Danh mục từ viết tắt
BBT Ban Bí th
BCH Ban Chấp hành
BCT Bộ Chính trị
BTV Ban Thờng vụ
CLB Câu lạc bộ
CNCS Chủ nghĩa cộng sản
CNXH Chủ nghĩa xã hội
DNT Doanh nhân trẻ
ĐVTN Đoàn viên thanh niên
LHTN Liên hiệp thanh niên
NQ Nghị quyết
RLĐV Rèn luyện đoàn viên
SV Sinh viên
TDTT Thể dục thể thao
TNCS Thanh niên cộng sản
TNTP Thiếu niên tiền phong
TTN Thanh thiếu niên
TƯ Trung ơng
VHVN Văn hoá văn nghệ
Phần mở đầu
I. Đặt vấn đề.
1. Thanh niên là lực lợng xã hội to lớn. Thanh niên Việt Nam hiện có
khoảng 27.533.211 ngời, chiếm 36% dân số toàn quốc, trong đó thanh niên
1
là lực lợng lao động thờng xuyên là 20.211.288 ngời chiếm 55,5% lực lợng
lao động xã hội. Trong công cuộc đổi mới đất nớc hiện nay, thanh niên đã có
những bớc trởng thành to lớn, có trình độ học vấn, nghề nghiệp, là lớp ngời
trẻ tuổi, giàu ớc mơ, hoài bão, u thích sự đổi mới, có khát vọng lập nghiệp,
làm giàu chính đáng. Thanh niên cũng là lớp ngời năng động, sáng tạo, tiếp
cận nhanh với khoa học công nghệ, họ thực sự đi đầu trong sự nghiệp công
chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho thanh niên là nhiệm vụ hàng đầu
của tổ chức Đoàn, Hội trong giai đoạn hiện nay Chất lợng cơ sở là trọng
tâm, cán bộ là then chốt, đoàn kết, tập hợp thanh niên là nhiệm vụ hàng
đầu
2
.
Tuy nhiên đứng trớc yêu cầu của thời kỳ mới, công tác thanh niên nói
chung, công tác vận động thanh niên của Đoàn nói riêng đã và đang phải đối
mặt với không ít khó khăn, thách thức. Ngày nay, trình độ học vấn của thanh
niên cao hơn, nhu cầu và định hớng giá trị của thanh niên có những thay đổi,
điều kiện sống của thanh niên cũng đợc cải thiện. Chính vì vậy, phơng pháp
và cách thức vận động thanh niên cần đợc đổi mới theo hớng thiết thực, đa
dạng, hấp dẫn phù hợp với lợi ích, nhu cầu, tâm t nguyện vọng của thanh
niên nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nớc. Chỉ có nh vậy, chúng ta nới
có thể vận động và khơi dậy đợc những tiềm năng to lớn trong thanh niên,
1
NQ4, BCHTW Đảng khoá VII
2
Văn kiện Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ VIII.
2
phát huy trí tuệ của thanh niên, tạo sức mạnh chung cho khối đại đoàn kết
dân tộc, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nớc.
3. Thực tế cho thấy, trong những năm qua do ảnh hởng của mặt trái cơ
chế thị trờng, một bộ phận thanh niên đã có những biểu hiện sa sút về lập tr-
ờng, t tởng, đạo đức, thiếu tính xung kích trong các hoạt động xã hội; còn
sống ỷ lại, thiếu ý chí phấn đấu, thích hởng thụ, thậm chí sa vào các tệ nạn
xã hội, đang là vấn đề thách thức của toàn xã hội, trong đó có vai trò của
Đoàn thanh niên. Mặt khác, các thế lực thù địch đã và đang tìm cách lôi kéo
thanh niên, nắm lấy thanh niênhòng thực hiện âm mu Diễn biến hoà
3
IV. Phạm vi và địa bàn nghiên cứu.
1. Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung, phơng thức vận động
thanh niên của Đoàn trong giai đoạn 2000-2004.
2. Địa bàn nghiên cứu.
Đề tài tiến hành nghiên cứu tại 3 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Nam Định,
Bình Dơng.
V. Phơng pháp nghiên cứu.
Đề tài sử dụng các phơng pháp sau:
1. Thu thập tài liệu, số liệu có liên quan, phân tích, hệ thống hoá, tổng
hợp các tài liệu, số liệu thống kê phục vụ mục đích nghiên cứu của đề tài.
2. Phơng pháp điều tra xã hội học:
- Điều tra khảo sát bằng trng cầu ý kiến 600 đoàn viên, thanh
niên trong nhà trờng.
- Điều ra khảo sát bằng phiếu trng cầu ý kiến 200 cán bộ lãnh
đạo Đoàn, Hội, cấp tỉnh, thành phố, huyện.
- Phỏng vấn sâu: Cán bộ lãnh đạo Đoàn, Hội (10 cuộc).
- Thảo luận nhóm: 2 cuộc/địa bàn x 3 tỉnh, thành phố = 6
cuộc
3. Phơng pháp tổ chức toạ đàm, trao đổi lấy ý kiến chuyên gia về những
vấn đề liên quan phục vụ mục đích nghiên cứu.
