LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP: " THỬ NGHIỆM CÁC LOẠI KÍCH DỤC TỐ KHÁC NHAU TRONG SINH SẢN CÁ VÀNG (Carassius auratus)" pot - Pdf 11

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

ĐỖ MINH PHƯƠNG THỬ NGHIỆM CÁC LOẠI KÍCH DỤC TỐ KHÁC
NHAU TRONG SINH SẢN CÁ VÀNG
(Carassius auratus)

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
BÙI MINH TÂM


ii

TÓM TẮT

Cá Vàng là một trong những loại cá cảnh được nuôi phổ biến nhất hiện nay, ngoài
nhu cầu giải trí nó còn góp phần làm cho không gian sống trở nên đẹp và sống
động hơn. Tuy nhiên, việc sinh sản của chúng còn mang tính tự nhiên nên vấn đề
về con giống còn nhiều hạn chế. Nhằm mục đích làm tăng số lượng và chất lượng
con giống đáp ứng vấn đề về con giống trên thị trường, đề tài này đã được thực
hiện. Đề tài tiến hành gồm 4 thí nghiệm
Thí nhiệm 1: sử dụng LRH-a +DOM với các liều lượng tương ứng là 80, 100, 120
µg LRH-a và 1 viên DOM. Cả 3 nghiệm thức cá đều sinh sản với tỷ lệ 66,67%.
Trong đó liều lượng 120 µg có sức sinh sản cao nhất 23.657 trứng/ kg cá cái, liều
80µg có tỷ lệ thụ tinh cao nhất (74,5%) và tỷ lệ nở cao nhất (48,43%) ở liều 120
µg.
Ở thí nghiệm 2, cá không sinh sản với kích dục tố HCG ở mức liều lượng 1.000,
1.500, 2.000 UI/kg cá cái.
Thí nghiệm 3: Sử dụng HCG với các liều lượng 2.000, 2.500, 3.000 UI/kg cá cái.
Thu dược kết quả không cao, chỉ có 2 cặp ở liều lượng 2.000 và 2.500 UI sinh
sản, với tỷ lệ cá đẻ là 33,33%.
iv

DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1: Đặc điểm bên ngoài của cá Vàng 3
Hình 3.1: Não thùy 14
Hình 3.2: Thuốc kích dục tố HCG 14
Hình 3.3: Thuốc kích dục tố LRH-a 14
Hình 3.4: Domperidon 14
Hình 3.5:Ao nuôi vỗ cá bố mẹ 15
Hình 3.6: Phân biệt cá đực cá cái 15
Hình 3.7: Vị trí tiêm cá 16
Hình 3.8: Bố trí cá sinh sản 17
Hình 4.1: So sánh tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở ở các mức độ LRH-a 22
Hình 4.2: So sánh tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở ở các mức độ não thùy 25
Hình 4.3: So sánh sức sinh sản ở các mức độ não thùy 26

vi
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm tạ i
Tóm tắt ii
Danh mục từ viết tắt iii
Danh sách hình iv
Danh sách bảng v
Chương 1: Giới thiệu 1
Chương 2: Tổng quan tài liệu 3
2.1 Đặc điểm sinh học của cá vàng 3
2.1.1 Đặc điểm hình thái và phân loại 3
2.1.2 Đặc điểm phân bố 5
2.2 Đặc điểm dinh dưỡng 6
2.3 Đặc điểm về sinh trưởng 7

1
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU

Ngày nay, do nhu cầu đời sống vật chất con người phát triển, cùng với óc thẩm
mỹ và nhu cầu giải trí ngày càng tăng, việc nuôi cá cảnh đã trở thành thú vui và là
niềm đam mê phổ biến của toàn xã hội. Trong thế giới cá cảnh, ngoài những loài
cá có hình dáng đẹp và có giá trị kinh tế cao như: cá Dĩa, La Hán, Neon, cá
Xiêm…thì cá Vàng là loài cá được nuôi phổ biến nhất. Cá Vàng được nuôi đầu
tiên ở Trung Quốc, trải qua hàng ngàn năm, đến nay cá Vàng đã có mặt khắp nơi
trên thế giới. Với hơn 125 chủng loại, đa dạng về hình dáng, màu sắc đã góp
phần làm cho không gian sống trở nên đẹp, tinh tế và sống động hơn.
Cá Vàng còn được cho là loại cá phong thủy, nên từ rất lâu bể nuôi cá Vàng đã
tồn tại nhằm mang lại sự may mắn và hạnh phúc cho con người. Bên cạnh đó,cá
Vàng là loại cá cảnh để thưởng thức, hình dáng chúng dễ thương, với nhiều màu
sắc khác nhau, bơi lội chậm rãi trông rất đẹp mắt. Chính những yếu tố này đã làm
nên giá trị của loài cá Vàng và làm cho con người yêu thích chúng.
Hiện nay, cá Vàng tuy được nuôi phổ biến, rộng rãi nhưng việc sinh sản của
chúng còn mang tính tự nhiên, chưa chủ động được nguồn giống cả về số lượng
và chất lượng. Trong khi đó, tại thị trường trong nước và quốc tế cá Vàng đã phát
triển thành một mặt hàng xuất khẩu cao cấp, ngày càng có nhu cầu lớn về số
lượng, chất lượng và chủng loại mới. Trên cơ sở đó, đề tài: “Thử nghiệm các
loại kích dục tố trong sinh sản cá Vàng (Carassius auratus) được thực hiện
nhằm mục đích đáp ứng được phần nào nhu cầu về con giống trên thị trường.


