đánh giá hiệu quả của đệm lót chuồng nuôi gà có bổ sung men vi sinh balasa n01 - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

LÊ MINH LUÂN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA ĐỆM LÓT
CHUỒNG NUÔI GÀ CÓ BỔ SUNG MEN VI
SINH BALASA N01

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH THÚ Y

CẦN THƠ - 2013


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH THÚ Y

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA ĐỆM LÓT
CHUỒNG NUÔI GÀ CÓ BỔ SUNG MEN
VI SINH BALASA N0.1

Giáo viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

Ths BÙI THỊ LÊ MINH


Duyệt khoa Nông Nghiệp & SHƯD

i


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết
quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kì công trình luận văn nào trước đây.
Tác giả luận văn

Lê Minh Luân

ii


LỜI CẢM ƠN
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nay tôi rất tự hào và sung sướng khi
sắp hoàn thành chương trình đào tạo đại học của mình, với một niềm vui thật
khó tả. nghèo khó lại đông anh em, ước mơ vào giảng đường đại học đối với
tôi thật khó thực hiện. Tuy không được học liên tục như các bạn cùng trang
lứa, nhưng hôm
Lời cảm ơn đầu tiên con xin cảm ơn Cha, Mẹ, Người đã sinh ra con, luôn
dìu dắt và ủng hộ con mỗi khi con vấp ngã, luôn tạo điều kiện tốt nhất cho con
tiếp tục đến trường. Cha Mẹ luôn là mục tiêu, là động lực để con vượt qua khó
khăn thử thách trong cuộc sống.
Xin trân trọng cảm ơn
Cô Bùi Thị Lê Minh đã tận tình, hết lòng chỉ bảo động viên và hướng
dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Thầy Trần Ngọc Bích đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi thực hiện đề

2.2 Giới thiệu về đệm lót lên men..........................................................................6
2.2.1 Vai trò của các loại sinh vật trong đệm lót lên men ......................................6
2.2.2 Các nhóm vi sinh vật có trong đệm lót ..........................................................6
2.2.3 Vai trò của nguyên liệu làm đệm lót .............................................................8
2.3 Kỹ thuật làm đệm lót chuồng nuôi gà trực tiếp trên nền (chuồng kín hoặc
hở).........................................................................................................................9
2.3.1 Cách thứ nhất ...............................................................................................9
2.3.2 Cách thứ hai.................................................................................................9
2.4 Kỹ thuật làm chất lót chuồng lồng tầng............................................................10
2.5 Vấn đề sử dụng và bảo dưỡng .........................................................................10
2.6 Vấn đề chống nóng..........................................................................................11
Chương 3. PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.......................12
3.1 Nội dung nghiên cứu .......................................................................................12
3.2 Phương tiện nghiên cứu ...................................................................................12
3.2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu................................................12
3.2.2 Dụng cụ và hóa chất.....................................................................................12
3.3 Phương Pháp nghiên cứu .................................................................................13
3.3.1 Bố trí thí nghiệm...........................................................................................13
3.3.2 Thu thập mẫu................................................................................................13
3.3.3 Phương pháp phân lập và nuôi cấy vi khuẩn ................................................14
3.4 Phân tích và xử lí số liệu .................................................................................20
Chương 4. KẾT QUẢ THẢO LUẬN ....................................................................21
4.1 Kết quả khảo sát vi sinh vật trước khi sử dụng men Balasa No.1 .....................21
4.2 Kết quả khảo sát vi sinh vật sau 2 tuần sử dụng men Balasa No.1....................21
4.3 Kết quả khảo sát vi sinh vật sau 4 tuần sử dụng men Balasa No.1....................22
4.4 Kết quả khảo sát vi sinh vật sau 6 tuần sử dụng men Balasa No.1....................23
Chương 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ..................................................................25
5.1 Kết luận...........................................................................................................25
5.2 Đề nghị............................................................................................................25
Tài liệu tham khảo.................................................................................................26

