sau cỏc ba n, vi khun (ch yu l Stretococus mutans, Lactobacille
v Antinomyces viscosus) lờn men cỏc loi cacbonhydrat, lm tớch t acid
mnh bỏm rng v gõy nờn s mt mui khoỏng ca men rng. Song song vi
hin tng hu khoỏng, c th cng to ra c ch bo v ca nc bt. Cỏc
acid m, cỏc cht khỏng khun, calcium, phosphat lm ngng s tt cụng ca
acid v sa cha cỏc thng tn dn ti s tỏi khoỏng [27] [44] [59].
Bng 1.3. ỏnh giỏ nhng yu t nguy c sõu rng ni tri [17]
Yu tố
vi khun
Yu tố
dinh dng
Sc khỏng
vi sõu rng
Yu tố
nc bt
-nh lng: nhum
mu mng bỏm
- nh tớnh:
S.Mutans,
Lactobacille
- Tn sut s dng
- Trỡnh t s dng
- Dng hydrate carbon
- ng thay th
- S dng fluor
* Ton thõn
* Ti ch
- Kh nng
m
- Lu lng

- Loại B: Lỗ sâu sâu >2mm
- Loại C: Lỗ sâu gần hở tuỷ hoặc đã gây tổn thương tuỷ.
- Loại D: Lỗ sâu gần hở tuỷ hoặc đã gây tổn thương tuỷ.
* Phân loại mới về sâu răng:
Hiệp hội nha khoa Quốc tế đã đưa ra phân loại mới về sâu răng. Phân
loại này lần đầu tiên được đề nghị vào năm 1996 và được phát triển, hoàn
chỉnh hơn khi chính thức được công nhận và tồn tại song song với phân loại
9
kinh điển của G.V.Black. Phân loại mới dựa trên vị trí và kích thước tổn
thương mô răng [5] [49].
10
Bảng 1.4. Phân loại của Graham J. Mount và W.R.Hume (Mỹ – óc 1996)
Vị trí lỗ sâu
Kích thước lỗ sâu
Mức độ 0
tối thiểu,
chớm sâu,
phục hồi
bằng bôi gel
Fluoride
Mức độ 1
trung bình
sâu men
và ngà
nông
Mức độ 2
Rộng, sâu,
phần ngà
còn lại đủ
dày để bảo

(răng hàm
lớn, hàm
nhỏ)
Lỗ hàn đơn giản
(lỗ hàn ở một mặt
răng)
- Lỗ hàn ở mặt nhai
- Lỗ hàn ở mặt ngoài
- Lỗ hàn ở mặt trong
Lỗ hàn kết hợp
(lỗ hàn liên kết
nhiều mặt)
- Lỗ hàn ở mặt nhai liên kết với mặt ngoài.
- Lỗ hàn ở mặt nhai liên kết với mặt trong.
- Lỗ hàn mặt nhai có 1 hay 2 thành trong, ngoài
yếu – cần phá bỏ
Loại II
(Răng hàm
lớn, hàm
nhỏ)
Lỗ hàn đơn giản - Lỗ hàn ở mặt gần hoặc mặt xa
(không có răng bên cạnh)
Lỗ hàn phức hợp
IIA
- Lỗ hàn ở mặt gần hoặc mặt xa
(còn răng bên cạnh, tạo lỗ hàn từ trên xuống).
Lỗ hàn phức hợp
IIB
- Loại II mà thành trong hoặc ngoài bị sâu phá
huỷ

