Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ths_ Lê Duy Thành
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
…………………………ngày … tháng … năm 2013
Giảng viên
SVTH: Ngô Khắc Mạnh MSSV:11004953
1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ths_ Lê Duy Thành
A. LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Cạnh tranh là cơ chế vận hành chủ yếu của kinh tế thị trường, là động lực
thúc đẩy phát triển kinh tế. Đối với mỗi chủ thể kinh doanh, cạnh tranh tạo sức
ép hoặc kích ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong sản xuất, cải tiến
công nghệ, thiết bị sản xuất và phương thức quản lý nhằm nâng cao chất lượng
tranh tương đối của công ty.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Về mặt lý luận: trên cơ sở vận dụng đường lối chính sách của Đảng, Nhà
nước về phát triển kinh tế xã hội và các văn bản pháp quy về luật cạnh
tranh.
- Phương pháp nghiên cứu: phương pháp duy vật biện chứng kết hợp các
phương pháp điều tra, khảo sát số liệu, phân tích – tổng hợp, tham khảo ý
kiến của các chuyên gia…
5. Ý nghĩa và mục đích phân tích
Dựa trên hệ thống hóa lý luận về khả năng cạnh tranh của công ty để nâng
cao khả năng cạnh tranh cho công ty. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao
khả năng cạnh tranh cho công ty cổ phần Thanh Hoa Sông Đà.
SVTH: Ngô Khắc Mạnh MSSV:11004953
3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ths_ Lê Duy Thành
SVTH: Ngô Khắc Mạnh MSSV:11004953
4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ths_ Lê Duy Thành
6. Cấu trúc đề cương.
Chương I: Cơ sở lý luận
Chương II: Thực trạng và khả năng cạnh tranh của công ty cổ phần
Thanh Hoa Sông Đà
Chương IIIGiair pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty cổ
phần Thanh Hóa Sông Đà
SVTH: Ngô Khắc Mạnh MSSV:11004953
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ths_ Lê Duy Thành
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Các khái niệm cạnh tranh
1.2. Các loại hình cạnh tranh
1.2.1. Căn cứ vào đối tượng cạnh tranh: 2 loại
1.2.1.1. Cạnh tranh giữa những người bán với nhau.
Là cuộc cạnh tranh chính và khốc liệt nhất trong nền kinh tế thị trường. Nó
có ý nghĩa sống còn đối với các chủ doanh nghiệp. Cạnh tranh giữa những người
bán điều chỉnh cung cầu hàng hoá trên thị trường. Khi cung một hàng hoá nào
đólớn hơn cầu thì cạnh tranh giữa những người bán làm cho giá cả hàng hoá đó
giảm xuống, chỉ những doanh nghiệp nào đủ khả năng cải tiến công nghệ, trang bị
kỹ thuật, phương thức quản lý và hạ được giá bán sản phẩm mới có thể tồn tại. Kết
quả để đánh giá doanh nghiệp nào chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này là tăng
lợi nhuận, tăng doanh số và thị phần. Trong nền kinh tế thị trường, việc cạnh tranh
là hiện tượng tất yếu không thể tránh khỏi đối với bất kỳ doanh nghiệp nào.
Thực tết cho thấy cạnh tranh giữa những người bán với nhau sẽ đem lại lợi ích
cho người mua và trong quá trình ấy những doanh nghiệp nào không có chiến lược
cạnh tranh thích hợp thì sẽ bị gạt ra khỏi thị trường và đi đến phá sản. Nhưng mặt
khác sẽ có những doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh nhờ nắm chắc “Vũ khí” cạnh
tranh thị trường và dám chấp nhận “luật chơi” phát triển.
1.2.1.2. Cạnh tranh giữa những người mua
Là cuộc cạnh tranh trên cơ sở quy luật cung cầu, khi một loại hàng hoá,
dịch vụ nào đó mà mức cung nhỏ hơn mức cầu thì cuộc cạnh tranh càng trở nên
quyết liệt và giá hàng hoá, dịch vụ đó sẽ càng tăng. Kết quả cuối cùng là người bán
thu được lợi nhuận cao, còn người mua phải mất thêm một số tiền. Khi đó người
kinh doanh sẽ đầu tư vốn xây dựng thêm cơ sở sản xuất mới hoặc nâng cao năng
lực sản xuất của những cơ sở sản xuất sẵn có. Đó là động lực quan trọng nhất làm
tăng thêm lượng vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực sản xuất
trong toàn xã hội. Điều quan trọng là động lực đó hoàn toàn tự nhiên, không theo
và không cần bất kỳ một mệnh lệnh hành chính nào của các cơ quan quản lý Nhà
nước.