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Cách bố trí thí nghiệm ..............................................................................13
Bảng 2 Kết quả vi sinh vật trước khi sử dụng men Balasa No.1.............................21
Bảng 3 Kết quả vi sinh vật sau 2 tuần sử dụng men Balasa No.1 ...........................21
Bảng 4 Kết quả vi sinh vật sau 4 tuần rắt men Balasa No.1 ...................................22
Bảng 5 Kết quả vi sinh vật sau 6 tuần rắt men Balasa No.1 ...................................23

vii


TÓM LƯỢC
Qua thời gian thực hiện đề tài “Đánh giá hiệu quả của đệm lót chuồng
nuôi gà có bổ sung men vi sinh Balasa N01” được thực hiện từ tháng 08 đến
tháng 12 năm 2013, với mục tiêu khảo sát các chỉ tiêu vi sinh như vi khuẩn
Coliform, Ecoli trong chất lót chuồng, không khí chuồng nuôi trước và sau khi
sử dụng men vi sinh, chúng tôi nhận thấy hiệu quả xử lí đệm lót của men vi
sinh Balasa No.1 tăng dần từ tuần thứ 2 đến tuần thứ 4 và đến tuần thứ 6 thì
giảm dần, cụ thể là sau 2 tuần sử dụng men vi sinh thì số lượng vi khuẩn trong
không khí đã giảm xuống, điển hình là vi khuẩn hiếu khí 63x103 CFU/m3,
Coliform và E. coli là 185 CFU/m3, thấp hơn ở nghiệm thức không sử dụng
men. Đến sau 4 tuần thì cả trên đệm lót lẫn không khí, số lượng vi khuẩn ở
nghiệm thức sử dụng men các chỉ tiêu vi sinh theo dõi đa số đều giảm xuống.
Đến tuần thứ 6 thì chỉ còn số lượng vi khuẩn trên đệm lót giảm xuống còn trên
không khí thì bắt đầu tăng lên, cụ thể là ở nghiệm thức sử dụng men vi sinh
trên lớp đệm lót, vi khuẩn Coliform 41x103 CFU/g, E. coli 31x103 CFU/g.

viii




CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÍ LUẬN
2.1 Vi sinh vật trong chuồng nuôi
Vi sinh vật trong không khí chuồng nuôi chủ yếu có nguồn gốc từ cơ thể
hay các chất tiết từ vật nuôi, chất thải, thức ăn, chất lót chuồng. Số lượng vi
sinh vật trong không khí chuồng nuôi có thể biến thiên từ vài trăm đến vài
ngàn trong một lít không khí: trên 80% vi sinh vật là các cầu khuẩn
Staphylococcus và Streptococcus có nguồn gốc từ đường hô hấp trên và da;
10% là Coliforms có nguồn gốc từ phân và 10% là nấm mốc. Số lượng vi sinh
vật trong không khí chuồng nuôi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mật độ nuôi,
tuổi động vật, độ thông thoáng, nhiệt độ, ẩm độ và hàm lượng bụi (Lăng Ngọc
Huỳnh, 2007)
Bản thân không khí không phải là môi trường cho vi sinh vật phát triển.
Bởi vì trong không khí không có chất dinh dưỡng và các điều kiện khác cho vi
sinh vật phát triển.Vi sinh vật có trong không khí chủ yếu là cùng với bụi bẩn
bay lên rồi rơi xuống đất. Thời gian tồn tại của chúng trong không khí không
lâu. Một số khá lớn do ánh sáng mặt trời tiêu diệt. Vì vậy, số lượng và hệ vi
sinh vật không khí phụ thuộc vào số lượng và hệ vi sinh vật đất mà lớp không
khí bao phủ. Số lượng vi sinh vật thay đổi theo quy luật là: càng lên cao lượng
vi sinh vật càng giảm. Sự tăng số lượng vi sinh vật trong không khí do nhiều
nguyên nhân, nhưng phần lớn do tình trạng vệ sinh kém (ít thông gió, ít quét
dọn) hoặc động vật nhiều.
2.1.1 Vi khuẩn hiếu khí
Nuôi cấy vi khuẩn hiếu khí bằng cách làm rơi vi khuẩn trên đĩa thạch để
phơi trong chuồng nuôi súc vật ở những chỗ độ cao cách mặt đất khác nhau, từ
5 - 10 phút (nếu không khí trong sạch hơn thì để 30 phút). Vi khuẩn theo bụi
và giọt nước nhỏ rơi trên mặt thạch, phát triển thành khuẩn lạc; phương pháp
này biểu thị một cách tương đối sự nhiễm trùng của không khí.
Những vi khuẩn hiếu khí mọc dễ dàng trên môi trường NA, ở 37oC qua

