Tiểu luận: Nguồn của luật quốc tế- case Gabcikovo – Nagymaros - Pdf 12

Nguồn của Luật quốc tế – Case: Gabcikovo – Nagymaros – Date: 23/02/2009

Nhóm thuyết trình 5 Page 1

Tiểu luận

Nguồn của luật quốc tế- case
Gabcikovo – Nagymaros
Nguồn của Luật quốc tế – Case: Gabcikovo – Nagymaros – Date: 23/02/2009

Nhóm thuyết trình 5 Page 2

Giới thiệu chung về vụ việc


Nhóm thuyết trình 5 Page 3

 10/10/1983: Hungary và Czechoslovakia ký với nhau nghị định
thư trì hoãn công việc và dời ngày vận hành các nhà máy năng lượng.
 06/02/1989: Hungary và Czechoslovakia ký với nhau nghị định
thư nhằm thúc đẩy tiến trình dự án.
 13/5/1989: chính phủ Hungary buộc phải tạm ngừng thực hiện
công việc của mình ở khu vực Nagymaros do gặp phải nhiều lời chỉ trích chờ
tới khi các nhà chức trách có thẩm quyền hoàn thành bản nghiên cứu trước
ngày 31/7/1989.
 21/7/1989: Chính phủ Hungary gia hạn việc tạm thời đình chỉ
công việc tại Nagymaros đồng thời đình chỉ nốt cả công việc tại Dunakiliti
đến 31/10/1989.
 27/10/1989: Chính phủ Hungary quyết định ngừng hẳn công
việc tại Nagymaros đồng thời vẫn tiếp tục tạm thời đình chỉ công việc tại
Dunakiliti.
Cùng thời gian này, đã có một số cuộc đàm phán giữa 2 nước;
Czechslovakia bắt đầu tìm kiếm một giải pháp khác, tương tự với phương án
ban đầu để thay thế mà nổi bật quan trọng trong số đó là Phương án tạm thời
“Variant C”, cách Dunakiliti 10km về phía thượng nguồn. Trong giai đoạn
cuối của quá trình thực hiện, Variant C bao gồm việc xây dựng ở Cunovo
một con đập tràn và một con đê nối với con đập đó ở phía nam khúc ngoặt
kênh đào.
 23/7/1991: Czechslovakia quyết định sẽ xây dựng và triển khai
Variant C
 11/1991: Variant C bắt đầu được xây dựng và triển khai. Nhiều
cuộc tranh luận giữa hai bên nhưng không dẫn tới kết quả nào.
 19/5/1992: Hungary gửi tới Cộng hoà Czechoslovakia một
công hàm tuyên bố chấm dứt “ Treaty 1977” với hiệu lực bắt đầu từ ngày

phục bao gồm việc đe dọa nghiêm trọng nguồn cung cấp nước uống cho
Budapest. Hungary đã cố gắng đàm phán để điều chỉnh dự án nhằm giảm
thiểu tác hại trên bằng việc tiếp tục dự án với các bảo đảm sinh thái đầy đủ
nhưng đã thất bại do đó ngày 20/7/1989 Hungary gia hạn đình chỉ công việc
Nguồn của Luật quốc tế – Case: Gabcikovo – Nagymaros – Date: 23/02/2009