3
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Đặc điểm sinh học của cá vàng
2.1.1 Đặc điểm hình thái và phân loại
Tên khoa học: Carassius auratus
Lớp: Actinopterygii
Bộ: Cypriniformes
Họ: Cyprinidae
Giống: Carassius (Linnaeus,1758)
Hình 2.1: Đặc điểm bên ngoài của cá vàng
Theo Bùi Minh Tâm (2007) cá vàng có nguồn gốc như sau:
Cá vàng (Carassius auratus) là một dạng đột biến của cá diếc bạc. Trong thiên
nhiên, cá diếc có màu lục nhạt. Do kết quả chọn lọc lai tạo, nuôi dưỡng trong
những điều kiện nhân tạo khác nhau, từ thế kỷ XII ở Trung Quốc (triều đại Nam
Tống 1127-1279) và sau đó ở Nhật Bản (từ 1502), ở Anh (1794), ở Mỹ
(1878),…,cá diếc bạc ban đầu đã biến đổi dần về hình thái và màu sắc thành
nhiều chủng loại (tới 300 loại) rất đa dạng. Theo sử sách Trung Quốc, sự xuất
hiện của cá vàng được ghi nhận như sau:

mềm và gợn sóng như vải trùm hay voan. Mắt bị biến dạng và trở thành lồi, dạng
trứng hay hình nón. Các dạng khác là số lượng bướu lấm tấm, mềm, có màu sắc
thay đổi và bao phủ trên đầu, trên mõm và khe mang.
Các tiêu chuẩn phân loại cá vàng thường gặp
Theo Bùi Minh Tâm (2007) phân loại cá vàng như sau
Theo dạng thân:
Thân hình trứng: đại diện nhóm này có cá ông thọ với đặc điểm cá không có vây
lưng, mắt thường, không lồi. Về mặt di truyền, người ta cho rằng loại này có gen
nửa gây chết không cho lai được.
Thân hình cầu: cơ thể tròn, đại diện là cá hoá long, có vây lưng.
Thân dài: cơ thể thon dài, đại diện là cá sao chổi.
Theo vẩy: cá có vẩy phủ toàn thân thường gặp phổ biến, hoặc cá có vẩy nổi lên
lốm đốm trên toàn thân như ngọc trai. 5
Theo dạng đầu:
Đầu có bướu: chúng còn được gọi là cá có mào. Đại diện là cá đầu lân, mõm
bằng, trên đầu có u thịt, nhưng vẩy không nổi lên, thân tròn ngắn, mắt bình
thường. Đặc biệt cho nhóm này có loài rất có giá trị là cá sư tử hí cầu do trước
miệng có u như đoá hoa. Khi hô hấp làm hai đóa hoa phất phơ như sư tử hí cầu.
Đầu không bướu: rất thường gặp, không có giá trị kinh tế.
Theo mắt:
Mắt lồi: đại diện cho nhóm này có hắc mẫu đơn đẹp với thân đen tuyền. Đặc biệt
trong nhóm này cá có thủy phao nhãn, có hai mắt to lồi và phồng lên, có những
đường gân máu.
Mắt thường: nhóm này chỉ có cá vàng đầu lân là có giá trị.
Theo dạng vây đuôi:
Cá đuôi voan: có vây đuôi xẻ nhiều thùy kéo dài uyển chuyển.
Cá đuôi quạt: có đuôi ngắn và xòe rộng.

