BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
CƠ SỞ THANH HÓA- KHOA KINH TẾ
BÁO CÁO THỰC TẬP
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ KINH
DOANH BẤT ĐỘNG SẢN
Giáo viên hướng dẫn : TH.S. PHẠM VĂN THẮNG
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN BÁ GIANG
Mã số sinh viên : 11037353
Lớp : NCQT5TH
Thanh Hóa, tháng 03 năm 2013
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo hướng dẫn, các anh chị trong Công ty tôi đã
chọn đề tài: “Phân tích tình hình tài chính của Công ty cổ phần Thanh Hoa
Sông Đà”.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích cơ bản của việc phân tích báo cáo tài chính nhằm cung cấp những
thông tin cần thiết giúp các đối tượng sử dụng thông tin đánh giá khách quan về
sức mạnh tài chính của doanh nghiệp, khả năng sinh lời và triển vọng phát triển sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Bởi vậy ,phân tích báo cáo tài chính là mối quan
tâm của nhiều đối tượng sử dụng thông tin khác nhau, như :Hội đồng quản trị ,Ban
giám đốc ,các nhà đầu tư ,các nhà cho vay,các nhà cung cấp ,các chủ nợ ,các cổ
đông hiện tại và tương lai các khách hàng ,các nhà quản lý cấp trên ,các nhà bảo
hiểm ,người lao động ,…Mỗi một đối tượng sử dụng thông tin của doanh nghiệp
có những nhu cầu về các loại thông tin khác nhau .Bởi vậy,mỗi một đối tượng sử
dụng thông tin có xu hướng tập trung vào khía cạnh riêng của bức tranh tài chính
doanh nghiệp.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của phân tích báo cáo tài chính là hệ thống thông tin
kế toán đã được trình bày trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp , nhằm cung
cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin về luồng vào và ra của tiền trong kỳ hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Phân tích các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính nhằm phản ánh sự
biến động (tăng hay giảm) về quy mô, cơ cấu tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp.
Phân tích tình hình biến động quy mô kết quả sản xuất kinh doanh, tình hình dịch
chuyển các luồng tiền vào và ra trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, so sánh hiệu quả sản xuất kinh doanh nhằm cung cấp đầy đủ nhất và toàn
diện nhất những thông tin-cơ sở đánh giá thực trạng tình hình hoạt động sản xuất
kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp . Đồng thời, để nắm được một
cách đầy đủ thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như
tình hình sử dụng tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp cần thiết phải đi sâu phân
tích mối quan hệ và tình hình biến động của các khoản, các mục trên từng báo cáo
Điều kiện so sánh:
Chỉ tiêu kinh tế được hình thành trong cùng một khoảng thời gian như nhau:
Chỉ tiêu kinh tế phải thống nhất về mặt nội dung và phương pháp tính toán.
Chỉ tiêu kinh tế phải cùng đơn vị đo lường.
Cùng quy mô hoạt động với điều kiện kinh doanh tương tự nhau.
Tiêu chuẩn so sánh: là các chỉ tiêu được chọn làm căn cứ so sánh (kỳ gốc)
Các phương pháp so sánh thường sử dụng
So sánh tương đối: phản ánh kết cấu mối quan hệ tốc độ phát triển và mức
độ phổ biến của các chỉ tiêu kinh tế
So sánh tuyệt đối: Cho biết khối lượng, quy mô doanh nghiệp đạt được từ
các chỉ tiêu kinh tế giữa kỳ phân tích và kỳ gốc.
So sánh bình quân: Cho biết khả năng biến động của một bộ phận, chỉ tiêu
hoặc nhóm chỉ tiêu.
Phương pháp chi tiết hoá chỉ tiêu phân tích:
Để phân tích một cách sâu sắc các đối tượng nghiên cứu, không thể chỉ dựa
vào các chỉ tiêu tổng hợp, mà cần phải đánh giá theo các chỉ tiêu cấu thành của chỉ
tiêu phân tích. Thông thường trong phân tích việc chi tiết chỉ tiêu phân tích được
tiến hành theo các hướng sau.