E. coli là vi khuẩn thường xuyên cư trú và hoạt động trong đường ruột và
có thể trở thành nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy.
Năm 1894, Ligniere lần đầu tiên báo cáo về trận dịch trên gà và đã phân
lập được vi khuẩn E. coli từ tim, gan, lách của gia cầm bệnh.
Từ năm 1938 – 1965, Garrard đã mô tả một thể bệnh u hạt do vi khuẩn
E. coli (Hjarre’s disease), đồng thời đã xác định vai trò của vi khuẩn E. coli
trong nhiều thể bệnh bao gồm: viêm túi khí, viêm khớp, viêm cuống rốn, viêm
mắt, viêm phúc mạc, viêm ống dẫn trứng.
Trong điều kiện bình thường, Ecoli khu trú thường xuyên ở phần sau
của ruột, ít khi có ở dạ dày hay đoạn đầu ruột non của động vật. Khi gặp điều
kiện thuận lợi, chúng phát triển nhanh về số lượng, độc lực, gây loạn khuẩn,
bội nhiễm đường tiêu hóa và trở thành nguyên nhân gây tiêu chảy (Nguyễn
Vĩnh Phước, 1978).

3


Bệnh E. coli phổ biến khắp nơi trên thế giới, đặc biệt ở vùng nhiệt đới.
Ở Việt Nam, bệnh cũng được ghi nhận trên đàn gia cầm và gây tổn thất khá
lớn, đặc biệt là ở gà và vịt (Hồ Thị Việt Thu và Nguyễn Đức Hiền, 2012).
Đặc điểm vi khuẩn E. coli
Cấu trúc kháng nguyên của E. Coli: Kauffman (1997) người đầu tiên
khám phá ra kiểu huyết thanh dựa trên 3 loại kháng nguyên của E. coli là:
kháng nguyên O (Somatic), kháng nguyên H (Flagellum) và kháng nguyên K
(Caspular). Theo Lê Văn Tạo (2006) còn có thêm kháng nguyên F (Fimbriae).
Cho đến nay đã xác định được 175 type kháng nguyên O, 89 type kháng
nguyên K, 56 type kháng nguyên H và hơn 20 type kháng nguyên F
(Fairbrother và Gyles, 2006).
Độc tố của vi khuẩn: E. coli sản sinh các loài độc tố gồm: độc tố đường
ruột (enterotoxin), độc tố tế bào (verotoxin), độc tố thần kinh (neurotoxin) ( Lê

lạc hơi lồi, kích thước 2 -3mm (Nguyễn Vĩnh Phước, 1997).
Trên môi trường EMB (Eosin Methylen Blue Agar) khuẩn lạc tròn, bóng,
màu tím đen, có ánh kim (Trần Thị Phận, 2004).
Đặc tính sinh hóa
Theo Trần Linh Thước (2010), vi khuẩn E. coli được định danh bằng các
phản ứng sinh hóa qua các môi trường như: môi trường KIA (Kliger Iron
Agar), Simmons citrate, môi trường VP (Voges- Proskauer), môi trường MR
(Methyl Red), môi trường Pepton.
Indole: Triptophan là một axit amin có thể bị oxi hóa bởi sinh vật có hệ
men trytphanase tạo nên các sản phẩm chứa gốc Indole. Nếu trong môi trường
có Triptophan, E. coli sẽ lí giải Triptophan thành Indole. Để nhận biết Indole
người ta nhỏ vài giọt thuốc khử Kovac’s, hợp chất Indole với thuốc khử Kovas
có màu đỏ.
Methyl Red (MR): thử nghiệm MR nhằm phân biệt vi sinh vật dựa trên
sự khác biệt về khả năng tạo và duy trì các sản phẩm biến dưỡng có tính axit
bền trong môi trường trong quá trình lên men glucose. Chỉ thị methyl red giúp
phân biệt nồng độ H+ hiện diện trong môi trường sau khi vi sinh vật lên men
glucose. Chỉ thị này thay đổi khác nhau tùy vùng pH hay nồng độ ion H+: đỏ
khi pH thấp hơn 4,4, màu cam khi pH 5,0 - 5,8, vàng khi pH trên 6,0. Nồng độ
ion H+ phụ thuộc vào tỷ lệ CO2, H2 và con đường chuyển hóa đường của từng
vi sinh vật. Trong môi trường glucose, E. coli tạo ra môi trường có H+ cao
(pH< 4,5) cho thuốc thử Methyl Red và môi trường có màu đỏ là phản ứng
dương tính.
Voges - prokauer (Vp): tùy loại enzyme vi khuẩn có được mà quá trình
lên men glucose sẽ cho sản phẩm cuối cùng khác nhau. Một trong số đó là
acetone sẽ tạo phức màu đỏ với thuốc thử α-naphthol và KOH. E. coli có VP
âm tính (không có màu đỏ).
Citrate: trong môi trường Simmons citrate, nguồn cacbon duy nhất là
citrate, vi khuẩn sử dụng citrate sẽ kiểm hóa môi trường làm đổi màu từ màu
xanh lục sang màu xanh lơ E. coli có phản ứng citrate âm tính.