1.2.2. Căn cứ vào mức độ cạnh tranh trên thị trường: 3 loại
SVTH: Ngô Khắc Mạnh MSSV:11004953
phẩm thuần nhất hoặc nhiều người bán một loại sản phẩm không đồng nhất. Họ
có thể kiểm soát gần như toàn bộ số lượng sản phẩm hay hàng hoá bán ra trên
thị trường. Thị trường này có pha trộn giữa độc quyền và cạnh tranh, được gọi
là thị trường cạnh tranh độc quyền. ở đây xảy ra cạnh tranh giữa các nhà độc
SVTH: Ngô Khắc Mạnh MSSV:11004953
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ths_ Lê Duy Thành
quyền. Điều kiện ra nhập hoặc rút lui khỏi thị trường cạnh tranh độc quyền có
nhiều trở ngại do vốn đầu tư lớn hoặc do độc quyền về bí quyết công nghệ. Thị
trường này không có cạnh tranh về giá cả, mà một số người bán toàn quyền
quyết định giá cả. Họ có thể định giá cao hơn, điều này tuỳ thuộc vào đặc điểm
tiêu dùng của từng sản phẩm, mục đích cuối cùng là họ thu được lợi nhuận tối
đa. Những doanh nghiệp nhỏ tham gia thị trường này thường phải chấp nhận
bán hàng theo giá cả của Nhà độc quyền. Trong thực tế có thể có tình trạng độc
quyền xảy ra nếu không có sản phẩm nào thay thế sản phẩm độc quyền hoặc khi
các nhà độc quyền liên kết với nhau. Độc quyền gây trở ngại cho sự phát triển
và làm thiệt hại đến người tiêu dùng. Vì vậy, hiện nay ở một số nước đã có luật
chống độc quyền nhằm chống lại sự liên minh độc quyền giữa các nhà kinh
doanh.
1.3. Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế: 2 loại
1.3.1. Cạnh tranh trong nội bộ ngành
Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ một loại
hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó. Trong cuộc cạnh tranh này các chủ doanh nghiệp
thôntính nhau. Những doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động
của mình trên thị trường. Những doanh nghiệp thu cuộc sẽ phải thu hẹp kinh
doanh, thậm chí bị phá sản.
1.3.2. Cạnh tranh giữa các ngành
Là sự cạnh tranh giữa các chủ doanh nghiệp trong các ngành kinh tế
khácnhau nhằm giành lấy lợi nhuận lớn nhất. Trong quá trình cạnh tranh này,
cácchủ doanh nghiệp luôn say mê với những ngành đầu tư có lợi nhuận nên
Bao gồm các yếu tố nội tại trong doanh nghiệp, đôi khi hoàn cảnh nội
bộ được gọi là môi trường nội bộ hoặc môi trường kiểm soát được.
1.5. Phân tích môi trường và dự báo diễn biến môi trường kinh doanh
Phân tích môi trường và dự báo diễn biến môi trường kinh doanh nhằm
khai thác triệt để những mặt mạnh và hạn chế tối đa những yếu điểm của doanh
nghiệp nhằm thực hiện tốt nhất mục tiêu đã đề ra, đồng thời nắm bắt các cơ hội
SVTH: Ngô Khắc Mạnh MSSV:11004953
10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ths_ Lê Duy Thành
và giảm thiểu các nguy cơ do môi trường tạo nên, đặcbiệt là trong nền kinh tế
thị trường đầy biến động hiện nay.
Để có thể có được những quyết định đúng và kịp thời, các nhà quản trị
doanh nghiệp cần có hệ thống thông tin thích hợp và đúng lúc. Nội dung chính
của hệ thống này gồm các bước:
- Thiết lập nhu cầu thông tin.
- Thiết lập hệ thống thu nhập thông tin.
- Dự báo diễn biến môi trường kinh doanh.
1.5.1. Thiết lập nhu cầu thông tin
1.5.1.1. Xác định nhu cầu thông tin
Doanh nghiệp cần phải xác định số lượng và loại thông tin nào cần thu
thập, thời gian và giới thiệu kinh phí nhằm thoả mãn tốt nhất các nhu cầu cụ
thể, khi soạn thảo quyết định. Cần thu thập các thông tin, dữ liệu sau:
- Bảng tổng hợp điều kiện môi trường vĩ mô
- Bảng tổng hợp môi trường tác nghiệp.
- Hoàn cảnh nội bộ
- Bảng thông tin về đối thủ cạnh tranh.
- Bảng tổng hợp thông tin về khách hàng.