VI. Cơ quan chủ trì, phối hợp và các thành viên tham
gia
1. Cơ quan chủ trì nghiên cứu.
- Viện Nghiên cứu Thanh niên
2. Cơ quan phối hợp.
- Ban Mặt trận Trung ơng Đoàn
- Các tỉnh, thành Đoàn
3. Các thành viên tham gia.
trởng thành
4
. Khái niệm này bao gồm 2 ý: thanh niên là ngời có độ tuổi còn
trẻ và đang trởng thành. Thanh niên là một nhóm ngời, "một lớp cắt ngang
của xã hội" ở một độ tuổi nhất định, không phụ thuộc vào thành phần dân
tộc, tôn giáo, vùng miền, đợc nhìn nhận ở dới nhiều góc độ khác nhau, từ
triết học, xã hội học, tâm lý học, góc độ luật pháp
Từ các phân tích này, thanh niên có thể đợc hiểu là một nhóm nhân
khẩu - xã hội đặc thù, bao gồm những ngời trong một độ tuổi nhất định, có
quan hệ gắn bó mật thiết với mọi giai cấp, tầng lớp xã hội, có mặt trong mọi
lĩnh vực hoạt động xã hội, có vai trò to lớn trong hiện tại và giữ vai trò quyết
định sự phát triển trong tơng lai của xã hội. Điều này cũng có nghĩa: Thanh
niên không phải là một giai cấp mà là một tầng lớp xã hội đặc thù, có độ tuổi
nhất định, có những đặc điểm đặc trng khác với các lứa tuổi khác về tâm lý,
sinh lý, có tâm t, nguyện vọng, có nhu cầu và hoài bão, khát vọng theo lứa
tuổi và giới.
Luật Thanh niên Việt Nam quy định độ tuổi của thanh niên là từ đủ 16
đến 30 tuổi.
3
Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà nẵng 2004, tr. 337, 210
4
Sđd, tr. 289
5
3. Công tác vận động thanh niên:
Theo Từ điển tiếng Việt thì công tác đợc hiểu là "công việc của nhà n-
ớc, của đoàn thể" hoặc "thực hiện công việc của nhà nớc, của đoàn thể"
5
.
Nh vậy công tác vận động thanh niên có thể đợc hiểu là công việc của nhà n-
ớc, của đoàn thể hay thực hiện công việc của nhà nớc, đoàn thể. Khái niệm
của tuổi trẻ.
- Vận động thanh niên thông qua rèn luyện đoàn viên, công tác cán bộ
và xây dựng tổ chức.
- Vận động thanh niên tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng
chính quyền và các đoàn thể nhân dân.
- Vận động thanh niên thông qua công tác quốc tế của Đoàn.
4. Đổi mới công tác vận động thanh niên của Đoàn:
4.1. Đổi mới:
5
Sách đã dẫn, tr 458
6
Đổi mới theo từ điển tiếng Việt là Thay đổi cho khác hẳn với tr ớc,
tiến bộ hơn, khắc phục tình trạng lạc hậu, trì trệ và đáp ứng yêu cầu của sự
phát triển
6
. Theo Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Nh ý chủ biên là
thay đổi hoặc làm cho thay đổi tốt hơn, tiến bộ hơn so với trớc
7
.
Theo cả hai cách hiểu trên, đổi mới là sự thay đổi trên cơ sở kế thừa và
phát triển trên nền tảng cái cũ. Trong xã hội, mọi sự vật, hiện tợngđều tồn
tại ở ba trạng thái: quá khứ, hiện tại và tơng lai là một quá trình diễn biến
liên tục, kế thừa nhau. Đổi mới là khắc phục tình trạng lạc hậu, trì trệ trong
quá khứ và hiện tại để phát huy cái tốt, cái tiên tiến trong tơng lai nhằm đáp
ứng các yêu cầu của sự phát triển.
4.2.Đổi mới công tác vận động thanh niên của Đoàn :
Từ khái niệm đổi mới có thể khái quát đổi mới công tác vận động
thanh niên nh sau: Đổi mới công tác vận động thanh niên là xem xét công
tác vận động thanh niên trong thời gian qua có những u điểm, hạn chế gì, từ
đó phát huy những u điểm và khắc phục hạn chế để nâng cao hiệu quả công
6
Sách đã dẫn, trang 241
7
Đại từ điển tiếng Việt. Nxb Văn hoá Thông tin 1998.
8
C.Mác và Ph. Ăngghen toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, 1995, ta4, tr 475.
7
xuất, sẽ hỗ trợ cho việc phát triển toàn diện những năng lực của tất cả các
thành viên của xã hội đợc xây dựng trên cơ sở những nguyên lý cộng sản chủ
nghĩa. Việc giáo dục đó phải đợc làm thờng xuyên, liên tục, giáo dục ở tr-
ờng, lớp và giáo dục trong thực tế lao động. Ăngghen đã nêu rõ rằng: thanh
niên không thể đứng ngoài chính trị, chính hiện thực cuộc sống đã, đang và
sẽ cuốn hút tuổi trẻ vào đời sống chính trị.
Luận thuyết của Mác - Ăngghen cũng khẳng định rằng lực lợng quần
chúng nhân dân đông đảo cần đợc tập hợp, tổ chức và giáo dục sao cho
những biến đổi t tởng của họ bắt kịp với thời đại, đi đúng quỹ đạo của dòng
thác lịch sử đang cuộn chảy. Trong Bản thảo kinh tế triết học năm 1844,
Mác đã viết: Bản thân xã hội sản xuất ra con ngời với tính cách là con ngời
nh thế nào thì nó cũng sản xuất ra xã hội nh thế Bản chất của con ngời tự
nhiên chỉ tồn tại với con ngời xã hội; vì chỉ có trong xã hội, tự nhiên đối với
con ngời mới là một cái khâu liên hệ của con ngời đối với con ngời, mới là
tồn tại của con ngời đối với ngời khác và tồn tại của ngời khác đối với ngời
đó
9
. Rằng Nếu nh ngời ta bẩm sinh đã là sinh vật có tính xã hội thì do đó
chỉ có thể phát triển bản tính chân chính của mình trong xã hội và cần phải
phán đoán về lực lợng của bản tính anh ta không phải căn cứ vào lực lợng cá
nhân riêng lẻ mà căn cứ vào lực lợng của toàn xã hội. C. Mác và Ăngghen
đã khẳng định rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, trong đó có
thanh niên.