Lỗ hàn phức hợp - Lỗ hàn cổ răng ở nhiều mặt răng
1.2.4. Tình hình sâu răng và nhu cầu trám phục hồi răng sâu ở nước ta
12
Theo các cuộc điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc lần I (1989) , lần
II (1999) và điều tra cơ bản (2002) của Trần văn Trường và cộng sự thì tỷ lệ
sâu răng trong cộng đồng rất cao: >50% trẻ em và nhân dân bị sâu răng
[24] ,cụ thể:
- Tỷ lệ sâu răng sữa cao, có 85% trẻ em 6-8 tuổi bị sâu răng sữa, trung
bình mỗi em có 5,4 răng bị sâu.
- Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn gia tăng theo tuổi: lên tới 69% ở lứa tuổi 15-17.
- Số răng vĩnh viễn sâu trung bình ở một cá thể tăng từ 0,48 răng ở
nhóm 6-8 tuổi lên 2,4 răng ở trẻ em nhóm 15-17 tuổi.
- Tình trạng sâu răng ở người lớn gia tăng theo tuổi, từ mức trung bình
có 3,29 răng sâu ở lứa tuổi 18-34 tăng lên 8,93 răng sâu/một người ở lứa tuổi
từ 45 trở lên [23].
- Tỷ lệ sâu răng cũng gia tăng từ 75,2% ở nhóm tuổi trẻ hơn lên tới
89,7%.
- Đời sống kinh tế càng cao, thay đổi cách ăn uống như giảm chất xơ,
tăng lượng đường, bánh kẹo… làm tỷ lệ sâu răng ngày càng cao hơn, ví dụ: tỷ
lệ sâu răng lứa tuổi 35-44 từ 72,7% (1989) tăng lên 83,2% (1999): Tỷ lệ sâu
răng ở lứa tuổi 15 tăng từ 60,3% (1989) lên 67,6% (1999). Tỷ lệ sâu răng ở
lứa tuổi 15 tăng từ 60,3% (1989) lên 67,6% (1999).
Tỷ lệ sâu răng cao nên nhu cầu điều trị phục hồi các răng sâu ngày càng
lớn. Nhờ có công tác tuyên truyền, giáo dục về phòng bệnh răng miệng nên
nhận thức của nhân dân về việc cần thiết phải điều trị răng sâu sớm cũng được
nâng cao. Bên cạnh yêu cầu phục hồi lại chức năng, tránh biến chứng còn có
một yêu cầu cao không kém là phục hồi lại cả về thẩm mỹ.
13
1.3. Mòn răng
Mòn răng là sự tổn thương bề mặt răng mà không phải do sâu răng hay

Xi măng là loại vật liệu có sức chống đỡ cơ học tương đối yếu và là loại
dẫn nhiệt kém. Tất cả các loại xi măng hàn răng đều được cung cấp dưới dạng
15
bột và nước mà khi trộn lẫn sẽ cho một bột dẻo trước khi đông cứng. Một số
vật liệu như:
- Xi măng kẽm phosphate.
- Xi măng Silicat
- Xi măng Cacboxylat.
- Amalgam [7], [16].
- Glass Ionomer Ciment (GIC) [28]
- Vật liệu sứ.
- Hợp kim nha khoa.
- Composite (Vật liệu được sử dụng phổ biến hiện nay)
Đây là chất hàn đã được sử dụng phổ biến ở các nước phát triển từ thập
kỷ 80, ở Việt Nam từ giữa thập kỷ 90. Composite và kỹ thuật hàn Composite
ngày càng được cải thiện và phát triển, đáp ứng yêu cầu tái tạo lại mô răng bị
tổn thương.
* Vật liệu làm Inlay:
- Trước đây Inlay thường được đúc từ kim loại, người ta hay dùng
vàng, thép… Sau này, Inlay còn được làm từ composit. Đây là những
composit thế hệ sau chuyên dùng cho răng và labo, những composit đã được
cải tiến này có những tính chất lý học tốt, đáp ứng được những yêu cầu của kỹ
thuật Inlay, tuy nhiên vẫn còn hạn chế bởi sự co ngót sau khi trùng hợp.
- Sau này, khắc phục nhược điểm đó, sứ là vật liệu làm Inlay được ưa
chuộng và ngày càng phổ biến rộng rãi.
1.5. Một số yếu tố liên quan đến phục hồi
1.5.1. Nhạy cảm ngay sau điều trị
- Ngay sau khi gắn inlay trên các răng được bảo tồn tuỷ, bệnh nhân có thể
xuất hiện cảm giác đau. Cảm giác này có thể dai dẳng hoặc không liên tục với
nhiều mức độ khác nhau và đôi khi có thể xuất hiện muộn (vài ngày hay vài