Nhóm thuyết trình 5 Page 5

tại Nagymaros tới 31/10/1989 cùng với việc đình chỉ công việc tại Dunakiliti
liên quan đến kế hoạch chuyển dòng Danube vào tháng 10/1989. Đến ngày
10/01/1990 chưa có thỏa thuận nào đạt được do đó Hungary thông bố cho
Czechoslovakia về dự định hủy bỏ hợp đồng liên quna đến việc xây dựng tại
Nagymaros và tiến han2h thương lượng bồi thường với đối tác.
- Đối với Dự án Gabcikovo. Tháng 7 năm 1989 đình chỉ các
công việc chuẩn bị ở Dunakiliti trong lúc công việc ở đây đã gần như hoàn
thành, chỉ còn vấn đề cho tích nước vào đập tràn này liên quan đến việc
chuyển dòng Danube. Cả hai việc này theo Hungary đều gây ra các tổn hại
môi trường nghiêm trọng, trong khi các quy định về khắc phục đã không
được tiến hành. Dù vậy, sự đình chỉ này không gây ảnh hưởng đến các công
trình ở phía thượng nguồn. 16/04/1991 Quốc hội Hungary ra nghị yếu yêu
cầu chính phủ nước đàm phán với Czech and Slovak federal Republic về
việc dừng các khoảng đầu tư nhà nước trong tương lai. Ngày 25/10/1991
Chính phủ ra nghị quyết yêu cầu dừng ngay lập tức các khoảng đầu tư nhà
nước chodhệ thống đập, có hiệu lực ngày 31/12/1991. Tuy nhiên việc chấm
dứt công việc tại Gabcikovo đã bắt đầu từ tháng 10/1991 và có hiệu lực từ
cuối năm 1991.
- Từ tháng 8 năm 1989, Czechoslovakia đã đưa ra gợi ý về việc
áp dụng các biện pháp đối phó về mặt kỹ thuật. Trong tháng này, Hungary
cũng đã lưu ý đến hậu quả nghiêm trọng về môi trường và sinh thái của các
biện pháp đối phó này. Các biện pháp này được thực hiện từ tah1ng 1/1991.

lượng để tìm ra giải pháp khắc phục hay điều 62 chỉnh dự
án gốc.
2. Tranh tụng của Czechoslovakia
Việc Hungary đơn phương đình chỉ, và sau đó dừng hẳn việc làm tròn nghĩa
vụ của mình đã vi phạm nghiêm trọng “Treaty 1977” (bao gồm Basic và các
Related instruments). Lý do là:
(1) Thứ nhất, nguyên tắc cơ bản có thể dễ dàng nhận thấy
trong dự án này đó chính là cùng hợp tác thực hiện. Theo điều 1 của
bản Join Contractual Plan Agreement “The joint investment shall be
carried out in conformity with the joint contractual plan " Theo
điều 4 và điều 25 khoản 16 trong bản Basic“ in respect of (a) the
content of the approved joint contractual pian. (b) The execution of
the Treaty during the construction and operation of the System of
Locks, the jointly-adopted measures and decisions of the
Nguồn của Luật quốc tế – Case: Gabcikovo – Nagymaros – Date: 23/02/2009

Nhóm thuyết trình 5 Page 7

Government delegates, and the joint measures and decisions of the
joint agencies”. Với những thỏa thuận của hai nước rằng việc đưa ra
quyết định phải được sự tham gia của cả hai phía, Hungary phải có
nghĩa vụ thực hiện đúng những gì mình đã cam kết mà không được
lấy lí do là Hungary không chịu sự ràng buộc của CƯ Viên 1969.
Mặc dù cả Hungary và Czechoslovakia tại thời điểm 1977 vẫn chưa
phải là thành viên của Công Ước Viên 1969 và do đó không chịu sự
điều chỉnh của Công ước này nhưng trong trường hợp này, Hungary
vẫn phải tuân thủ quy tắc này như một sự tuân thủ Tập quán Quốc tế
(quy tắc Pacta sunt servanda).
(2) Thứ hai, theo điều 56 CƯ Viên 1969, một điều ước QT
không có điều khoản qui định việc chấm dứt hay từ bỏ thì sẽ không

3. Phán quyết của tòa
Tòa cho rằng không cần thiết để quá quan tâm đến việc áp dụng hay không
Công ước viên năm 1969 về luật điều ước trong vụ này; chỉ cần quan tâm rằng
những quy định này trên thực tế đã xảy ra một vài lần và điều này theo như trong
Công ước Viên 1969 thì được xem xét như sự thiết lập một sự tồn tại của luật tập
quán. Những quy định của công ước viên 1969 về việc từ bỏ và đình chỉ việc thực
hiện điều ước nằm từ điều 60 đến 62. Tòa đã nhắc tới việc áp dụng công ước viên
1969 trong bất cứ sự kiện nào phù hợp với Nghị định thư ngày 06/02/1989 về việc
đẩy nhanh dự án; mà nhờ đó Hungary và Séc đã đồng ý để thúc đẩy tiến trình công
việc liên quan đến dự án Gabcikovo và Nagymaros.
Tòa cũng không cần phải quá quan tâm đến vấn đề mối quan hệ giữa luật
điều ước và luật trách nhiệm quốc gia, liên quan đến những tranh cãi dai dẳng giữa
các bên về vấn đề này; vì phạm vi của hai nhánh luật quốc tế này đã được phân biệt
rõ ràng. Luật điều ước quy định việc liệu một điều ước có còn hiệu lực hay không;
trong khi đó luật trách nhiệm quốc gia lại điều chỉnh phạm vi của việc đình chỉ và
từ bỏ điều ước liên quan đến trách nhiệm của các quốc gia gây ra điều này.
Tòa không thể chấp nhận hiệu lực của lập luận của Hungary năm 1989 về
việc đình chỉ và sau đó từ bỏ những công việc mà Hungary có trách nhiệm ở
Nagymaros và Dunalikiti, bản thân Hungary đã không đình chỉ việc áp dụng điều
ước 1977 và sau đó từ chối điều ước này. Hành vi của Hungary vào thời điểm đó
chỉ có thể được giải thích như một sự không sẵn sàng tuân theo ít nhất một vài
những quy định của điều ước 1977 và Nghị định thư ngày 06/02/1989, như đã được
Nguồn của Luật quốc tế – Case: Gabcikovo – Nagymaros – Date: 23/02/2009