10
Lênin toàn tập, Nxn Tiến bộ, Matxcơva, 1977, t41, tra 360-363
8
đã nắm vững đợc tất cả các kiến thức hiện đại, biết biến chủ nghĩa cộng sản
từ những công thức, những lời dạy, những phong pháp, những chỉ thị, những
cơng lĩnh có sẵn và học thuộc lóng thành cái thực tế sinh động, là cái kết hợp
với công tác trực tiếp của các đồng chí.
Những t tởng của Mác, Ăngghen, Lênin về thanh niên và công tác vận
động thanh niên nêu trên có thể khái quát lại thành năm nội dung cơ bản sau
đây:
- Một là khẳng định rõ vị trí, vai trò to lớn của tầng lớp thanh niên trong
xã hội mới và chỉ ra những nhợc điểm của thanh niên, cúng nh những vấn đề
co hội chủ nghĩa trong phong trào thanh niên cần đợc quan tâm chú ý.
- Hai là, đặt ra cho Đảng cộng sản cần quan tâm chăm sóc, giáo dục, dào
tạo thanh niên thông qua sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Đảng, thông
qua lao động sản xuất, công tác, học tập, chiến đấu và trong đời sống hiện
thực của quần chúng.
- Ba là, Đoàn thanh niên cộng sản phải là trờng học cộng sản chủ nghĩa
trong quá trình giáo dục, doàn kết tập hợp thanh niên, thực hiện lý tởng cách
mạng của Đảng cộng sản.
- Bốn là, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, sự nghiệp của thanh
niên.
- Năm là, những luận thuyết cảu Mác, Ăngghen đã chỉ ra những điều kiện
và khả năng tập hợp rộng rãi quần chúng thanh niên vào đội hình của chủ
nghĩa xã hội, dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.
2. T t ởng Hồ Chí Minh về công tác vận động thanh niên.
Kế thừa những di sản t tởng quý báu của Mác, ăngghen và Lênin, Hồ
Chí Minh đã phát triển một cách sáng tạo những luận điểm mácxít về vị trí,
vai trò của thanh niên trong xã hội, về nhiệm vụ giáo dục thanh niên, về
Đoàn Thanh niên cộng sản trong công tác vận động thanh niên của Đảng với
Trong mối quan hệ giữa Đoàn với Đảng và Nhà nớc, Hồ Chí Minh chỉ
rõ rằng về đờng lối chính trị thì thanh niên theo Đảng chỉ huy, nhng việc làm
thì thanh niên độc lập; trong mọi công việc, đảng viên và đoàn viên phải g-
ơng mẫu để lôi cuốn nhân dân cùng tiến bộ; mọi công việc đều vì lợi ích của
nhân dân mà làm. Muốn củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Đoàn với
thanh niên, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Đoàn phải liên hệ rộng rãi và chặt chẽ
với các tầng lớp thanh niên. Phải quan tâm đến đời sống, công tác và học tập
của thanh niên, phải tránh thành kiến, hẹp hòi cô độc. Phải thật thà đoàn kết
và hợp tác với anh chị em trong Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam.
Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng củng cố, phát triển Đoàn và tổ chức
phong trào thanh niên. Ngời chỉ rõ: Phải củng cố tổ chức của Đoàn. Phải
đoàn kết nội bộ thật chặt chẽ và phải đoàn kết, tập hợp các tầng lớp thanh
niên.
Hồ Chí Minh chỉ rõ, nhiệm vụ của thanh niên là: Phải tìm đủ mọi
cách để gây dựng một phong trào thanh niên to lớn và mạnh mẽ bởi vì,
thanh niên có nhiều sáng kiến hay, gây những phong trào có ích và sôi nổi.
Đồng thời Ngời cũng luôn nhắc nhở cần phải lu ý chất lợng khi kết nạp
thanh niên vào Đoàn.
Về phơng pháp công tác, phơng pháp vận động thanh niên của Đoàn,
Hồ Chí Minh nhấn mạnh:
- Thi đua là một cách rất tốt, rất thiết thực để làm cho mọi ngời tiến
bộ. Thi đua giúp cho đoàn kết chặt chẽ thêm. Và đoàn két chặt chẽ để thi đua
mãi Thi đua phải lâu dài và rộng khắp.
- Phong trào cần phải liên tục và có nội dung thiết thực. Không nên
chỉ có hình thức, càng không nên đầu voi đuôi chuột.
- Việc gì cũng cần phải thiết thực, nói đợc, làm đợc. Việc gì cũng
phải từ nhỏ dần dần đến to, từ dễ dần dần đến khó, từ thấp dần dần đến cao.
Một chơng trình nhỏ mà thực hành đợc hẳn hoi, hơn là một trăm chơng trình
to tát mà không làm đợc.
- Đối với cán bộ Đoàn, Hồ Chí Minh đòi hỏi mỗi cán bộ lãnh đạo cần
Đoàn kết và tập hợp thanh niên là việc làm cần thiết nhằm quán triệt t
tởng lấy dân làm gốc. Để thực hiện đợc các nhiệm vụ của cách mạng cần có
lực lợng quần chúng đông đảo đủ sức giải quyết những khó khăn, thử thách,
giành thắng lợi quyết định, trong đó thanh niên là một lực lợng quan trọng.
Trải qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng, bí mật cũng nh công khai, chiến
đấu cũng nh xây dựng, Đảng ta luôn cho rằng đề giành và giữ thanh niên
không còn con đờng nào khác là phải đoàn kết, tập hợp thanh niên lại, đa họ
đứng hẳn về phía cách mạng, coi đó là một nhiệm vụ của công tác dân vận.