(Vương Trung Hiếu, 2007).
2.2 Đặc điểm dinh dưỡng:
Theo Bùi Minh Tâm (2007), cá vàng là loài ăn tạp, cá ăn được các thức ăn tươi
sống như: trùn chỉ, lăng quăng, trùn quế… và thức ăn viên (có độ đạm từ 20%)
trở lên. Cá rất phàm ăn và ăn nhiều lấn trong một ngày. Tuy nhiên, cá vàng cũng
như nhiều loài cá khác, sẽ ăn nhiều hơn nhu cầu thực sự của chúng nếu người ta
cho chúng ăn thoải mái hơn. Điều này có thể gây nguy hiểm cho ruột cá, việc cho
cá ăn quá nhiều có thể gây tai hại, nhất là sự nổ ruột. Chỉ cần cho cá vàng ăn
trong mức chúng có thể ăn từ 1-2 phút và không nên cho ăn nhiều hơn 2 lần/ngày
(Vương Trung Hiếu, 2007).
Theo Đức Hiệp (2000), giun tươi là thức ăn tốt nhất cho cá, làm cá tăng trưởng
nhanh, khỏe, đẹp, nhất là cá vàng đầu sư tử. Thức ăn bằng giun có một hàm lượng
abumin (lòng trắng trứng) và chất mỡ. Giun tốt thường có màu đỏ đậm, mỗi lần
cho cá ăn một lượng vừa đủ, không nên thừa thãi. Nuôi cá vàng bằng thức ăn hỗn
hợp hiệu quả cũng cao, trừ trường hợp do thời tiết phức tạp hoặc do bảo quản
không tốt làm chất lượng giảm hoặc thức ăn bị hỏng gây bệnh cho cá, năng suất
nuôi giảm sút.
Thức ăn trong các giai đoạn phát triển
Cá bột: vừa nở ra khỏi trứng, cá con dài từ 0,2-0,9cm. Khi đó, cơ quan tiêu hoá
chưa phát triển hoàn toàn. Sau khi nở 2-3 ngày, cá tiêu hoá hết noãn hoàn và bắt
đầu ăn thức ăn ngoài. Thức ăn trong tuần lễ đầu thường là phiêu sinh động vật có
kích thước nhỏ như Moina, sau đó tiếp tục cho ăn trùn chỉ cắt nhỏ (Bùi Minh
Tâm, 2007).
Cá con: khoảng một năm sau, thân cá từ 1cm phát triển thành 6-8cm, nếu nuôi tốt
cá có thể dài tới 10cm. Giai đoạn này cá ăn tạp, chính trong giai đoạn này chọn
cho cá thức ăn phù hợp với mật độ sinh trưởng và sức khỏe của cá, cá sẽ phát

7
triển tốt.Thức ăn thích hợp với cá con là giun nước, hồng trần, rêu cỏ tăng khả
năng tiêu hoá và hấp thụ. Ngoài ra, có thể lấy lòng đỏ trứng luộc chín sắc nhuyễn

bụng to hẳn so với bình thường, lỗ sinh dục màu đỏ sẫm và hơi lồi ra. Cá có tập

8
tính đẻ trứng dính vào giá thể là lục bình, rong nhân tạo hay sợi nylon. Khi sinh
sản cá đực rượt đuổi theo cá cái, cá cái chui rút vào rễ lục bình, co mình và quậy
mạnh tiết trứng. Trong lúc đó cá đực bơi sát cá cái, dùng các nốt sần cọ vào đầu,
bụng cá cái và đồng thời tiết tinh dịch thụ tinh trứng. Người ta dùng kích dục tố là
não thùy cá chép hay Ovaprim để thúc đẩy quá trình chín sinh dục xảy ra đồng
loạt. Liều lượng kích dục tố là 1,6-2 não/kg (não thùy) cá vàng bố mẹ hay
Ovaprim 0,3 ml/kg.
Cá sinh sản hầu như quanh năm nhưng tập trung vào mùa mưa tháng 4-8. Cá đẻ
nhiều đợt. Lượng trứng khoảng 1.000-10.000 trứng cho mỗi cá cái. Trong khi đó
theo Nguyễn Sơn Hải (2005)cá sáu tháng tuổi đã bắt đầu thành thục, sức sinh sản
của cá cái có thể đạt từ 300-5.000 trứng/lứa. Theo Đức Hiệp (2000), cá một năm
tuổi thường có 1.000-1.500 trứng, cá ba năm tuổi có tới 7 vạn – 8 vạn trứng.Cá
nuôi vỗ tốt có thể tái thành thục sau 15 ngày. Thức ăn nuôi vỗ thường là cung
quăng, trùn chỉ và thức ăn viên. Cần nuôi vỗ đực cái riêng và mật độ 2-5con/m
2
.
Trứng sau khi thụ tinh có màu trong suốt bám vào giá thể. Lúc này cần đem cá bố
mẹ ra ngoài hay vớt giá thể đem ấp sang nơi khác, vì cá bố mẹ sẽ ăn lại trứng và
cá bột. Tùy thuộc vào nhiệt độ mà thời gian nở khác nhau, thường dao động từ
36-48 giờ ở nhiệt độ 28-30
o
C (Bùi Minh Tâm, 2007).
2.5 Phòng bệnh cho cá
Khi thay đổi môi trường sống của cá, trong quá trình vận chuyển cần phải nhẹ
nhàng, tránh lắc mạnh vì cá còn yếu. Theo Đức Hiệp (2000), đặc biệt đối với cá
có trứng, cần phải vận chuyển hoàn toàn khéo léo và cẩn thận vì trứng cá lúc này
chưa tới độ chín, chưa tới kỳ sinh đẻ của cá, rất dễ gây tử vong.