Nhóm thuyết trình 5 Page 9

vạch rõ trong “the Joint Contractual Plan”. Ảnh hưởng của hành vi đó của Hungary
đã khiến cho hệ thống công việc không thể được thực hiện như được quy định trong
điều ước như là một hệ thống ‘đơn nhất” – ‘single and indivisible”.
Sau đó tòa xem xét vấn đề vào năm 1989 liệu có tồn tại một tình trạng cấp

đang được thực hiện vào lúc đó có thể dẫn đến việc xem lại dự án và sự gia hạn thời
gian, mà không cần phải từ bỏ nó.
Hơn nữa, tòa cho rằng khi quyết định thông qua Điều ước 1977, Hungary đã
ý thức được tình huống sau này; và các nước phải ý thức được việc cần thiết phải
bảo vệ môi trường. Tòa luận ra rằng trong vụ này cho dù có hình thành một tình
trạng cấp thiết liên quan đến việc thực hiện Điều ước 1977 thì Hungary cũng không
được phép dựa vào tình trạng đó để bào chữa cho việc không tuân theo những nghĩa
vụ điều ước của mình, vì Hungary đã giúp bằng hành động hay sự bỏ sót để làm cho
nó xảy ra.
Dựa trên nhũng kết luận trên, tòa nhận thấy rằng Hungary không có quyền
đình chỉ và sau đó từ bỏ vào năm 1989 những công việc của dự án Nagymaros và
một phần dự án Gabcikovo mà trách nhiệm của nó đã được quy định ở điều ước
1977 và các văn kiện liên quan.
II. Sửa đổi điều ước
1. Tranh tụng của Czechoslovakia
Việc áp dụng Variant C là phù hợp và là hành động cần thiết trong trường
hợp này
1.1 Mục đích của Variant C
Tiếp tục thực hiện đúng những nghĩa vụ của hung như đã cam kết trong
Treaty 1977.
Hạn chế hiệu quả những thiệt hại gây ra do sự đình chỉ và hành động đơn
phương chấm dứt hiệp định của Hungary. Nhưng thiệt hại đó bao gồm:
Thiệt hại về tài chính (Czechoslovakia đã sử dụng rất nhiều tiền bạc vào dự
án này
Ảnh hưởng tới khả năng thủy lợi (khả năng ngăn ngừa lũ lụt) ở khu vực sông
này
Ảnh hưởng tới khả năng về hàng hải (Navigation capacity)
Thiệt hại về khả năng khai thắc năng lượng thủy điện
Thiệt hại về môi trường (xói mòn đất,…)
Nguy cơ về sự xuống cấp nghiêm trọng của dự án đang dở dang.