- Bảng tổng hợp thông tin về người cung cấp hàng.
Việc xác định nhu cầu thông tin là cơ sở cho việc tìm kiếm thông tin sau này,
nó giúp giảm nhẹ tình trạng thiếu thông tin hay thông tin không thích hợp cho việc
nhiệm, xây dựng một cơ chế hữu hiẹu cho công tác thu thập thông tin và thông
qua quyết định để phổ biến thông tin trong toàn doanh nghiệp.
*Thông tin về cạnh tranh
Doanh nghiệp có thể có cái nhìn thấu suất bằng cách theo dõi các tín
hiệu thị trường của đối thủ cạnh tranh. Tín hiệu thị trường là bất kỳ hành động
nào của đối thủ cạnh tranh, trực tiếp hoặc gián tiếp cho thấy ý định, động cơ,
mục đích hoặc tìnhhình nội bộ của họ. Có mấy loại tín hiệu thị trường chủ yếu
của đối thủ cạnh tranh:
- Thông báo trước
- Công bố sau
-Thảo luận hoặc nhận xét công khai.
- Tổ chức hội nghị
- Điều chỉnh căn bản do chệch hướng.
- Để lộ chiến thuật dự bị
- Đối phó chéo
SVTH: Ngô Khắc Mạnh MSSV:11004953
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ths_ Lê Duy Thành
- Đối diễn võ dương oai
- Kiện tụng
* Thông tin về nguồn nhân lực
Thông tin về nguồn nhân lực cung cấp cho nhà quản trị về quy mô, đặc
điểm của thị trường hiện có, đánh giá năng lực và chi phí nhân công đối với các
phương án chiến lược khác nhau của doanh nghiệp.
* Thông tin sản xuất
Bộ phận sản xuất chịu trách nhiệm cung cấp nhiều thông tin cho lãnh đạo
doanh nghiệp, trước hết là các dữ liệu liên quan đến giá thành sản xuất baogồm:
Đánh giá triển vọng giá thành dựa trên dự báo về điều kiện môi trường liên
quan, dự báo về chi phí căn cứ vào thay đổi nội bộ đã được đề xuất và các chi
phí liên quan căn cứ vào nguyên liệu, nhân sự và thiết bị tương tự được sử dụng
nghiên cứu những biểu hiện bên ngoài và tiếp tục đi sâu vào các thói quen và
quan điểm thông thường của nhân viên mà bình thường không nhận ra được.
b. Vận hành hệ thống thu thập thông tin theo dõi môi trường kinh doanh
Mục đích của việc theo dõi môi trường kinh doanh là nhằm xác định chiều
hướng, mức độ, tốc độ và biên độ của sự thay đổi trong các ảnh hưởng môi trường.
Việc nhận biết các yếu tố này giúp ta xác định được khả năng tác động của biến
đổi môi trường và các nỗ lực chiến lược của doanh nghiệp. Một công việc quan
trọng trong hệ thống thu thập thông tin là phổ biến chúng. Vì vậy doanh nghiệp cần
đảm bảo cho các kênh truyền đạt thông tin nội bộ luôn luôn mở . Ngoài ra cần phải
nắm được thông tin nào là cần thiết với một hình thức đúng, tránh trường hợp quá
thông tin và tạo điều kiện cho người sử dụng thông tin.
SVTH: Ngô Khắc Mạnh MSSV:11004953
15
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ths_ Lê Duy Thành
1.5.1.5. Dự báo diễn biến môi trường kinh doanh
a. Quan điểm của chuyên viên
Chọn những người am hiểu và đề nghị họ đánh giá về tầm quan trọng và
xác xuất các diễn biến khác nhau có thể xảy ra trong tương lai.
b. Ngoại suy xu hướng
Nhà nghiên cứu dụng các đường cong phù hợp nhất theo chuỗi thời gian
trong quá khứ làm cơ sở cho phép ngoại suy, phương pháp này có độ tin cậy
thấp.
c. Liên hệ su hướng
Nhà nghiên cứu liên hệ nhiều chuỗi thời gian khác nhau để tìm ra mối quan
hệ cần dự báo.