quang hợp).
- Hấp thụ các khí độc H2S, NH3,… làm giảm mùi hôi thối, tạo môi
trường sống trong lành giúp vật nuôi phát triển tốt và hạn chế một số bệnh về
đường hô hấp, tiêu hoá. Đồng thời góp phần cải thiện môi trường cho người
chăn nuôi.
2.2.2 Các nhóm vi sinh vật có trong đệm lót
Lactic acid bacteria group
- Sản sinh ra các acid lactic cải thiện tính năng heo con mới dứt sữa.

6


- Loại trừ độc tố của vi khuẩn mang nguồn bệnh như độc tố vi khuẩn
E.coli, thúc đẩy nhu động đường ruột loại trừ táo bón.
- Ức chế sự trưởng thành của vi khuẩn gây mùi hôi thối trong đường
ruột, đồng thời có tác dụng diệt khuẩn, giảm thiểu tối đa lượng vi khuẩn gây
thối rửa trong chuồng trại.
- Ức chế sản sinh ra vi khuẩn gây bệnh Lactobacillus âm tính ở ruột non.
- Acid lactic cũng có thể hợp thành nhóm vitamin B.
- Phân giải protein, chất hữu cơ, tổng hợp một số vitamin, men tố, kích tố
tăng trưởng giúp tăng tỉ lệ tiêu hoá lên đến 8%, cải thiện khả năng tăng trọng
của con vật và rút ngắn thời gian nuôi dưỡng.
Yeast group (nhóm nấm men)
- Chứa một lượng lớn vitamin, men tố và các thành phần dinh dưỡng
khác, hỗ trợ vi khuẩn có ích trong đường ruột, thúc đẩy sự hấp thụ thức ăn cho
gia súc.
- Sử dụng các chất khoáng như Ca, Mg, K, Zn,… phân giải thành các
chất dễ hấp thụ.
- Tác dụng điều chỉnh độ pH trong đường tiêu hoá.
Actinomyces (nhóm xạ khuẩn)

Khi sử dụng chất lót chuồng vi sinh vật sẽ tạo ra vòng tuần hoàn sinh vật.
Con vật ăn, ở, đi lại và thải phân trên chất lót chuồng sẽ cung cấp dinh dưỡng
cho vi sinh vật sử dụng. Đồng thời vi sinh vật phân giải phân và nước tiểu tạo
thành các chất trao đổi và protein của bản thân chúng. Cung cấp dinh dưỡng
làm tăng dinh dưỡng cho con vật; trợ giúp quá trình tiêu hoá, nâng cao miễn
dịch cho cơ thể con vật. Ngoài ra vi sinh vật sinh trưởng phát triển ở mức độ
nhất định sẽ sinh ra một nhiệt lượng nhất định đảm bảo cung cấp đủ ấm cho
con vật trong mùa đông nhưng không phải quá nhiệt trong mùa hè. Vòng tuần
hoàn được luân chuyển trong thời gian dài tạo ra môi trường không chất thải.
- Yêu cầu nguyên liệu làm chất lót chuồng
Nguyên liệu sử dụng làm chất lót chuồng, nền chuồng phải thoả mãn các
điều kiện sau: Khả năng hút ẩm tốt (khả năng hút ẩm từ 140 – 1200% so với
khối lượng ban đầu của nó); không bị nát vụn, không tạo nhiều bụi, không bị
phân huỷ bởi VSV; giá rẻ, dễ kiếm. Một số nguyên liệu được sử dụng trong
chăn nuôi như mùn cưa (hút ẩm 420%), lõi bắp nghiền (hút ẩm 140 – 150%),
rơm rạ, trấu (hút ẩm 240%), tuy nhiên rơm rạ, lõi bắp thường do bị nhiễm nấm
mốc. Trong thực tế, nguyên liệu sử dụng làm chất lót chuồng lên men vsv tốt
nhất thường là mùn cưa hay dăm bào vì chúng thoả mãn tất cả các điều kiện
trên và ít bị mốc. Hoặc có thể sử dụng hỗn hợp các nguyên liệu gồm mùn cưa
và trấu hoặc dăm bào với tỷ lệ thích hợp. Tuy nhiên khi sử dụng mùn cưa phải
đặc biệt lưu ý lựa chọn mùn cưa có kích thước hạt lớn từ 10 mm để tránh ảnh
hưởng đến đường hô hấp của vật nuôi.
Độ ẩm của lớp đệm lót chuồng thường duy trì ở mức 20 – 25%. Theo các
tác giả, cách kiểm tra độ ẩm của lớp đệm lót đơn giản nhất là nắm chất lót