3. Phán quyết của tòa
Tòa cho rằng không cần thiết để quyết định xem liệu có tồn tại một
nguyên tắc của luật quốc tế hay một nguyên tắc chung của luật về việc “áp
dụng gần đúng” – “a general principle of law of approximate application”,
bởi vì cho dù một nguyên tắc như thế có tồn tại đi chăng nữa thì nó chỉ có thể
Nguồn của Luật quốc tế – Case: Gabcikovo – Nagymaros – Date: 23/02/2009

Nhóm thuyết trình 5 Page 12

được viện dẫn trong phạm vi giới hạn của điều ước về vấn đề này. Vì thế tòa
cho rằng Variant C không đáp ứng được điều kiện quan trọng đó liên quan
đến Điều ước 1977.
Theo điều 1 của Điều ước 1977, tòa cho rằng việc xây dựng
Gabcikovo – Nagymaros System of Locks là một hệ thống những công việc
được vận hành đơn nhất – a single and indivisible operational system of
works. Điều 8 và điều 10 của điều ước cũng phản ánh yếu tố này. Điều ước
này quy định việc sở hữu chung những công việc quan trọng nhất của dự án
Gabcikovo – Nagymaros và việc vận hành những tài sản chung như một đơn
vị hợp tác đơn nhất. Với việc định nghĩa tất cả những điều trên như thế thì dự
án này có thể không được tiến hành bằng hành động đơn phương. Thay vì
đưa ra một giải pháp thay thế tương tự với dự án ban gốc về mặt vật lý bên
ngoài, Variant C do đó khác biệt hoàn toàn so với dự án gốc về mặt pháp lý.
Theo đó tòa kết luận rằng việc Cộng hòa Séc đưa Variant C vào hoạt động là
không áp dụng điều ước 1977; nhưng mặt khác lại vi phạm những quy định
riêng biệt nhất định và do đó tạo ra một hành động vi phạm luật quốc tế.
Hơn nữa, trên thực tế, việc vận hành Variant C làm cho
Czechoslovakia chiếm đoạt khoảng 80 đến 90% lượng nước sông Danube
trước khi chuyển nguồn nước về dòng chính, bất chấp thực tế là sông
Danube không chỉ là nguồn nguồn nước quốc tế chia sẻ chung mà còn là một
đường biên giới quốc tế. Czechoslovakia biện minh rằng bản chất của

việc không hoàn thành nhiện vụ của bên đối tác khác thì phải tìm kiếm giải
pháp để giảm nhẹ những thiệt hại mà anh ta phải gánh chịu. “It is a general
principle of international law that a party injured by the non – performance
of another contract party must seek to mitigate the damage he has
sustained”. Nhưng tòa cho rằng trong khi nguyên tắc này có thể cung cấp
một nền tảng cho việc tính toán những thiệt hại, nhưng mặt khác nó không
thể biện minh cho một hành động sai phạm. Hơn nữa Tòa án cho rằng việc
làm lệch đi hướng chảy của sông Danube do Cộng hòa Séc gây ra không
phải là một biện pháp trã đủa đũa hợp pháp bởi vì nó không tương xứng; bởi
vì Séc tuyên bố Variant C có thể được xem là một biện pháp trả đũa hợp lý
đối với hành động phi pháp của Hungary. "Variant C could be presented as a
justified countermeasure to Hungary's illegal acts". Tòa cho rằng, để được
coi là hợp lý thì hành động trả đũa đó phải đáp ứng những điều kiện nhất
định. Thứ nhất, nó phải được thực hiện nhằm đáp trả lại một hành động vi
Nguồn của Luật quốc tế – Case: Gabcikovo – Nagymaros – Date: 23/02/2009

Nhóm thuyết trình 5 Page 14

phạm luật quốc tế trước đó của một quốc gia khác và phải trực tiếp chống lại
quốc gia đó. Ở đây có thể thấy là việc thực hiện Variant C là phản ứng của
Czechoslovakia đối với việc Hungary đình chỉ và sau đó chấm dứt những
công việc mà được quy định đối với Hungary, và điều này trực tiếp chống lại
quốc gia đó; và tòa cũng thấy rõ rằng hành động của Hungary là phạm luật.
Thứ hai, nước bị tổn thương phải kêu gọi nước kia chấm dứt việc làm sai luật
và bồi thường cho những tổn thương đó; cũng rõ rành rằng Czechoslovakia
đã yêu cầu Hungary khôi phục lại việc thực hiện những nghĩa vụ điều ước
của Hungary trong nhiều dịp. Theo tòa, vấn đề quan trọng là phải xem xét
những ảnh hưởng của hành động trả đũa có tương xứng với những tổn
thương mà nước đó gánh chịu, kể đến những quyền lợi trong vấn đề này.
Năm 1929, Pháp viện quốc tế thường trực, liên quan đến vấn đề hàng hải trên