SVTH: Ngô Khắc Mạnh MSSV:11004953
16
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ths_ Lê Duy Thành
d. Mô hình hoá năng lượng
Lập ra các hệ phương trình nhằm mô tả hệ thống bên dưới, trong đó các hệ
biện pháp đó có thể là thông qua chiến lược mới, thông qua mục tiêu mới và chiến
lược tương ứng hoặc chức năng, nhiệm vụ mới cùng với các mục tiêu và chiến
lược liên quan. Các chiến lược đề ra dựa trên cơ sở dự báo về môi trường. Để đề
phòng dự báo không chính xác, doanh nghiệp cần đề ra chiến lược với một độ linh
hoạt và có tính dự phòng
1.5.1.8. Theo dõi và cập nhật hệ thống thông tin quản lý
Doanh nghiệp phải không ngừng theo dõi hệ thống thông tin quản lý để
đảm bảo chắc chắn là hệ thống này hoạt động như dự kiến, nếu có trục chặc thì có
thể điều chỉnh kịp thời
1.5.2. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp
a. Yếu tố Chính phủ và chính trị:
Thị trường có tác dụng như một “bàn tay vô hình” điều tiết nền kinh tế.
Song nếu chỉ phó mặc cho thị trường thì dễ bị đi đến khủng hoảng thừa hoặc
khủng hoảng thiếu. ở đây rất cần một “Bàn tay hữu hình” can thiệp, hướng dẫn
nền kinh tế đi theo mục tiêu, chiến lược đã chọn. Đó chính là sự điều tiết của
Nhà nước. Vì vậy, yếu tố Chính phủ và chính trị có ảnh hưởng ngày càng lớn
đến hoạt động của doanh nghiệp. Sự ổn định chính trị của đất nước, trong đó có
sự ổn định của Chính phủ là tiền đề cho sự ổn định của các hoạt động kinh tế.
Ngoài ra các công cụ quản lý vĩ mô của Chính phủ như:
- Quy định về chống độc quyền
- Luật bảo vệ môi trường
- Thuế
- Các chế độ đãi ngộ đặc biệt.
- Quy định về thuê mướn và khuyến mãi.
SVTH: Ngô Khắc Mạnh MSSV:11004953
18
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ths_ Lê Duy Thành
Luôn tạo ra các cơ hội và nguy cơ cho doanh nghiệp, nhằm hướng chúng theo
một quỹ đạo cần thiết.
d. Quyền lực của nhà cung cấp:
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải quan hệ
với các tổ chức cung cấp các nguồn hàng khác nhau như: vật tư, máy móc thiết
bị,nguồn tài chính, nguồn nhân lực Người cung ứng vật tư, thiết bị sẽ tận
dụng mọi ưu thế để tăng thêm lợi nhuận cho mình thông qua việc tăng giá, giảm
chất lượng sản phẩm hoặc giảm dịch vụ đi kèm. Giữa nhà cung cấp và doanh
nghiệp thường diễn ra các cuộc thương lượng về giá cả, chất lượng và thời gian
giao hàng. Khả năng thương lượng về giá cả của các nhà cung cấp tuỳ thuộc
vào mức gộp và chất lượng hàng hoá (hay dịch vụ) mà họ dự định cung ứng cho
doanh nghiệp. Những ưu thế và đặc quyền của nhà cung ứng cho phép họ có
những ảnh hưởng nhất định đối với doanh nghiệp. Họ có rất nhiều cách để tác
động vào khả năng thu lợi nhuận của các doanh nghiệp. Họ có thể nâng giá,
giảm chất lượng những loại vật tư, thiết bị mà họ cung ứng hoặc không đảm
bảo đúng tiến độ cung cấp theo yêu cầu của doanh nghiệp. Các nhà cung cấp có
thế lực cung cấp có thế lực mạnh khi họ có những điều kiện sau:
- Độc quyền cung cấp một loại vật tư thiết yếu cho doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp không phải là khác hàng quan trọng của nhà cung cấp.
- Loại vật tư cung cấp là yếu tố đầu vào quan trọng, quyết định rất lớn đến hiệu
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hoặc đến chất lượng sản phẩm của
doanh nghiệp.
e. Yếu tố công nghệ
Hầu như ngành công nghiệp nào, doanh nghiệp nào cũng phụ thuộc vào
cơ sở công nghệ. Các công nghệ tiên tiến liên tục ra đời tạo ra cơ hội cũng như
nguy cơ đối với các ngành, các doanh nghiệp. Các nhà nghiên cứu và chuyển
giao công nghệ hàng đầu đang lao vào công việc tìm tòi các giảipháp kỹ thuật
mới nhằm giải quyết các vấn đề còn tồn tại và xác định các côngnghệ có thể
khai thác trên thị trường. Cũng như các sản phẩm hàng hoá, công nghệ cũng có
chu kỳ sống. Muốn đạt được kết quả tốt hơn, doanh nghiệp phải nghiên cứu,
SVTH: Ngô Khắc Mạnh MSSV:11004953
20
hay thất bị của doah nghiệp. Con người cung cấp dữ liệu đầu vào để hoạch định
mục tiêu, phân tích môi trường, lựa chọn, thực hiện và kiểm tra chiến lược kinh
doanh của doanh nghiệp. Cho dù các quan điểm của hệ thống chiến lược tổng
quát có đúng đắn đến mức độ nào đi chăng nữa thì cũng không thể mang lại
hiệu quả nếu không có những con người làm việc có hiệu quả. Đánh giá nguồn
nhân lực của doanh nghiệp thể hiện ở trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của bộ
máy quản lý từ Giám đốc doanh nghiệp đến cán bộ kỹ thuật, trình độ tay nghề
và ý thức trách nhiệm của công dân.
