TCNCYH 29 (3) - 2004
66
Bàn chân khoèo bẩm sinh và điều trị phẫu thuật
ở trẻ còn bú
Nguyễn Ngọc Hng
Khoa Ngoại - Bệnh viện Nhi trung ơng
Bàn chân khoèo bẩm sinh là một biến dạng bẩm sinh thờng gặp nhất. Đã có nhiều kỹ thuật điều
trị bệnh lý này nhng còn cần đợc bàn luận.
Mục đích của chúng tôi: (1) Xác định chỉ định, kỹ thuật phẫu thuật, và (2) Đánh giá kết quả phẫu
thuật.
Đối tợng và phơng pháp: Bao gồm 58 trẻ (20 gái và 38 trai ); tuổi từ 05 tháng đến 24 tháng.
Chúng tôi đã nghiên cứu trên lâm sàng và X quang. Bệnh nhân đã đợc chúng tôi phẫu thuật bằng
việc cắt bao khớp, làm dài Achilles, gân cơ chầy sau và chầy trớc. Kết quả: Tốt 77,1%, Khá: 14,7%
và Kém: 8,2%
Kết luận: ép trong tử cung, thoái hoá cơ, tổn thơng thần kinh có thể là nguyên nhân của bàn
chân khoèo bẩm sinh. Phẫu thuật cho trẻ ở độ tuổi còn bú dễ hơn và cho kết quả tốt hơn trẻ lớn.
Trẻ trên 3 tháng tuổi và đã đợc kéo nắn và bó bột thất bại nên chỉ định phẫu thuật. Kỹ thuật với
trẻ nhũ nhi đơn giản và thu đợc kết quả tốt
i. Đặt vấn đề
Bàn chân khoèo bẩm sinh là một trong
những dị tật cơ quan vận động có tỷ lệ cao
nhất trong số dị tật bẩm sinh trên cơ quan vận
động đợc phẫu thuật, theo Garceau G.J [3]
gặp 26,7%, Zasepin gặp 35,8% [Trích 5]. Cho
tới nay đã có nhiều kỹ thuật điều trị bệnh lý
này nhng chỉ định cho từng kỹ thuật còn có
nhiều tranh luận.
2.4. Phẫu thuật:
- Chỉ định phẫu thuật:
TCNCYH 29 (3) - 2004
67
+ Trẻ có bàn chân khoèo đợc xác định là
bẩm sinh.
+ Có tuổi 4 tháng - 24 tháng.
+ Có hoặc cha điều trị phục hồi chức
năng (băng bột).
+ Bàn chân có biến dạng với Varus thụ
động 15 độ.
Equinus thụ động 20 độ.
- Kỹ thuật phẫu thuật:
+ Cắt rời hoặc nới dài gân cơ chầy sau.
+ Cắt bao khớp Sên-Thuyền-Chêm 1- bàn 1.
+ Nới dài gân Achilles chữ Z hoặc cắt rời.
+ Cắt bao khớp sau nếu bàn chân không.
đa đợc về vị trí trung gian.
2.5. Đánh giá kết quả:
Theo Kapitanakial.1987.
Bảng 1: Đánh giá kết quả theo Kapitanakial.1987 [trích 6]
Chỉ tiêu
Mức độ
Đau khi đi lại Các biến dạng
bàn chân
Biên độ vận động
khớp cổ chân
Tốt Không đau Hết biến dạng 15
o
trái 24 (41,4%).
Hai bên: 21 (36,2%).
Tổng bàn chân có bàn chân khoèo: 79
Mức độ biến dạng bàn chân:
Bảng 3: Biến dạng bàn chân:
Equinus (Thuổng) Varus (Vẹo trong)
Mức độ biến dạng
Chủ động Bị động Chủ động Bị động
45 90
o
74 (93,7%) 43 (54,4%) 66 (83,5%) 19 (24,1%)
10 45
o
05 (06,3%) 34 (43,1%) 13 (16,5%) 51 (64,6%)
Dới 10
o
0 02 (02,5%) 0 09 (11,3%)
Tổng 79 79 79 79
2. Kết quả trên X quang
- Kết quả đo đợc trên film thẳng góc trục
xơng sên- xơng gót.
< 25 độ - 15 độ: 56 (70,9%).
15 độ - 0 độ: 23 (29,1%).
TCNCYH 29 (3) - 2004
68
- Kết quả đo đợc trên film góc trục xơng
sên- xơng bàn I
5. Kết quả điều trị.
Chúng tôi đã đánh giá đợc 42 bệnh nhân
(72,4%) với 61 bàn chân.