2 điểm sau:
- Hoạt động của hệ thống đập theo HĐ 1977 và sau đó việc đơn
phương thực hiện Variant C tạo ra mối đe dọa kinh tế và môi trường đối với
dân cư. Thứ nhất là tổn hại nghiêm trọng đối với nền nông nghiệp của
Hungary và khu vực do việc hoạt động của hệ thống đập và đe dọa cuộc sống
của các cư dân nông nghiệp ở đây.
- Các tác động nghiêm trọng trong tương lai có thể được nhìn
thấy trước như là kết quả của sự ô nhiễm nguồn nước mặt và gần mặt đất,
nguồn cung cấp nước uống cho hàng triệu người ở cả hai bên biên giới.
Thảm hoạ này đã liên tục được Hungary đưa ra thảo luận với Czechoslovakia
trong giai đoạn trước khi có thông báo hủy bỏ HĐ 1977.
- Ví dụ tầng đá Sziggetkoz là nguồn nước ngầm lớn nhất
ở Trung Âu chứa 12km3 nước, trong đó 5km3 nước thuộc lãnh thổ
Hungary. Trong Hội nghị các chuyên gia Hungary-Czechoslovakia về
sinh thái, thủy văn, địa chất, động đất, thổ nhưỡng và hoạt động sản
xuất nông nghiệp diễn ra vào 17-19/7/1989 tuyên bố rằng đây là lợi
ích sống còn cần phải được bảo vệ. Đây là nguồn cung cấp nước cho
3 triệu người (trong dài hạn là 5 triệu) ở Hungary và 5 triệu người ở
Czechoslovakia.” “It is of vital interest to keep undisturbed water
supply from Danube terrace concerned. This is the water supply for 3
million (or, in long-run, 5 million) people in Hungary and 5 million
people in Czechoslovakia.”
Nguồn của Luật quốc tế – Case: Gabcikovo – Nagymaros – Date: 23/02/2009

Nhóm thuyết trình 5 Page 16

- Hoạt động của hệ thống đập nước theo HĐ 1977 và Variant C
tạo ra nguy cơ đe dọa đối với nguồn nước ngầm này. Điều này được các
chuyên gia đáng tin cậy trong nước và quốc tế công nhận.
- Lợi ích quan trọng thứ hai của Hungary là việc bảo vệ môi


dài nhất có thể, Hungary đã cố gắng tìm kiếm sự đồng thuận của nước đó
nhưng không đạt được kết quả. Ngược lại Czechoslovakia lại quyết định thực
thi Variant C.
- Khi Hungary quyết định hủy bỏ HĐ 1977 vào tháng 5/1992,
mối nguy cơ đã rõ ràng sắp xảy ra khi ngày 23/4/1992, Thủ ttướng
Czechoslovakia trong một bức thư đã thông báo việc đơn phương chuyển
dòng Danube vào tháng 10/1992. Trong trường hợp đó, Hungary phải nhanh
chống tìm giải pháp để chóng lại hành động đơn phương đó. Khả năng pháp
lý duy nhất có thể có là hủy bỏ HĐ 1977.
1.1.3 Quyết định của Hungary là không thể tránh được
(The unavoidable character of the Hungarian decision)
- Điều kiện thứ ba của luật tập quán quốc tế là quyết định được
đưa ra có tính chất không thể tránh. Hungary đã cung cấp cho đối tác các dữ
liệu liên quan đến tác động tổn hại trong dài hạn và ngay lập tức của HĐ
1977. Hungary chỉ tiến hành các cuộc thảo luận quan trọng trong khi
Czechoslovakia lại đẩy nhanh việc xây dựng hệ thống đập. Cuối cùng, quyết
định đưa vào vận hành kế hoạch Variant C, một trong những vi phạm các
nghĩa vụ trong HĐ giữa hai bên, đã thuyết phục Hungary rằng việc tìm kiếm
các giải pháp bền vững thông qua việc xem xét lại HĐ1977 là vô vọng.
- Do sự cố chấp của Czechoslovakia, cách giải quyết cuối cùng
còn lại đối với Hungary để tránh các thiệt hại lớn hơn trong tương dẫn đến 2
vấn đề: 1) việc hủy bỏ HĐ 1977; 2) bắt đầu một tiến trình thủ tục tư pháp
nhằm giải quyết hòa bình tranh chấp.
1.1.4 Các điều kiện khác
- Hungary đã không gây ra tình trạng cần thiết.
- Hungary không gây thiệt hại cho lợi ích quan trọng của
Czechoslovakia mà ngược lại đã thông báo với nước đó về những nguy cơ
đối với môi trường sinh thái của khu vực và sức khỏe của dân cư hai nước cả
hai bờ sông.