* Cán bộ lãnh đạo
- Phải là người có trình độ, có khả năng nhận thức, nắm bắt được các quy luật
khách quan và vận dụng các quy luật đó vào hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
- Phải có khả năngdẫn dắt tập thể lao động trong doanh nghiệp theo đúng pháp
luật, tạo đủ công ăn việc làm và cuộc sống ổn định cho tập thể người lao động.
- Có thể chọn và tạo một êkíp chỉ đạo, vận hàng doanh nghiệp theo đúng dự
kiến của mình.
* Cán bộ điều hành và quản lý kỹ thuật:
Một doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả đòi hỏi cán bộ điều hành và cán bộ
quản lý kỹ thuật phải có những phẩm chất sau:
-Hiểu rõ ý đồ của cấp trên để tự giác thực hiện nghiêm túc nhằm đạt được mục
tiêu chung đã đề ra.
- Năng động, sáng tạo trong điều hành thiết kế tổ chức thi công đã vạch ra.
- Có kinh nghiệm quản lý, điều hành thi công, nắm vững kỹ thuật. Năng lực tài
chínhNăng lực tài chính thể hiện ở quy mô nguồn vốn tự có, khả năng huy động
các nguồn vốn khác cho sản xuất kinh doanh và hiệu quả sử dụng các nguồn
vốn đó. Mặt khác để đánh giá khả năng tài chính của doanh nghiệp cần xem xét
giữa vốn cố định và vốn lưu động với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ xây dựng.
Vớikhả năng tài chính dồi dào, doanh nghiệp có thể tham gia đấu thầu nhiều
công trình khác nhau, có nhiều cơ hội để đầu tư trang thiết bị thu công nhằm
SVTH: Ngô Khắc Mạnh MSSV:11004953
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA
CÔNG TY
2.1. Giới thiệu tổng quát về tình hình của công ty
Công ty CP Thanh Hoa Sông Đà
- Tên, hình thức tổ chức
- Xí nghiệp Thương mại-Dịch vụ số 2
- Trụ sở tại: 301 Trần phú – TP.Thanh hoá
- Điện thoại: 0373.3852204 Fax: 0373.3753190
- Email:
- Website: www.Thanhhoasongda.com.vn
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Công ty CP Thanh Hoa Sông Đà có tiền thân là Công ty công nghệ phẩm
Thanh Hóa, được cổ phần hóa theo Nghị định 64/CP của chính phủ. Trong
những năm 70-80 của thế kỷ XX, công ty thực hiện nhiệm vụ theo cơ chế kế
hoạch mua bán nhà nước giao. Cuối những năm 80 trong tình hình chung về
chuyển đổi cơ cấu kinh tế, công ty gặp không ít khó khăn khi vươn lên đứng
vững trong cơ chế thị trường.
Ngày 15 tháng 09 năm 2003 theo QĐ 2941/QĐ/UB của UBND tỉnh
Thanh Hóa về việc phê duyệt phương án chuyển Công ty công nghệ phẩm
Thanh Hóa thành Công ty cổ phần, với hình thức cổ phần hóa là : Bán toán
bộ vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Vốn điều lệ là 5 tỷ đồng.
Do nhu cầu bức thiết phải đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, cửa hàng theo
quyết định của tỉnh trước đó. Với số vốn hạn chế hiện có khi thành lập, Hội
đồng quản trị công ty quyết định phải nâng vốn điều lệ lên 10,1 tỷ đồng.
Ngày 15/05/2004 Đại hội cổ đông thành lập Công ty CP Thanh Hoa
Sông Đà theo Giấy chứng nhận kinh doanh số 2603000166 do Sở kế hoạch
và Đầu tư Thanh hóa cấp ngày 19/05/2004 với số vốn điều lệ là 10,1 tỷ
đồng.
Hiện nay công ty có trụ sở chính đặt tại Số 25 Đại lộ Lê Lợi – Thành
phố Thanh Hóa, công ty có tổng diện tích đất là 10.000m2 và tổng số lao
25