Trong những thời điểm thử thách quyết liệt, khi đối mặt với kẻ thù xâm lợc
tàn bạo, xảo quyệt, vấn đè giành và giữ thanh niên, nhiều khi trở thành mặt
trận nóng bỏng. Trong những thời điểm đó, vấn đề đoàn kết, tập hợp thanh
niên không chỉ cần dựa vào tổ chức quần chúng mà còn phải tổ chức họ lại
thành những đơn vị vũ trang, thành tiểu đội, trung đội vũ trang chiến đấu,
bảo vệ từng thanh niên, từ đó bảo vệ những giá trị tinh thần, bảo vệ niềm tin
và lý tởng. Nhờ có phong trào hành động cách mạng mà thanh nioên khẳng
định đợc chỗ đứng của mình trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Đảng.
Bớc vào thời kỳ đổi mới, xây dựng đất nớc giai đoạn hiện nay, công
tác vận động, đoàn kết tập hợp thanh niên hiện gặp phải không ít những khó
khăn, thách thức do sự tác động hàng ngày hàng giờ của mặt trái cơ chế thị
trờng, sự suy giảm các giá trị xã hội đối với thanh niên. Trớc những khó
khăn và thách thức đó, Đảng chủ trơng đẩy mạnh đổi mới công tác vận động
thanh niên, coi đó là một bộ phận quan trọng của đổi mới công tác dân vận,
của sự nghiệp đổi mới và xây dựng đất nớc.
Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ơng Đảng khoá
V đã đề cập: Tập hợp thanh niên rộng rãi bằng nhiều loại hình tổ chức linh
11
Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1988, t2, tr 166-167
11
hoạt khác nhau theo đối tợng, nghề nghiệp, nhu cầu và sở thích để làm những
việc có ích cho xã hội và cho tuổi trẻ. Chú ý thích đáng những đặc điểm của
Chí Minh và các hình thức tập hợp, giáo dục thiếu nhi.
Năm là, xây dựng môi trờng xã hội lành mạnh là điều kiện phát triển
của thế hệ trẻ. Tập trung giải quyết những vấn đề cấp bách trong thanh niên.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định: Đối với thế
hệ trẻ, chăm lo giáo dục, bồi dỡng, đào tạo phát triển toàn diện về chính trị,
t tởng, đạo đức, lối sống, văn hoá, sức khoẻ, nghề nghiệp; giải quyết việc
làm, phát triển tài năng và sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đờng lối đó một mặt khẳng định thanh
niên là lực lợng xung kích trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nớc, mặt khác đặt ra cho Đảng, Nhà nớc, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và xã hội
những yêu cầu và nhiệm vụ mới đối với việc đào tạo, bồi dỡng và phát huy
thế hệ trẻ nớc ta.
Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định: Đổi mới,
nâng cao chất lợng hoạt động của Mặt trận, các đoàn thể nhân dân và các hội
12
quần chúng, khắc phục tình trạng hành chính hoá, phô trơng, hình thức; làm
tốt công tác dân vận theo phong cách trọng dân, gần dân và có trách nhiệm
với dân.
Đối với thế hệ trẻ, Đảng xác định: Thờng xuyên giáo dục chính trị,
truyền thống, lý tởng, đạo đức và lối sống; tạo điều kiện học tập, lao động,
giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Khuyến khích thanh niên tự học, tự nâng cao tay nghề, tự tạo việc làm. Chú
trọng bồi dỡng nguồn cán bộ, đào tạo thanh niên trong lực lợng vũ trang có
nghề khi hết thời hạn nghĩa vụ quân sự. Tạo cơ hội cho thanh niên có tài
năng đi học nớc ngoài về phục vụ đất nớc. Thu hút rộng rãi thanh niên, thiếu
niên và nhi đồng vào các tổ chức do Đoàn TNCS Hồ Chí Minh làm nòng cốt
và phụ trách.
2. Nhà n ớc cụ thể hoá các chủ tr ơng, nghị quyết của Đảng về công
tác vận động thanh niên.
Thực hiện quan điểm, chủ trơng của Đảng, Nhà nớc ta đã cụ thể hoá
này hoạt động có hiệu quả.
13
Thứ hai, Uỷ ban kế hoạch Nhà nớc, Bộ Tài chính, Bộ Lao động Th-
ơng binh và Xã hội, Bộ Giáo dục - Đào tạo, Bộ Y tế cân đối ngân sách, trên
cơ sở sắp xếp lại các cơ sở hiện có và xác định rõ quy hoạch, cấp vốn đầu t
cho Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xây dựng một số cơ sở để chữa bệnh, dạy
nghề, tạo cơ sở sản xuất và tìm việc làm thích hợp cho trẻ có hoàn cảnh khó
khăn, trẻ em lang thang cơ nhỡ, những thanh thiếu niên nghiện hút ma tuý và
các phụ nữ làm nghề mại dâm. Các cơ sở này đặt tại thành phố Hà Nội,
Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng, Hải Phòng, Nha Trang, Cần Thơ,
Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố nói trên tạo điều kiện về cơ sở vật chất
để xây dựng các cơ sở này.
Thứ ba, Trung ơng Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xây dựng đề án và bàn
với Uỷ ban Kế hoạch Nhà nớc, các Bộ chuyên ngành, Bộ Lao động Thơng
binh và Xã hội về việc Đoàn nhận vốn xây dựng và thực hiện các dự án thuộc
Chơng trình 327 về phủ xanh đất trống đồi trọctrên cơ sở các dự án đã đợc
thẩm quyền phê duyệt.
Uỷ ban Kế hoạch Nhà nớc, Ngân sách Nhà nớc, Bộ Tài chính và Bộ
Lao động Thơng binh Xã hội cân đối ngân sách, tìm thêm nguồn vốn,
hoặc trính từ quỹ quốc gia về giải quyết việc làm cho Trung ơng Đoàn TNCS
Hồ Chí Minh một số vốn để hỗ trợ vốn ban đầu cho thanh niên lập nghiệp,
giải quyết việc làm; đặc biệt là ngân hàng và các tổ chức tín dụng các địa ph-
ơng chú trọng dành vốn cho các hộ gia đình trẻ nghèo vay để sản xuất kinh
doanh có sự bảo trợ của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh từ cấp xã trở lên.