8


chuồng thặt chặt ttrong bàn tay, nếu chất lót chuồng thành khối kết dính, chắc
thì quá ướt, đệm lót không dính thành khối mà rời ra hoàn toàn là quá khô, đạt

nào có mùi thơm, hơi chua thì đem rắc đều lên toàn bộ bề mặt chất lót chuồng
.

9


Chú ý
- Thực hiện làm chất lót chuồng có diện tích nền chuồng từ 35 – 50m2
phải trộn Balasa No.1 với bột ẩm ủ chỗ ấm để lên men với mục đích là làm
tăng lượng men do đó sẽ làm chất lót chuồng cho diện tích chuồng nuôi rộng
hơn, giảm chi tiền men . Nhưng nếu diện tích chuồng nuôi nhỏ hoặc không
muốn ủ men phức tạp thì rắc men thẳng như cách thứ nhất.
- Làm chất lót chuồng bằng mùn cưa giống như làm bằng trấu. Nếu mùn
cưa khô bụi thì phun nước sạch cho hơi ẩm, nhưng nếu nuôi bằng lồng thì
không cần phun ẩm.
- Nuôi gà đẻ có thời gian nuôi kéo dài thì độ dầy chất lót chuồng có thể
là 15-20 cm
- Nuôi vịt, ngan, thỏ do thải phân có nước nhiều vì vậy nên dùng chất lót
chuồng là mùn cưa hoặc kết hợp với trấu với độ dầy 20-30 cm. Chú ý khi vịt
chăn thả dưới nước lên phải để khô cánh mới cho vào chuồng
2.4 Kỹ thuật làm chất lót chuồng lồng tầng
Đối với chuồng nuôi đã có sẵn, chuồng có khoảng cách giữa đáy lồng
với nền chuồng chỉ khoảng trên dưới 50 cm là có thể làm được chất lót
chuồng. Cách làm như đã hướng dẫn ở trên.
Chú ý: do mật độ gà cao, thải phân nhiều nên cần làm chất lót chuồng
dầy từ 15- 20 cm.
2.5 Vấn đề sử dụng và bảo dưỡng
- Chỉ cần rắc men 1 lần trong suốt quá trình nuôi, nhưng có thể định kỳ
(trên 1 tháng) bổ sung thêm chế phẩm Balasa No.1, bằng cách đem 1 kg chế
phẩm Balasa No.1 trộn đều với 2 kg bột bất kỳ (cám thô, bột sắn, mùn cưa…)