C, cần phải
tăng nhiệt độ nước lên tới 2-10
o
C mới đảm bảo an toàn. Đây là thời điểm không
cần thay nước nhiều, một tháng thay một lần là đủ. Tránh thay nước lạnh, có va
chấn động hoặc có độc tố, thời tiết, để thêm nước hoặc thay nước, kịp thời cứu
chữa. Khi phát hiện thấy cá rời đàn, quan sát kỹ nếu thấy cá mắc bệnh hoặc bị
thương, phải tìm mọi biện pháp cấp cứu. Có thể dùng bàn tay úp vỗ lên mặt nước
xem phản ứng của cá, nếu cá vẫn tiếp tục nổi là nước bị ô nhiễm nghiêm trọng,
cần thay bớt nước bẩn bằng nước sạch, hút đáy bẩn hoặc giảm lượng thức ăn cho
vào hồ.
Chú ý quan sát nếu thấy có cá chết nổi lên mặt hồ phải tìm nguyên nhân và có
hướng khắc phục cụ thể. Quan sát màu nước trong hay đục, nếu phát hiện có mùi
hôi thối hoặc có mùi vị lạ cần tháo nước cho nhanh, thay nước sạch mới, khử
nguyên nhân gây ô nhiễm. Ở hồ nuôi lớn, cần có một máy bơm nước thường trực,
đảm bảo mức nước không thấp dưới 1,00 m. Trời quá nóng hay quá lạnh, đều
phải kéo mái che cho không ảnh hưởng đến nhiệt độ hồ cá, đảm bảo cuộc sống
bình yên nơi nuôi dưỡng ( Đức Hiệp, 2000).
2.6 Các chất kích thích sinh sản ở cá
2.6.1 HCG (Human Chorionic Gonadotropine)
HCG có tên tiếng việt là kích dục tố màng đệm hoặc kích dục tố nhau thai, được
Zondec và Aschheim phát hiện từ năm 1927 trong nước tiểu của người phụ nữ có
thai từ 2-4 tháng là một polypeptide có trọng lượng phân tử 36.000, nó được tiết
ra từ màng đệm của nhau thai (Eskin, 1968 trích dẫn bởi Phan Văn Kỳ, 2003).

10
Khi dùng chỉ cần pha với nước cất hoặc nước muối sinh lý. HGC có tác dụng
chuyển hóa buồng trứng và gây rụng trứng
Sử dụng HCG liều 5.000-10.000 UI/kg trên cá he vàng thì không có tác dụng
trong sinh sản của loài cá này (Phan Văn Kỳ, 2003).