- Thời gian đánh giá kết quả:
Từ 12 tháng - < 3 năm: 19/61 (31,1%).
3 năm - 6 năm: 37/61 (60,7%).
> 6 năm: 5/61 (8,2%).
- Kết quả:
Tốt: 47 (77,1%).
Khá: 09 (14,7%).
Kém: 05 (8,2%).
iv. bàn luận
1. Phẫu thuật
1.1. Chỉ định phẫu thuật
Với trẻ dới 24 tháng tuổi thờng phẫu
thuật giản đơn hơn do lứa tuổi này tình trạng
cơ thoái hoá cha nặng nề, tổ chức dây
chằng bao khớp cũng cha có hẹp và biến
dạng xơng cha nặng nề. Bởi vậy, chúng tôi
chỉ phẫu thuật cho những bệnh nhân cha
đợc điều trị bảo tồn, hoặc sau điều trị bảo
tồn mà biến dạng thụ động Equinus trên 15
o
và Varus trên 10
o
.
Với một số trờng hợp đã đợc nắn và bó
bột ngay sau khi sinh nếu với thay bột hai
tuần một lần và sau 6-7 lần mà kết quả kém
nhận thấy bằng mắt thờng khó có thể phát
hiện tổn thơng gân và với kết quả giải phẫu
bệnh cũng đã chứng minh cho điều kiện này.
Trong một số trờng hợp nhất là với những
trờng hợp có biến dạng varus nặng, trong
trờng hợp có cứng dính khớp nhiều nơi chúng
tôi thấy nên thực hiện làm dính khớp gót hộp
sớm hoặc bằng làm xẹp xơng hộp với việc
mở nắp xơng hộp, lấp bỏ xơng xốp theo kỹ
thuật của HUNG N.N 1988. Đây là kỹ thuật
đơn giản và cho kết quả tốt sau phẫu thuật.
2. Biến chứng.
Biến chứng mà chúng tôi gặp hoại tử da
mặt trớc cổ chân (16,5%), tỷ lệ này thấp hơn
hẳn so với số trẻ đợc phẫu thuật bàn chân
khoèo ở độ tuổi lớn hơn (trên 24 tháng).
Nguyên nhân có thể do sự gập da khi đa bàn
chân từ vị trí thuổng về vị trí trung gian. Nhằm
khắc phục tình trạng này có tác giả đã đề nghị
ngay sau mổ cha đa bàn chân về ngay vị trí
có thể đạt đợc mà vẫn giữ ở vị trí thuổng [8,
10]. Sau 3-5 ngày, dới gây mê mới thực hiện
đa bàn chân về vị trí mong muốn. Chúng tôi
thờng áp dụng biện pháp dự phòng với những
bàn chân có biến dạng nặng bằng đặt bột
trớc khi phẫu thuật 7 ngày. Ngay khi đặt bột
sau mổ nên có một chêm bột mặt trớc cổ
chân, hy vọng da vùng mặt trớc cổ chân cũng
giảm đợc tình trạng gấp.
Một số biến chứng khác cũng có thể xẩy
3. Garceau G.J: Anterior Tibial Tendon
Transfer for Recurrent Clubfoot. Clin Orthop
1972;84:61.
4. Irani RN, Sherman MS. The
Pathological Anatomy of Clubfoot. J Bone
Joint Surg Am 1972;45:45.
5. Kite H.J: Nonoperative Treatment of
Congenital Clubfoot. Clin Orthop 1972;84:29.
6. Lichtblau S: A Medial and Lateral
Release Operation for Clubfoot. A Preliminary
Report. J Bone Joint Surg Am 1973;55:1377.
7. McHale K.A, Lenhart M.K: Treatment of
Residual Clubfoot Deformity -The Bean-
Shaped Foot-By Opening Wedge Medial
Cuneiform. Osteotomy and Closing Wedge
Cuboid Osteotomy. J Pediatr Orthop
1991;11:374.
8. Poseti I.V, Smoley E.M: Congenital
Clubfoot: The Results of Treatment. J Bone
Joint Surg Am 1963;45:261.
9. Simons G.W. Complete Subtalar
Release in Clubfeet. Part I. J Bone Joint Surg
Am 1985;67:1044.
10.Turco V.J. Surgical Correction of the
Resistant Clubfoot. J Bone Joint Surg Am
1971; 53:477.
TCNCYH 29 (3) - 2004
70
Summary