Chi tiết theo bộ phận cấu thành chỉ tiêu:
Chi tiết theo thời gian chi tiết : theo thời gian giúp cho việc đánh giá kết quả
sản xuất kinh doanh được chính xác, tìm được các giải pháp có hiệu quả cho công
việc sản xuất kinh doanh, tuỳ theo đặc tính của quá trình kinh doanh, tuỳ theo nội
dung kinh tế của các chỉ tiêu phân tích, tuỳ mục đích phân tích khác nhau có thể
lựa chọn khoảng thời gian cân chi tiết khác nhau và chỉ tiêu chi tiết khác nhau.
Chi tiết theo địa điểm :là xác định các chỉ tiêu phân tích theo các địa điểm
thực hiện các chỉ tiêu đó .
6. Cấu trúc đề cương
Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích tài chính
Chương 2: Thực trạng về tình hình tài chính của công ty giai đoạn 2009-
2011
tài sản, tình hình nguồn vốn, tình hình và kết quả sản xuất kinh doanh trong một
thời kì nhất định, phân tích tình hình thực trạng của doanh nghiệp.
Các chỉ tiêu, các số liệu trên các báo cáo tài chính là những cơ sở quan trọng
để tính ra các chỉ tiêu kinh tế khác, giúp cho việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn,
hiệu quả của các quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy có thể nói hệ thống báo cáo tài chính là “bức tranh sinh động nhất”,
đầy đủ nhất, nó cung cấp toàn bộ những thông tin kế toán hữu ích, giúp cho việc
phân tích tình trạng tài chính của doanh nghiệp. Đồng thời, phản ánh khả năng huy
động mọi nguồn vốn và quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong thời
gian tới.
1.3. Ý nghĩa và mục đích của phân tích tình hình tài chính.
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp hay cụ thể hoá là quá trình phân
tích báo cáo tài chính doanh nghiệp là quá trình kiểm tra đối chiếu, so sánh các số
liệu, tài liệu và tình hình tài chính hiện hành và trong quá khứ nhằm mục đích đánh
giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như rủi ro trong tương lai. Báo cáo tài
chính là những báo cáo tổng hợp nhất là về tình hình tài sản, vốn và công nợ cũng
như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Do đó, việc
thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ cung cấp thông tin cho
người sử dụng từ các góc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, vừa tổng hợp khái
quát, lại vừa xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính của doanh nghiệp để
nhận biết phán đoán và đưa ra quyết định tài chính, quyết định đầu tư và quyết
định tài trợ phù hợp. Phân tích tình hình tài chính thông qua các báo cáo tài chính
của doanh nghiệp là mối quan tâm của nhiều nhóm người. Nhà quản lý, các nhà
đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ, các khách hàng, các nhà cho vay tín dụng, các cơ
quan chính phủ và người lao động Mỗi một nhóm người này có nhu cầu thông tin
khác nhau.
Đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp mối quan
tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ. Một doanh nghiệp
bị lỗ liên tục, sẽ bị cạn kiệt nguồn lực và buộc phải đóng cửa. Mặt khác nếu doanh
nghiệp không có khả năng thanh toán cũng buộc phải đóng cửa.
sở hữu, các khoản nợ, kết quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, sự kiện
và các tình huống làm biến đổi các nguồn vốn và các khoản nợ của doanh nghiệp.