Vì vậy, cần sát trùng mô răng bằng dung dịch chlorhexidine trước khi
gắn phục hồi đÓ phòng chống sâu răng tái phát [51].
1.5.3. Vị trí của phục hồi liên quan với khớp cắn
- Định nghĩa về khớp cắn: là tương quan giữa cả các thành phần của hệ
thống nhai trong chức năng bình thường, loạn chức năng, cận chức năng bao
gồm những đặc điểm hình thái và chức năng bề mặt tiếp xúc của các răng và
phục hình đối diện, chấn thương và loạn khớp cắn, sinh lý cơ thần kinh, chức
năng cơ khớp thái dương hàm, nhai và nuốt, trạng thái tâm sinh lý và chẩn
đoán, dự phòng, điều trị rối loạn chức năng hệ thống nhai.
- Khi thực hiện phục hồi, cần xác định chính xác vị trí của những núm
răng đối diện sẽ tì lên inlay từ đó có những biện pháp giảm lực tác động lên
phục hồi.
18
- ở tư thế lồng múi tối đa (các răng trên 2 cung hàm có nhiều điểm tiếp
xúc nhất) múi tựa tiếp khớp với gờ bên hoặc hố giữa của răng đối diện. Múi
tựa chính là những điểm chịu lực, là những trụ chống để duy trì chiều cao
khớp cắn. Vị trí của inlay trên những điểm chịu lực có thể gây ra những thất
bại lâm sàng.
Trên mặt nhai các răng hàm lớn và hàm nhỏ:
+ Đỉnh của múi ngoài răng dưới tiếp xúc với gờ bên của răng trên, trừ
trường hợp múi ngoài thứ 2 của răng hàm lớn dưới tiếp khớp với hố giữa của
răng hàm lớn trên.
+ Đỉnh của múi trong răng trên tiếp khớp với hố xa của răng hàm nhỏ
và hố giữa của răng hàm lớn dưới, trừ trường hợp múi trong thứ 2 của răng
hàm lớn trên tiếp khớp với gê bên của răng hàm lớn dưới.
- Ở tư thế đưa hàm sang bên: ở bên làm việc, các đỉnh núm ngoài của
răng hàm lớn và hàm nhỏ của 2 hàm, đỉnh núm trong của răng hàm lớn và
hàm nhỏ hàm trên có các điểm chạm. Nhưng ở tư thế này, các núm răng
không chịu lực như ở tư thế lồng múi tối đa. Tuy vậy, khi thử cắn phải kiểm
tra tư thế này vì cản trở cắn ở tư thế đưa hàm sang bên vẫn có thể gây bong

0. Để sứ có biểu hiện bề ngoài tương tự cấu trúc răng người ta thêm
vào Sn0
2
, Ti0
2
. Ở trạng thái keo những chất này cho phép khuyếch tán tản
mát ánh sáng và cho mầu trắng sữa.
- Ngoài thành phần trên để sứ có mầu răng tự nhiên người ta cho thêm
vào một lượng nhỏ oxide mầu làm cho sứ có ánh màu vàng (oxide cobal), hồng
(oxide sắt), xanh (oxide crom). ĐÓ tạo ra tính chất huỳnh quang của men người
ta cho thêm vào sứ những muối của ursnium và những oxide quý hiếm.
- Các vật liệu toàn sứ được tăng cường các mối nối cơ học và các mối
nối đồng hóa trị dẫn đến thẩm mỹ cao hơn, mài răng Ýt hơn và gắn liền bờ
phục hình hơn [44].
1.6.2.2 Phân loại sứ
- Phân loại sứ theo nhiệt độ nóng chảy [39], [43].
+ Sứ có độ nóng chảy cao: 1290 – 1370
0
C
+ Sứ có độ nóng chảy trung bình: 1090 – 1260
0
C
+ Sứ có độ nóng chảy thấp: 870 – 1065
0
C.
- Phân loại theo cách sử dụng.
+ Sử dụng làm cầu, chụp sứ kim loại (thường hoặc quý).
+ Sử dụng trong cầu chụp toàn sứ.
- Phân loại theo kỹ thuật sản xuất.
+ Sứ nung kết.