Thứ t, Đoàn Thanh niên tổ chức, vận động thanh niên ra một số hải
đảo để lập nghiệp, phát triển kinh tế, xây dựng các vùng dân c mới trên đảo,
nh các đảo Bạch Long vĩ, Thổ Chu, Trờng Sa, Côn Đảo,Bộ Thuỷ sản, Bộ
Quốc phòng, các bộ, ngành liên quan và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành
phố có trách nhiệm tạo điều kiện để giúp Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thực hiện
việc xây dựng các hải đảo thành các khu kinh tế và dân c.
và Trung ơng Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh giúp Thủ tớng Chính
phủ xây dựng cơ chế chính sách về việc huy động và sử dụng lực lợng thanh
niên trong việc tham gia thực hiện các chơng trình, dự án mục tiêu quốc gia,
dự án trọng điểm của Chính phủ và địa phơng.
Hai là, tiếp tục tạo điều kiện để Đoàn thanh niên động viên, tổ chức
cho thanh niên tham gia thực hiện các Chơng trình mục tiêu quốc gia và
các dự án trọng điểm, cấp bách của trung ơng và địa phơng.
Khi xây dựng và triển khai các chơng trình, dự án trọng điểm của
trung ơng và địa phơng, các bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân các tỉnh thành
phố trực thuộc trung ơng cần tạo điều kiện để Đoàn thanh niên tham gia các
Ban Chỉ đạo xây dựng dự án nhằm phát huy vai trò của tổ chức Đoàn trong
việc tuyên truyền vận động và tổ chức lực lợng lao động trẻ tham gia, tạo
phong trào thi đua xây dựng đất nớc và giáo dục rèn luyện thanh niên.
Bộ Kế hoạch và Đầu t, Bộ Tài chính tham mu cho Chính phủ xác định
lĩnh vực, dự án u tiên để Đoàn thanh niên tham gia và bố trí nguồn vốn để
Đoàn thanh niên thực hiện nhất là các chơng trình dự án thuộc lĩnh vực xây
dựng kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế ở những vùng
đặc biệt khó khăn, lĩnh vực phát triển công nghệ mới tại các trung tâm kinh
tế lớn, các khu công nghiệp; trớc mắt xem xét cấp đủ vốn, bảo đảm đúng tiến
độ và tổng mức đầu t đợc duyệt cho các dự án đã đợc Thủ tớng giao cho
Đoàn thanh niên thực hiện, Uỷ ban nhân dân các tỉnh thành phố có trách
nhiệm đảm bảo các diều kiện và phối hợp với Đoàn thanh niên kiểm tra, chỉ
đạo để thực hiện tốt các mục tiêu dự án đã đề ra.
Bộ Giao thông vận tải có kế hoạch, phơng án phối hợp với Đoàn thanh
niên tổ chức lực lợng thanh niên tham gia các dự án xây dựng giao thông đ-
ờng bộ, nhất là các dự án có sử dụng vốn đầu t từ ngân sách nhà nớc, trong
đó coi các Tổng đội thanh niên xung phong đủ năng lực và kinh nghiệm là
đầu mối xem xét, u tiên cho tham gia đấu thầu theo qui định của pháp luật.
Bộ Kế hoạch và Đầu t, Bộ Bu chính Viễn thông, Bộ Tài chính và các
Bộ ngành có liên quan tham mu cho Chính phủ có kế hoạch phối hợp đầu t
khích thanh niên ở lại địa phơng công tác hoặc tình nguyện đến lập nghiệp và
công tác tại các vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo.
Bốn là, các Bộ trởng, Thủ trởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trởng cơ quan
thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh thành phố trực thuộc
trung ơng, Ban Chỉ đạo các Dự án, Chơng trình mục tiêu quốc gia chịu trách
nhiệm thi hành chỉ thị này.
Trung ơng Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phối hợp với các
Bộ, ngành và các địa phơng triển khai thực hiện tốt các chơng trình dự án đ-
ợc Chính phủ giao; hớng dẫn các cấp bộ Đoàn, tổ chức động viên thanh niên
hăng hái tham gia có hiệu quả các chơng trình dự án phát triển kinh tế - xã
hội, góp phần thực hiện tốt chỉ thị này.
Giao Uỷ ban Quốc gia về thanh niên Việt Nam có trách nhiệm theo
dõi và định kỳ báo cáo Thủ tớng Chính phủ việc thực hiện Chỉ thị này.
Ngày 29 tháng 11 năm 2005, Quốc hội Nớc Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã thông quan Luật Thanh niên Việt Nam nhằm tăng cờng
quản lý nhà nớc về công tác thanh niên, điều chỉnh các quan hệ xã hội liên
quan đến thanh niên, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc ban hành các
chính sách, cơ chế bảo đảm việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của thanh
16
niên, phát huy vai trò xung kích, sáng tạo, tiềm năng to lớn của thanh niên
trong phát triển kinh tế xã hội và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế với các
nớc, các tổ chức trên thế giới, góp phần tăng cờng giáo dục, bồi dỡng, bảo vệ
thanh niên trớc tác động của những tiêu cực và tệ nạn xã hội, sự tấn công của
các thế lực thù địch và phát huy thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
IV. Đổi mới công tác vận động thanh niên là một
nhiệm vụ cấp thiết của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong
giai đoạn hiện nay.