1.5. Nội dung của phân tích báo cáo tài chính
Hoạt động tài chính của doanh nghiệp là một trong những nội dung rất cơ
bản của hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh tế
phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và được biểu hiện
dưới hình thái tiền tệ. Hay nói cách khác, tài chính doanh nghiệp lả những quan hệ
tiền tệ gắn liền với việc tổ chức, huy động, phân phối, quản lý và sử dụng vốn
trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, trước hết và bao giờ cũng đòi hỏi các
doanh nghiệp có một lượng vốn nhất định, bao gồm:vốn chủ sở hữu, các quỹ xí
nghiệp, vốn vay và các loại vốn khác.Quản trị doanh nghiệp có nhiệm vụ tổ chức
huy động mọi nguồn vốn cần thiết, đáp ứng về mọi nhu cầu về vốn cho sản xuất
kinh doanh. Đồng thời, tổ chức phân phối, quản lý và sử dụng vốn hiện có sao cho
hợp lý nhất để đạt được hiệu quả cao nhất trên cơ sở chấp hành các chế độ, chính
sách, quản lý kinh tế-tài chính và kỷ luật thanh toán của nhà nước.Bởi vậy, việc
thường xuyên phân tích báo cáo tài chính nhằm cung cấp thông tin cho các đối
tượng sử dụng, giúp họ đánh giá chính xác thực trạng tài chính, xác định rõ những
nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tình hình hoạt động tài
chính-khâu trung tâm của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là
một vấn đề có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong công tác quản lý kinh tế .Trên cơ sở
đó, giúp các nhà quản trị doanh nghiệp đề ra các giải pháp hữu hiệu nhằm không
ngừng nâng cao sức mạnh tài chính,góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Phân tích hệ thống chỉ tiêu thông tin kế toán đã được trình bày trên
từng báo cáo tài chính doanh nghiệp, như:
Phân tích bảng cân đối kế toán
Phân tích báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Phân tích thuyết minh baó cáo tài chính
sản của doanh nghiệp bằng vốn chủ sở hữu.
Hệ số tài sản Tài sản
so với = = k
vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu
k <1:DN sử dụng cả vốn CSH nợ phải trả để tài trợ TS
k >1: mức độ sử dụng nợ phải trả càng cao
Phân tích khả năng thannh toán
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát:là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh
toán chung của doanh nghiệp trong kỳ kế toán
Hệ số khả năng Tổng số tài sản
thanh toán = = k
tổng quát Tổng số nợ phải trả
k ≥ 1: bảo đảm được khả năng thanh toán
k <1 : không bảo đảm được khả năng thanh toán
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn:là chỉ tiêu cho thấy khả năng đáp
ứng nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là cao hay thấp.
Hệ số Tài sản ngắn hạn
thanh toán nợ = = k
ngắn hạn Tổng số nợ ngắn hạn
k ≥ 1: bảo đảm được khả năng thanh toán
k <1 : không bảo đảm được khả năng thanh toán
Hệ số khả năng thanh toán nhanh : với giá trị còn lại của tài sản ngắn
hạn(sau khi đã loại trừ giá trị hàng tồn kho là bộ phận có khả năng chuyển đổi
thành tiền chậm nhất trong toàn bộ tài sản ngắn hạn),doanh nghiệp có khả năng
trang trải toàn bộ nợ ngắn hạn hay không.
Hệ số khả năng Tài sản ngắn hạn - Hàng tồn kho
thanh toán = = k
nhanh Tổng số nợ ngắn hạn
k ≥ 1: bảo đảm được khả năng thanh toán
k <1 : không bảo đảm được khả năng thanh toán
Cố định Tài sản cố định đã và đang đầu tư
k ≥ 1: bảo đảm được khả năng thanh toán
k <1 : không bảo đảm được khả năng thanh toán
Phân tích khả năng sinh lời: có thể sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau ,trong
đó chủ yếu là các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu ,khả năng
sinh lợi kinh tế của tài sản và khả năng sinh lợi của doanh thu.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA
CÔNG TY GIAI ĐOẠN 2011-2013
2.1. Giới thiệu tổng quát về tình hình tại công ty
2.1.1. Qúa trình hình thành và phát triển của công ty
2.1.1.1. Qúa trình hình thành công ty
Công ty CP Thanh Hoa Sông Đà có tiền thân là Công ty công nghệ phẩm Thanh
Hóa, được cổ phần hóa theo Nghị định 64/CP của chính phủ. Trong những năm
70-80 của thế kỷ XX, công ty thực hiện nhiệm vụ theo cơ chế kế hoạch mua bán
nhà nước giao. Cuối những năm 80 trong tình hình chung về chuyển đổi cơ cấu
kinh tế, công ty gặp không ít khó khăn khi vươn lên đứng vững trong cơ chế thị
trường.