Do chất lót chuồng luôn sinh nhiệt nên ở các mùa có thời tiết mát lạnh
thì nuôi gà rất tốt hoặc ở tháng có nhiệt độ không quá nóng mà có biện pháp
chống nóng tốt cũng sẽ không ảnh hưởng nhiều.
Vấn đề chống nóng cũng không đặt ra đối với úm gà, gà thả vườn, nuôi
gà ở chuồng kín và gà đẻ lồng tầng bởi vì:
Do gà con cần nhiệt độ chuồng nuôi cao nên làm chất lót chuồng chuồng
để úm gà sẽ có được hiệu quả rất tốt ở tất cả các mùa trong năm
Nuôi gà ở chuồng kín do có quạt hút làm hạ nhiệt độ của chuồng nuôi
Nuôi gà đẻ lồng tầng cũng có thể duy trì chất lót chuồng quanh năm do
gà không trực tiếp sống trên đệm lót
Chống nóng trong mùa hè chủ yếu đối với gà nuôi thịt, gà đẻ trên nền
chuồng láng xi măng hoặc lát gạch. Cụ thể cần mở hết cửa cho thông thoáng,
nếu cần phải dùng quạt hơi nước để thoát hơi nóng và làm mát chuồng nuôi.
Trong trường hợp không có biện pháp chống nóng tốt thì trong vài tháng nóng
nhất có thể thực hiện làm chất lót chuồng mỏng hơn để thoát hơi nóng nhanh,
định kỳ thay chất lót chuồng mới (theo Quy trình kỹ thuật sử dụng chế phẩm
Balasa No.1 để tạo đệm lót sinh học nuôi gà, được Cục chăn nuôi (BNN và
PTNT) công nhận theo Quyết định số 263/QĐ-CN-MTCN ngày 09/10/2013)
11


CHƯƠNG 3
PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
Khảo sát các chỉ tiêu vi sinh như: vi khuẩn hiếu khí, Coliforms tổng số,
Ecoli trên chất đệm chuồng không khí trước và sau khi sử dụng men vi sinh.
3.2 Phương tiện nghiên cứu
3.2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: nghiên cứu được tiến hành từ tháng 08 năm 2013
đến tháng 12 năm 2013.

No.1) với 3 lần lặp lại, bố trí 15 con trên lần, mỗi nghiệm thức bố trí 45 con.
Chất đệm chuồng được sử dụng trong nghiên cứu là trấu, độ dày đệm
chuồng ở mỗi nghiệm thức là 7cm đến 8cm. Diện tích mỗi nghiệm thức là
0,8x2m, trên nghiệm thức sử dụng men vi sinh Balasa No.1, sau khi thả gà vào
nuôi được khoảng 7 ngày sẽ được rãi men với lượng men sử dụng là 100g,
trộn với 100g cám.
Thành phần men vi sinh Balasa No.1 gồm có:
Bacllus polymyxa: 5x105 CFU/g
Bac.subtilis: 5x102 CFU/g
Bac. Megatherium: 1,1 x 107 CFU/g
Lac. Plantarum: 1,1 x 107 CFU/g
Nitrosomonas spp: 5 x 10 CFU/g
Saccharomyces cerevieae: 5 x 10 CFU/g
Bảng 1 Cách bố trí thí nghiệm.

Nghiệm thức

Lần1

Lần 2

Lần 3

Tổng

(con)

(con)

(con)



thạch VRBL và 2 đĩa chứa môi trường MC. Thời gian mở nắp: 5 phút cho đĩa
NA, 10 phút cho đĩa VRBL và MC
- Mẫu nền: lấy ở 5 điểm đại diện ở mỗi lô (khoảng 5g) cho vào túi nylon.
- Sau khi lấy mẫu xong, ghi nhãn, xếp vào thùng chứa mẫu và chuyển về
phòng thí nghiệm.

a

b

Hình 1 Cách lấy mẫu không khí chuồng nuôi (a) và mẫu chất lót chuồng (b)
3.3.3 Phương pháp phân lập và nuôi cấy vi khuẩn
Mẫu không khí
Sau khi chuyển mẫu về phòng thí nghiệm, các mẫu không khí được ủ
ngay vào tủ ấm 370C trong 24 giờ. Sau thời gian nuôi cấy, đếm số khuẩn lạc
điển hình trong từng loại môi trường để xác định số lượng từng loại vi khuẩn
tương ứng để tính kết quả.
Số lượng vi sinh vật trong không khí được tính theo công thức của
Omelinski V.L (1941) được trích dẫn bởi Lê Văn Việt Mẫn và Lại Mai
Phương (2006).

Trong đó:
N: tổng số khuẩn lạc trong 1m3 không khí (CFU/m3).

14


A: số khuẩn lạc trong bình đếm được trên 2 đĩa petri chứa cùng một



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status