- IPSe.max CAD.
- IPSe.max zir CAD.
- IPSe.max ceram.
* Sứ IPSe.max Press
Đặc tính lý học:
- IPSe.max press là một phôi sứ thủy tinh liti hóa học. Quá trình sản
xuất tạo ra các phôi giống nhau chỉ khác độ mờ, các phôi này đặc trưng bởi
sức mạnh của 400 Mpa do đó là loại phôi sứ có độ bền cao nhất.
+ CTE (100-400) [10-6/K] 10.
+ CTE (100-500) [10-6/K] 10.5 + Độ
uấn (biaxial) [Mapa] 400 Độ bền
[Mpam0.5] 2.75 Độ co giãn [GPa] 95
Độ cứng [Mpa] 5800 Độ hòa tan hóa
học [Mg/cm
2
]*40 Nhiệt độ đúc [C/F]
915-920/1679-1688
- Đặc tính cơ bản:
Độ bền, khả năng đề kháng với sự lan truyền gẫy nứt.
Thẩm mỹ và tương hợp sinh học.
Độ nhạy cảm với kích thích nóng lạnh.
Giảm bệnh quanh răng, sâu răng.
Sự sát khít của phục hình.
Công nghệ thiết kế sản xuất hiện đại.
* Chỉ đinh:
Inlay, veneers (mặt nhai, mỏng), chụp từng phần, cầu 3 đơn vị (răng
trước, vùng răng hàm nhỏ).
* Chống chỉ định:
- Cầu 4 đơn vị trở lên.
22

phương pháp “đúc thay thế sáp” (lost wax process). Không chỉ phát triển và
mô tả kỹ thuật, ông còn công thức hoá một hỗn hợp mẫu sáp với những thuộc
tính tuyệt vời từ đó áp dụng nguyên liệu này trong nhà khoa cùng với máy
đúc khuôn ly tâm. Sau đó inlay onlay vàng bắt đầu đưa vào sử dụng. Những
mẫu sáp inlay onlay thời kỳ này được điêu khắc trực tiếp trên miệng của bệnh
nhân. Ngày nay, bác sĩ điều trị mài mô răng, chuẩn bị xoang inlay onlay rồi
đo mẫu gửi xuống labo. Tại labo, khối inlay onlay được tạo hình sáp rồi được
đúc bằng các loại vật liệu khác nhau.
Nhưng vào thời điểm đó, kỹ thuật của H.Taggart chưa đạt được độ chính
xác nha sĩ yêu cầu cho những phục hồi nhỏ. Vì thế, đa số nha sĩ vẫn sử dụng
phương pháp nhồi vàng lá hãy hỗn hợp Amalgam – bạc (mới được cải tiến lúc
Êy) vào các lỗ sâu vì nó luôn luôn tạo ra được những phục hồi rất khít khao.
Kể từ đó, đã có rất nhiều cải tiến về bột đúc giảm co, hạn chế sự biến
dạng của những sản phẩm, cải tiến vật liệu làm inlay onlay, cement gắn dán
24
chỉ với mục đích tạo ra được một phục hồi chắc chắn. Kỹ thuật sử dụng inlay
onlay cũng ngày càng được bổ biến rộng rãi hơn.
Năm 1931, Wiliam H.O.,Mc Gehee, đã có công trình nghiên cứu về
inlay vàng và inlay sứ.
Năm 1965. Mc Lean và Hughes phát triển sứ alumina cho hệ thống sứ
không hợp kim chịu lực.
Năm 1971, Duret lần đầu tiên giới thiệu hệ thống thiết kế và chế tạo
phục hồi nha khoa tự động với sự trợ giúp của máy vi tính (CAD/CAM) có
thể tạo ra phục hồi và ngắn trong một lần hẹn. CAD: là bộ phận thu thập dữ
liệu bằng dấu quang học hay cơ học thông qua việc ghi dấu trực tiếp của răng
đã sửa soạn hoặc từ mẫu hàm. CAM: là bộ phận chế tạo phục hồi từ khối sứ
hay hợp kim chế tạo sẵn dựa vào hình dáng đã được thiết kế.
1980-1987: Mormann và Brandestini phát triển hệ thống CEREC trong
đó các bước kỹ thuật từ thiết kế sửa soạn xoang đến chế tạo phục hồi nha
khoa là hoàn toàn tự động với phần mềm COS ngày càng hoàn thiện.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status