11
2.7 Một số thử nghiệm sinh sản sử dụng kích dục tố ở các loài cá khác
Theo Phạm Văn Khánh (2002-2005), Cá Cóc (Cyclocheilichthys enoplos,
Bleeker,1850), kết quả thử nghiệm cho thấy sử dụng não thùy liều sơ bộ cho cá
cái là 1-2,5 mg/kg; liều quyết định 3-705 mg/kg. Dùng kết hợp LRH-a
(Lutenizing hormone-Releasing hormone analog) với não thùy ở liều quyết định
là 1-3 mg não thùy + 130-150 µg LRH-a trộn tương ứng với 5-7,5 DOM. Kích
dục tố dùng cho cá đực bằng 1/3 liều lượng của cá cái. Cá rụng trứng sau liều
tiêm quyết định từ 5-6 giờ.
Cá Lăng Chấm (Hemibagrus guttatus, Lacépede,1803), Nguyễn Đức Tuân (2004)
dùng các loại kích dục tố LRH-a, Domperidon, HCG, não thùy. Thực hiện tiêm 2
lần cách nhau 23-25 giờ. Liều lượng tiêm cho cá đực bằng 1/3 cá cái. Liều tiêm
cho lần 1 bằng 1/5 tổng liều. Năm 2004, họ đã sử dụng công thức này và thử
nghiệm thêm công thức 20 µg LRH-a + 6 DOM/kg cá cái, để kích thích cá bố mẹ
sinh sản và đã 2 lần thu được tỷ lệ cá đẻ 100%, tỷ lệ thụ tinh trung bình cao nhất
đạt 84,70%, tỷ lệ nở cao nhất 72,47% và tỷ lệ dị hình thấp nhất 9,38%. Năng suất
ra bột cao nhất trong các lần cho đẻ là 2690,06 cá bột/kg cá cái, thấp nhất 69,29
cá bột/kg cá cái.
Theo Võ Minh Khôi (2007), trong sinh sản nhân tạo cá lóc bông (Channa
micropeltes), cá lóc bông đực cần tiêm trước cá cái từ 2-4 ngày, liều lượng HCG
cần tiêm cho cá đực nằm trong khoảng 2000-3000 UI/kg cá đực. Tỷ lệ thụ tinh
trung bình của cá lóc bông theo phương pháp này đạt từ 58,43-79%. Tỷ lệ nở
91,14-95,56%. Đối cá cái liều lượng 1000UI sẽ cho sinh sản tốt hơn liều 1500UI.
Theo Ngô Vương Hiếu Tính (2008) kích dục tố là HCG chưa cho kết quả gây
rụng trứng trong việc kích thích sinh sản nhân tạo cá Leo ở mức liều lượng là
2000, 3000, 4000 UI/kg cá cái. Các mức liều lượng kích dục tố HCG + não thùy
(4000 UI/kg), LRH-a + DOM (150 µg/kg) hoặc não thùy (8, 9, 10 mg/kg) có thể
sử dụng để kích thích sinh sản cá Leo. Trong thí nghiệm này sử dụng kích dục tố
não thùy cá chép với liều lượng 10 mg/kg cá cái cho hiệu quả cao nhất với mức
sinh sản đạt 118.683 trứng/kg cá cái, tỷ lệ thụ tinh đạt 59,34% và tỷ lệ nở đạt
13
CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Nội dung
Thử nghiệm kích thích sinh sản cá vàng bằng các loại kích dục tố HCG, LRH-a,
não thùy thể với các nồng độ khác nhau.
3.2 Thời gian và địa điểm
Thời gian: thời gian nghiên cứu từ 02/2009 đến 07/2009
Địa điểm nghiên cứu: tại Trại Cá Thực Nghiệm, Bộ môn Kỹ Thuật Nuôi Cá Nước
Ngọt, Khoa Thủy Sản, Đại học Cần Thơ.
3.3 Vật liệu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: cá vàng, được mua từ cửa hàng cá cảnh tại Cần Thơ, cá có
ngoại hình tốt, không dị tật, dị hình, dị dạng.
Cá có trọng lượng từ 70-95 g/con.
Dụng cụ:
+ Nhiệt kế
+ Bể kính, vợt
+ Cối nghiền thuốc, kim tiêm, ống tiêm.
+ Cân đồng hồ
+ Các bể ấp, bể đẻ (hồ, thau…)
+ Hệ thống cấp thoát nước, sục khí

Thức ăn: thức ăn viên (độ đạm 30%), trùn chỉ.
Lượng thức ăn giảm dần vào cuối giai đoạn thành thục.

Cá cái Cá đực
Hình 3.5:Ao nuôi vỗ cá bố mẹ
3.4.2 Bố trí thí nghiệm
Chọn cá bố mẹ:
Cá cái có bụng to, mềm, có kích thước lớn và lỗ huyệt nở to hơn so với cá đực.
Cá đực có tinh dịch đặc, màu trắng sữa, dễ chảy ra ngoài mỗi khi vuốt nhẹ bụng,
có những nốt sần màu trắng trên nắp mang và mép của vây ngực.

Cá cái (lỗ sinh dục nở to hơn) Cá đực (lỗ sinh dục nhỏ hơn)

Hình3.6: Phân biệt cá đực cá cái

16
Tiêm kích dục tố
+ Các thí nghiệm được bố trí với 3 lần lặp lại ở mỗi nghiệm thức.
+ Liều của cá đực bằng 1/3 liều của cá cái.
+ Vị trí tiêm: ở gốc vi bụng.
+ Sau khi tiêm thuốc, cá được đưa vào bể đẻ với tỷ lệ đực cái là 1:1, có sục khí
liên tục, có rễ lục bình làm giá thể. Hình 3.7: Vị trí tiêm cá 17

Hình 3.8: Bố trí cá sinh sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status