Ngày 15 tháng 09 năm 2003 theo QĐ 2941/QĐ/UB của UBND tỉnh Thanh Hóa về
việc phê duyệt phương án chuyển Công ty công nghệ phẩm Thanh Hóa thành Công
ty cổ phần, với hình thức cổ phần hóa là : Bán toán bộ vốn nhà nước tại doanh
nghiệp. Vốn điều lệ là 5 tỷ đồng. Mang lại lợi nhuận cho công ty và góp phần xây
dựng thành phố Thanh Hóa ngày một giàu mạnh.
2.1.1.2. Qúa trình phát triển công ty
Do nhu cầu bức thiết phải đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, cửa hàng theo quyết
định của tỉnh trước đó. Với số vốn hạn chế hiện có khi thành lập, Hội đồng quản trị
công ty quyết định phải nâng vốn điều lệ lên 10,1 tỷ đồng.
Ngày 15/05/2004 Đại hội cổ đông thành lập Công ty CP Thanh Hoa Sông Đà theo
Giấy chứng nhận kinh doanh số 2603000166 do Sở kế hoạch và Đầu tư Thanh hóa
cấp ngày 19/05/2004 với số vốn điều lệ là 10,1 tỷ đồng.
Hiện nay công ty có trụ sở chính đặt tại Số 25 Đại lộ Lê Lợi – Thành phố Thanh
-Xí nghiệp TMDV số 2 .Địa chỉ:301 Trần Phú TPTH.
Bán buôn các loại mặt hàng như :điện lạnh, nội thất, văn phòng
phẩm ,bảo hộ lao động…….
-Siêu Thị Sông Đà. Địa chỉ :25 Đại lộ Lê Lợi TPTH.
Chủ yếu bán lẻ với rất nhiều các loại mặt hàng đa dạng về mẫu mã,
kiểu dáng,kích thước ,chủng loại…
-Một số đại lý,cửa hàng thuộc các xí nghiệp TMDV đặt tại các huyện
thị trong tỉnh.
Hàng hóa nhập về theo đơn đặt hàng sẽ được phân loại và phân bổ
cho các đơn vị theo đúng chức năng và ngành hàng.
Với kiểu cơ cấu này có một số thuận lợi và khó khan như sau:
* Thuận lợi
-Các đơn vị có thể tập trung khai thác triệt để lợi thế ngành hàng của
mình.
-Thuận lợi trong việc phân tích, đánh giá mặt mạnh, mặt yếu một
cách cụ thể đối với từng ngành hàng, từng lĩnh vực kinh doanh.
* Khó khăn
Tuy nhiên do đặc điểm công ty có nhiều xí nghiệp , chi nhánh và
nhiều cửa hàng nên khó khăn trong việc quản lý, giám sát.
Cơ cấu sản xuất của doanh nghiệp là cơ sở để xây dựng cơ cấu bộ
máy quản trị.Do tính chất phức tạp của cơ cấu sản xuất tại công ty CP
Thanh Hoa Sông Đà nên bộ máy quản trị của công ty được tổ chức
theo kiểu trực tuyến-chức năng.
2.1.2.2. Đặc điểm quản lý tại công ty
Công ty CP Thanh Hoa Sông Đà gồm Đại hội đồng cổ đông mà Hội
đồng quản trị là cơ quan thường trực ,Tổng giám đốc điều hành ,hệ
thống các phòng ban chức năng và các xí nghiệp hợp nhất thành một
pháp nhân duy nhất là Công ty CP Thanh Hoa Sông Đà.
Sơ đồ bộ máy quản trị
2.2.3 Sơ Đồ Bộ Máy Quản Trị