Art. 61(1): A party may invoke the impossibility of performing
a treaty as a ground for terminating or withdrawing from it if the
impossibility results from the permanent disappearance or destruction
of an object indispensable for the execution of the treaty. If the
impossibility is temporary, it may be invoked only as a ground for
suspending the operation of the treaty.
Nguồn của Luật quốc tế – Case: Gabcikovo – Nagymaros – Date: 23/02/2009

Nhóm thuyết trình 5 Page 19

- Trong HĐ 1977, đối tượng của HĐ: 1) hệ thống đập ngăn hoạt
động an toàn trên lãnh thổ của nước liên quan, ví dụ như hệ thống không gây
ra các tác hại môi trường không thể khắc phục được; 2) sự đồng-quản-lý giữa
các bên trong một dự án mà cả hai bên đầu tư đều có lợi. Theo sự nhận thức
các quy định về môi trường sau này, đối tượng thứ nhất - hệ thống đập ngăn
an toàn với môi trường – rõ rằng đã không đạt được. Do một loạt các sự kiện
dẫn đến việc thực hiện Variant C, đối tượng của việc đồng-đầu-tư cùng
hưởng lợi đã trở nên bất khả thi. Cả hai diễn biến trên đã cho thấy tình trạng
bất khả thi theo nghĩa của Art. 61 trong VCLT hay các luật tập quán tương
ứng.
1.2.2 Sự biến mất này không phải do kết quả từ việc vi
phạm các nghĩa vụ quốc tế của Hungary (The disappearance
was not the result of a breach of the international obligations of
Hungary)
Art. 61(2): Impossibility of performance may not be invoked by a party as
a ground for terminating, withdrawing from or suspending the operation of a
treaty if the impossibility is the result of a breach by that party either of an
obligation under the treaty or of any other international obligation owed to any
other party to the treaty.
- Việc thực hiện Variant C của Czechoslovakia là một sự vi

withdrawing from a treaty it may also invoke the change as a ground for
suspending the operation of the treaty.
1.3.2 Sự thay đổi quan trọng trong hoàn cảnh trong vụ
việc này
i. Các nhân tố quan trọng
- HĐ 1977 thể hiện các mục đính sau:
o Là phương tiện để “hội nhập xã hội chủ nghĩa” thông
qua COMECON;
o Tạo một hệ thống hoạt động thống nhất, kết nối các
phần ở thượng nguồn và hạ lưu thành một hệ thống sản xuất địên;
o Là sự đồng-đầu-tư;
o Là một thỏa thuận khung cần thiết việc tái xem xét để
phù hợp với các hoạt động lập kế hoạch, khám phá và nghiên cứu;
o Là một thỏa thuận phù hợp với việc bảo vệ môi trường.
- Tuy vậy, đến năm 1992, hoàn cảnh đã thay đổi như sau:
Nguồn của Luật quốc tế – Case: Gabcikovo – Nagymaros – Date: 23/02/2009

Nhóm thuyết trình 5 Page 21

o Ý tưởng về sự “hội nhập xã hội chủ nghĩa” đã biến mất
cùng với việc COMECON tự giải tán. Liên Xô đã không cung cấp các
thiết bị như đã cam kết cho Dự án dựa trên thỏa thuận về “tín dụng
mềm” được áp dụng bên trong khối COMECON.
o Hệ thống hoạt dộng đơn nhất không còn tồn tại, với việc
đình chỉ công việc tại đập nước Nagymaros vì những quan ngại về
môi trường; đập nước ở Gabcíkovo chỉ được xây dựng đơn phương và
không phù hợp với những quy định của HĐ 1977.
o Dự án đầu-tư-chung không mang lại lợi ích cho hai bên
mà được xem như là một “sai lầm đầu tư khổng lồ” theo lời của Thủ
tướng Németh. Từ khi ký kết HĐ 1977, các tiêu chí kinh tế của dự đã