Trong tình hình hiện nay, công tác vận động thanh niên đã và đang đặt
trẻ biết làm giàu chính đáng cho gia đình và cho đất nớc. Đặc biệt là tinh
thần tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng, tính tích cực chính trị xã hội của
thanh niên tiếp tục đợc khơi dạy và phát huy. Thanh niên hiện nay có trình độ
học vấn cao hơn, có năng lực tiếp cận và sáng tạo khoa học công nghệ mới,
tích cực đi trớc đón đầu ở những ngành mũi nhọn, đợc tiếp cận thông tin
nhanh, đa dạng, nhiều chiều, có đời sống vật chất, văn hoá tinh thần ngày
càng phong phú. Đa số thanh niên tự giác học tập, chủ động học thêm nhiều
12
Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng, NXB Chính trị Quốc gia. HN 2001. tr 131.
17
ngành, nghề, nhất là ngoại ngữ, tin học, các kiến thức khoa học kỹ thuật.
Định hớng giá trị của thanh niên ngày nay thay đổi tích cực theo hớng coi
trọng hơn các yếu tố giá trị nhân văn, thiết thực, cụ thể và ngày càng quan
tâm đến các hoạt động chính trị, xã hội của đất nớc.
Tuy nhiên, quan niệm về cuộc sống của một bộ phận thanh niên còn
lệch lạc, có lối sống thực dụng, coi trọng giá trị vật chất hơn giá trị văn hoá
tinh thần, ý thức chấp hành pháp luật kém. Một bộ phận thanh niên bản lĩnh
chính trị non kém, dao động về lập trờng, t tởng, thờ ơ chính trị, dễ bị kích
động, lôi kéo tham gia các hoạt động trái pháp luật. Khả năng, năng lực thực
hành sau đào tạo của thanh niên nhìn chung còn yếu, chất lợng nguồn nhân
lực còn thấp, cha đáp ứng đợc thị trờng lao động; trình độ văn hoá của một
bộ phận thanh niên, nhất là thanh niên nông thôn còn thấp, đa số thanh niên
còn thiếu kiến thức, kỹ năng cần thiết cho yêu cầu phát triển, hội nhập nh:
ngoại ngữ, tin học, giao tiếp, tính thích ứng trong nền kinh tế thị trờng của
thanh niên nhìn chung còn hạn chế. Tình hình tội phạm và mắc các tệ nạn xã
hội trong thanh niên, đặc biệt là tệ nạn ma tuý, mại dâm, HIV/AIDS, có
chiều hớng gia tăng và có xu hớng trẻ hoá , trong đó có cả vị thành niên;
đáng báo động hiện nay đó là tình trạng sử dụng ma tuý tổng hợp (thuốc lắc)
trong thanh niên tại các thành phố lớn đang có diễn biến hết sức phức tạp.
Bên cạnh đó, nhu cầu về thông tin, việc làm và thu nhập vẫn là những
lạc bộ, đội, nhóm theo đối tợng, nghề nghiệp, sở thích thu hút 5,4 triệu hội
viên tham gia; có 174 tổ chức Hội Sinh viên cấp trờng với tổng số hơn 600
nghìn hội viên tham gia và 51 Hội, CLB Doanh nghiệp trẻ thu hút gần 3500
hội viên tham gia. Tổ chức Đoàn, Hội đã quan tâm nhiều đến công tác tập
hợp, đoàn kết các đối tợng thanh niên đặc thù, các địa bàn trọng điểm, nh:
thanh niên vùng sâu, vùng xa, thanh niên dân tộc, tôn giáo, thanh niên lao
động tự do, thanh niên lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
thông qua việc quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ Đoàn, Hội. Tăng cờng tuyên
truyền chính sách của Đảng và Nhà nớc; quan tâm cổ vũ động viên thanh
niên tích cực tham gia vào công cuộc đổi mới và xây dựng đất nớc.
Bên cạnh những thành tựu đạt đợc thì công tác tập hợp, đoàn kết thanh
niên còn một số hạn chế, đó là: Nhận thức của một bộ phận cán bộ Đoàn,
Hội, đoàn viên, hội viên, thanh niên về công tác tập hợp, đoàn kết thanh niên
còn hạn chế. Số thanh niên tập hợp trong tổ chức tuy phát triển nhanh, nhng
còn thấp so với yêu cầu và tổng số thanh niên của cả nớc (chiếm khoảng
45% tổng số thanh niên cả nớc); chất lợng cha cao; việc tập hợp thanh niên ở
các địa bàn trọng yếu, lĩnh vực đặc thù, nhất là ở vùng dân tộc, tôn giáo,
doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn khó khăn. Công tác xây dựng tổ chức
Đoàn, Hội ở không ít cơ sở cha phát triển tơng xứng với phong trào. Loại
hình chi hội theo địa bàn dân c cha thực sự hấp dẫn thanh niên và nhiều nơi
chỉ tồn tại hình thức. Một số địa phơng mới quan tâm đến cơ quan lãnh đạo
của Hội mà cha quan tâm đến việc tập hợp hội viên và nâng cao chất lợng
hoạt động.
Bên cạnh đó, Báo cáo công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi nửa
nhiệm kỳ Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ VIII đánh giá các mặt công tác của
nh sau: Công tác T tởng- Văn hoá đợc quan tâm, đầu t nguồn lực, đổi mới về
nội dung, hình thức theo hớng thiết thực, hiệu quả góp phần nâng cao hiệu
quả công tác giáo dục của Đoàn, nâng cao chất lợng chính trị của ngời đoàn
viên; Phong trào Thi đua, tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc tiếp tục
phát triển trên cơ sở đợc cụ thể hóa phù hợp với các đối tợng, lĩnh vực công
công tác của Đoàn là yêu cầu tự thân, tuy nhiên việc đổi mới cần phải tiến
hành thờng xuyên, liên tục để đảm bảo vai trò là tổ chức chính trị xã hội và
trờng học xã hội chủ nghĩa của thanh niên.
Chơng II
Thực trạng tình hình thanh niên
và công tác vận động thanh niên của đoàn
trong giai đoạn hiện nay
I. Thực trạng và những diễn biến trong tình hình thanh
niên.
1- Tình hình thanh niên:
*Thanh niên trong cơ cấu dân số: Theo kết quả điều tra về lao động
việc làm năm 2003 của Bộ Lao động Thơng binh và Xã hội, dân số thanh
niên (15-34 tuổi) là 27.533.211 ngời chiếm 34,17% tổng dân số.Về giới tính,
số lợng thanh niên nam và nữ không có sự chênh lệch lớn, 49,6% là nam
thanh niên và 50,4% là nữ thanh niên. Đa số thanh niên sống ở khu vực nông
thôn (74,76%).
Theo thông báo của Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA): Việt Nam
là nớc có lợng dân số trẻ, với trên 60% dân số dới 25 tuổi. Đây đợc coi là
một lợi thế nhng cũng đồng thời cũng là một trở ngại lớn cho quá trình phát
triển.
20
*Nhận thức và thái độ chính trị của thanh niên: có thể đợc khái quát
nh: Những năm vừa qua, t tởng, thái độ chính trị của thanh niên tiếp tục
chuyển biến tích cực. Đa số thanh niên tin tởng vào sự lãnh đạo của Đảng,
thành công của công cuộc đổi mới; gơng mẫu thực hiện chủ trơng, đờng lối
của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nớc. Tinh thần xung phong tình
nguyện, tính tích cực chính trị - xã hội của thanh niên tiếp tục đợc khơi dậy
và phát huy. ý chí tự lực, tự cờng, không cam chịu đói nghèo, lạc hậu, nỗ lực
vơn lên trong cuộc sống là xu hớng ngày càng đợc khẳng định trong lớp
trẻ
thanh niên đô thị, 7,0% thanh niên nông thôn thiếu việc làm; 8,3% thanh
niên đô thị và 3,0% thanh niên nông thôn thất nghiệp.
*Tình hình học vấn và phát triển tài năng của thanh niên: Cùng với
kết quả mở rộng quy mô giáo dục trong những năm qua, số lợng học sinh
trung học phổ thông, học sinh học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng
và đại học đều tăng nhanh. So với năm học 1995 - 1996, số học sinh trung
học phổ thông và số sinh viên đại học cao đẳng năm học 2004 2005 tăng
13
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ơng Đoàn khoá VIII
21
gấp 2,3 lần. Tính bình quân, trung học cơ sở tăng 7,54%/năm, trung học phổ
thông tăng 17,97%/năm.
Nhờ những tiến bộ về quy mô và chất lợng giáo dục và đào tạo mà học
vấn của thanh niên Việt Nam có nhiều tiến bộ, nhất là học vấn phổ thông,
học vấn đại học, sau đại học. Trình độ học vấn của thanh niên tăng đã làm
cải thiện trình độ học vấn, nghề nghiệp của thanh niên trong lực lợng lao
động xã hội.
Đảng, Nhà nớc đã có nhiều chính sách khuyến khích, thúc đẩy phát
triển tài năng trẻ. Những thanh niên có năng khiếu, tài năng có điều kiện tốt
hơn để phát triển, cống hiến. Tuy vậy, vấn đề cần quan tâm hơn trong chính
sách phát triển tài năng trẻ là Nhà nớc cha có chính sách phát huy và sử dụng
tài năng. Trong thực tế cho đến nay vẫn tồn tại hiện tợng nhiều tài năng trẻ
không phát huy đợc hết khả năng của mình hoặc không tiếp tục phát triển
đợc tài năng.
*Đời sống văn hoá tinh thần của thanh niên: Thanh niên ngày càng
có đời sống văn hoá tinh thần đa dạng, phong phú. Thanh niên có nhiều sự
lựa chọn hơn trong việc tiếp cận các kênh thông tin và tham gia vui chơi giải
trí. Hiện nay, mạng Internet đang trở nên phổ biến trong đời sống và dần trở
thành một kênh tiếp nhận thông tin quan trọng của giới trẻ và là một phơng
tiện để thanh niên nói lên ý kiến của mình đối với mọi vấn đề xã hội. Một bộ
phép.
- Trong những năm gần đây, đã xuất hiện một số loại tội phạm mới
trong nhóm đối tợng thanh niên nh làm giả mạo giấy tờ, bằng cấp, thi thuê,
thi hộ; hoặc các loại tội phạm liên quan đến công nghệ thông tin nh ăn cắp
mật khẩu, lừa đảo qua mạng, lợi dụng công nghệ thông tin để móc nối, lừa
đảo, thực hiện các hành vi đánh bạc dới các hình thức: cá độ bóng đá, các tổ
chức thầu đề
2 Tình hình các đối t ợng thanh niên.
*Thanh niên khu vực nông thôn: Theo các kết quả điều tra Lao động
và việc làm cho đến năm 2003, số lợng thanh niên nông thông là 20.189.921
ngời chiếm 74,1% thanh niên trong cả nớc
Trình độ học vấn của thanh niên nông thôn ngày càng đợc nâng lên,
nhng vẫn còn số ít mù chữ và cũng có sự khác biệt lớn giữa các nhóm ngành.
Những ngời có trình độ văn hoá thấp thờng tập trung ở nhóm ngành nông,
lâm thuỷ sản, những ngời có trình độ văn hoá cao hơn thờng tập trung ở
nhóm ngành công nghiệp và dịch vụ.
Trình độ chuyên môn kỹ thuật của thanh niên nông thôn còn thấp. Tỷ
lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp hơn so với khu vực thành
thị khoảng 4 lần (3,11% so với 13,39%), trình độ cao đẳng, đại học trở lên
của thanh niên nông thôn thấp hơn 6 lần so với thanh niên thành thị.