việc xây dựng kế hoạch variant C (The breach of the Treaty 1976
and 1977, inparticular through construction Variant C)
- Điều 60 của VCLT quy định về việc các bên có quyền việc dẫn
sự vi phạm của một bên tham gia để hủy bỏ hay đình chỉ điều ước quốc tế.
Article 60
Termination or suspension of the operation of a treaty as a
consequence of its breach
1. A material breach of a bilateral treaty by one of the parties
entitles the other to invoke the breach as a ground for terminating the
treaty or suspending its operation in whole or in part.
3. A material breach of a treaty, for the purposes of this article,
consists in:
(a) a repudiation of the treaty not sanctioned by the present
Convention; or
(b) the violation of a provision essential to the accomplishment
of the object or purpose of the treaty.
- Trong vụ này, Czechoslovakia đã và liên tục vi phạm các nghĩa
vụ về bảo vệ nguồn nước và môi trường theo quy định ở điều 15 và 19 của
HĐ 1977. Cụ thể là: nước này đã không điều chỉ kế hoạch xây dựng hệ thống
đập ngăn để đảm bảo chất lượng nguồn nước không bị tác động và môi
trường được bảo vệ.
Article 15. Protection of water quality
1. The Contracting Parties shall ensure, by the means specified
in the joint contractual plan, that the quality of the water in the
Nguồn của Luật quốc tế – Case: Gabcikovo – Nagymaros – Date: 23/02/2009

Nhóm thuyết trình 5 Page 23

Danube is not impaired as a result of the construction and operation
of the System of Locks.


Nhóm thuyết trình 5 Page 24

- Hungary viện dẫn Nguyên tắc Stockholm 21 theo đó các quốc
gia có nghĩa vụ không được gây ra các tổn hại lớn đối với lãnh thỗ của quốc
gia khác, hay khu vực bên ngoài thẩm quyền tài phán quốc gia.
Principle 21
States have, in accordance with the Charter of the United
Nations and the principles of international law, the sovereign right to
exploit their own resources pursuant to their own environmental
policies, and the responsibility to ensure that activities within their
jurisdiction or control do not cause damage to the environment of
other States or of areas beyond the limits of national jurisdiction.
(Declaration of the United Nations Conference on the Human
Environment, Stockholm, 1972).
- Hungary cho rằng HĐ 1977 không loại trừ việc áp dụng các
quy định luật quốc tế chung xuất hiện sau này, và các nghĩa vụ theo điều 15,
19 có thể được giải thích phù hợp với sự phát triển của luật quốc tế chung.
Và nước này có quyền giải thích điều ước như thế.
1.6 Thủ tục hủy bỏ HĐ 1977 của Hungary (The procedure
adopted by Hungary in terminating the 1977 Treaty)
- Việc hủy bỏ một điều ước không thể diễn ra một cách tự động
mà cần nước thành viên nêu ra các cơ sở pháp lý để hủy bỏ; Hungary đã nêu
ra trong Tuyên bố ngày 16/5/1992.
- Theo điều 65-67, VCLT, yêu cầu quốc gia (1) thông báo cho
bên kia tuyên bố của nó hay hay dự định hủy bỏ hay đình chỉ điều ước của
nó; (2) trừ trường hợp đặc biệt khẩn cấp, phải thông báo trước đó 3 tháng; (3)
trong trường hợp bên kia phản đối việc hủy bỏ điều ước, quốc gia phải tìm
các giải pháp thông qua các phương tiện được nêu ra trong điều 33 của Hiến
chương LHQ; (4) thông báo cho các bên khác bằng một văn bản được ký bởi

thừa kế tự động của một qúôc gia đối với một điều ước song phương. việc
thừa kế điều ước phải được thực hiện thông qua một thỏa thuận của nước đó
với các bên tham gia điều ước.
2. Tranh tụng của Czechoslovakia
Mặc dù không phải là thành viên của CƯ Viên 1969, Hungary đã tích cực sử
dụng những điều khoản có trong Công Ước _Công Ước Viên 1969 có qui định từ
điều 54- điều 62 khá cụ thể, rằng một quốc gia có thể viện dẫn một số lí do nhất
định trong một số trường hợp cụ thể để chấm dứt hoặc từ bỏ điều ước_ coi đó là
Tập quán quốc tế theo hướng có lợi cho mình mà từ chối áp dụng những điều khoản

Trích đoạn Phán quyết của tòa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status