Hiện nay tình trạng thiếu việc làm ở thanh niên nông thôn còn cao và
cao hơn tỷ lệ chung. Năm 2000, tỷ lệ thời gian thiếu việc làm trong năm của
thanh niên nông thôn là 29,4%, trong đó, lứa tuổi 15 - 24 là 25,5%, lứa tuổi
25-34 là 32,8%
14
. Từ năm 2001 trở lại đây tình trạng thiếu việc làm ở khu
vực nông thôn giảm xuống (từ 27,3% năm 2001 xuống 23,1% năm 2004).
*Thanh niên khu vực đô thị: Mặc dù tỷ lệ không cao nhng thanh niên
đô thị có những thế mạnh hơn hẳn thanh niên nông thôn nh trình độ học vấn,
chuyên môn kỹ thuật Theo kết quả điều tra lao động việc làm 2003 dân số
lợng quan trọng, có vai trò chủ lực trong việc tiếp thu và ứng dụng các tiến
bộ khoa học tiên tiến, hiện đại phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nớc.
So với những năm trớc đây, trình độ học vấn của thanh niên công nhân
đã có những bớc cải thiện theo sự phát triển của nền giáo dục nớc ta. Trong
tất cả các loại hình doanh nghiệp không có thanh niên mù chữ (năm 1999
vẫn còn 0.1%). Thanh niên công nhân đang ngày càng có nhu cầu học tập
nâng cao trình độ học vấn. Theo kết quả khảo sát của Tổng liên đoàn Lao
động Việt Nam, có khoảng 70 - 75% có mong muốn tiếp tục học tập để nâng
cao trình độ. Tuy nhiên, số thanh niên công nhân có trình độ học vấn cao
(đại học và trên đại học) đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nớc còn chiếm tỷ lệ thấp.
*Thanh niên học sinh, sinh viên: Cùng với sự phát triển, mở rộng
quy mô, đa dạng hoá các loại hình đào tạo, cơ hội học tập của thanh niên đợc
không ngừng tăng lên. Nếu nh năm học1999 - 2000 tổng số thanh niên học
sinh, sinh viên là 3.840.619 nguời, thì đến năm học 2003 - 2004 số lợng
thanh niên học sinh, sinh viên cả nớc đã tăng lên 5.154.139 ngời.
Về cơ cấu thanh niên học sinh, ta thấy rõ bộ phận đông đảo nhất
là thanh niên học sinh trung học phổ thông , tiếp theo đó là thanh niên học
sinh học nghề và cuối cùng là thanh niên học sinh trung học chuyên nghiệp.
Tính riêng trong năm học gần đây nhất (2003 - 2004) thì trong tổng số
4.121.699 thanh niên học sinh toàn quốc thì thanh niên học sinh trung học
phổ thông chiếm 63,47%; thanh niên học sinh học nghề chiếm 27,78%;
thanh niên học sinh trung học chuyên nghiệp chiếm 8, 74%.
Trong 5 năm qua, quy mô sinh viên đại học, cao đẳng tăng bình quân
6,4%/năm, từ 844.592 ngời (năm học 1999 - 2000) lên 1.032.000 ngời (năm
học 2003 - 2004). Đáng lu ý là sinh viên thuộc tất cả các hệ đào tạo đều tăng,
tuy nhiên hệ dài hạn tập trung có quy mô và tốc độ gia tăng nhanh hơn so với
hệ tại chức và các hệ khác.
Sự gia tăng số lợng sinh viên nhanh chóng đã làm cho thanh niên sinh
giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân; xây dựng nền văn hoá tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với nhiều tác phẩm có giá trị. Đội ngũ những
ngời làm báo trẻ đã góp phần tuyên truyền đờng lối, chính sách của Đảng,
Nhà nớc, biểu dơng những tấm gơng ngời tốt, việc tốt, phê phán, đấu tranh
chống tiêu cực, tham nhũng, cơ hội.
* Thanh niên quân đội: Thanh niên quân đội là lực lợng chủ yếu trực
tiếp chấp hành các nhiệm vụ của quân đội, chiếm gần 50% tổng quân số; ở các
đơn vị huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu thanh niên chiếm trên 80% quân số; ở
cấp đại đội, 100% cán bộ, chiến sĩ ở độ tuổi thanh niên. Lực lợng sĩ quan trẻ
(dới 30 tuổi) chiếm tỷ lệ 21,45%.
Tuổi đời của thanh niên quân đội nh sau: Chiến sĩ nghĩa vụ dới 20 tuổi
chiếm số đông: 74%; từ 20-25 tuổi chiếm 16%; từ 25-30 tuổi chiếm 10%. Đa
số thanh niên quân đội xuất thân từ nông thôn: 84,3%; từ thành phố, thị xã,
các khu công nghiệp: 12,5%; từ miền núi 3,1%. Trình độ học vấn của thanh
niên quân đội khá cao và tơng đối đồng đều: Trung học phổ thông: 70,5%;
Trung học cơ sở: 27%; Tiểu học: 0,71%; Đại học; Cao đẳng: 1,68%.
Thanh niên quân đội đợc tuyển chọn kỹ, đợc nuôi dỡng, rèn luyện một
cách khoa học. Các chỉ số về chiều cao, cân nặng, sức bền thể lực và trạng
thái tinh thần, khả năng chịu dựng khó khăn, thử thách đều có tiến bộ, đáp
ứng đợc yêu cầu xây dựng quân đội chính quy và sẵn sàng chiến đấu cao.
Tình hình thanh niên công an
20
: Thanh niên công an chiếm tỷ lệ
39,7% biên chế toàn lực lợng, công tác ở hầu hết các địa bàn, lĩnh vực công
tác của công an, trong đó thanh niên lực lợng an ninh 14,3%, lực lợng cảnh
sát 73,7%, xây dựng lực lợng 3,7%, hậu cần - kỹ thuật 5%, tham mu 3,4%.
Trớc yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, thanh niên công an tiếp tục tăng và
chiếm tỷ lệ cao trong biên chế toàn lực lợng. Thanh niên trong lực lợng chiến
19