Đề tài: Triển khai áp dụng TQM trong tổ chức doc - Pdf 12

z

MỤC LỤC

LỜI MỞ 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
1.1 Lịch sử nghiên cứu về TQM 3
1.2 Cơ sở lý luận 4
CHƯƠNG 2: ỨNG DỤNG TQM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT
NAM 13
2.1 Tổng quan về đặc điểm các doanh nghiệp ở Việt Nam 13
2.2 Tình hình triển khai áp dụng TQM ở Việt Nam 14
2.2.1 Tình hình áp dụng TQM ở Việt Nam 14
2.2.2 Thuận lợi 15
2.2.3 Khó khăn 18
2.3 Đánh giá tính hiệu quả việc ứng dụng TQM ở Việt Nam 19
CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRIỂN KHAI ÁP DỤNG
TQM MỘT CÁCH CÓ HIỆU QUẢ Ở VIỆT NAM 22
3.1 Giải pháp vĩ mô 22
3.2 Giải pháp vi mô 24
3.3 Quan điểm cá nhân 27
KẾT LUẬN 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31

Blog “Share to be shared” – Blogger Phạm Lộc
Facebook: facebook.com/phamloc120893 | Website: phamloc120893.blogspot.com
BLOG “SHARE TO BE SHARED”
LỜI MỞ

Blog “Share to be shared” – Blogger Phạm Lộc
Facebook: facebook.com/phamloc120893 | Website: phamloc120893.blogspot.com
BLOG “SHARE TO BE SHARED”
sản phẩm có chất lượng thỏa mãn và vượt sự mong muốn của họ. Trong khi đó, một
trong những vấn đề vướng mắc nhất của các doanh nghiệp nước ta hiện nay là vấn đề
quản lý chất lượng. Vì vậy, đổi mới công tác quản lý chất lượng, đặc biệt là việc áp
dụng hệ thống quản lý chất lượng, phát huy tính sáng tạo của nhân viên trong các
doanh nghiệp ở Việt Nam là rất cần thiết. Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chủ
yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhận thức cũng như nguồn kinh phí đầu tư vào vấn đề
chất lượng còn rất hạn chế. Xuất phát từ những lý do trên, nhóm 7 đã chọn đề tài
“Triển khai áp dụng TQM trong tổ chức” làm đề tài học tập và nghiên cứu.
Việc áp dụng Hệ thống Quản lý chất lượng đồng bộ (Total Quality
Management – TQM) này sẽ làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm việc cũ nhằm tạo ra một
phong cách hoàn toàn mới cho các hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.
Điều đó là nền móng cho doanh nghiệp có thể tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao
và ổn định, góp phần tăng khả năng cạnh tranh và uy tín của doanh nghiệp. Các nhà
sản xuất, phân phối và khách hàng có quyền lựa chọn sản phẩm có chất lượng với giá
cả phù hợp từ mọi nơi trên thế giới.

Blog “Share to be shared” – Blogger Phạm Lộc
Facebook: facebook.com/phamloc120893 | Website: phamloc120893.blogspot.com
BLOG “SHARE TO BE SHARED”
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN


Blog “Share to be shared” – Blogger Phạm Lộc
Facebook: facebook.com/phamloc120893 | Website: phamloc120893.blogspot.com
BLOG “SHARE TO BE SHARED”
1.2 Cơ sở lý luận
a. Một số khái niệm
 Triển khai: Việc thực hiện cái đã được định sẵn, theo ý đồ đã có từ trước mà
không có sáng tạo hay phát triển thêm cái mới nhằm đưa một nội dung công
việc nào đó vào hành động.
 Áp dụng: Đưa vào vận dụng trong thực tế điều nhận thức, lĩnh hội được.
 Tổ chức: Là một nhóm người làm việc chung với nhau nhằm mục đích điều
hành hay quản lý một công việc nào đó. Ở đây tổ chức được hiểu ở phạm vi
hẹp, đó là các doanh nghiệp, các cơ quan…
b. Vai trò của Quản lý chất lượng
 Quản lý chất lượng: Theo tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO, Quản lý chất
lượng là các hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát một tổ chức
về mặt chất lượng.
 Việc định hướng được thể hiện thông qua tầm nhìn, chiến lược, chính sách và
mục tiêu chất lượng.
 Hoạt động kiểm soát được thực hiện thông qua: yếu tố hoạch định, kiểm soát,
đảm bảo và cải tiến chất lượng.
 Ti sao phải Quản lý chất lượng?
Thị trường cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển
thì phải cung cấp được sản phẩm/ dịch vụ có chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu thị
trường.
Nguyên lý chung: khi doanh nghiệp thực hiện công tác quản lý chất lượng tốt sẽ
tạo ra được những sản phẩm và dịch vụ có chất lượng tốt. Như vậy, muốn tạo ra
sản phẩm, dịch vụ có chất lượng tốt, hiệu quả cao, tổ chức/ doanh nghiệp phải
quản lý chất lượng.
1.3 Các bước triển khai áp dụng TQM trong tổ chức

các cấp quản lý trên không thể đạt được kết quả mong muốn.
1.3.2. Tổ chức và phân công trách nhiệm
Để đảm bảo việc thực thi, TQM đòi hỏi phải có một mô hình quản lý theo chức
năng chéo. Các hoạt động của các bộ phận chức năng trong tổ chức phải vượt ra khỏi
các công đoạn, các chức năng để vươn tới toàn bộ quá trình nhằm mục đích khai thác
được sức mạnh tổng hợp của chúng nhờ việc kế hoạch hóa, phối hợp đồng bộ, hiệu
quả. Việc phân công trách nhiệm được thực hiện theo các cấp bậc sau:

Blog “Share to be shared” – Blogger Phạm Lộc
Facebook: facebook.com/phamloc120893 | Website: phamloc120893.blogspot.com
BLOG “SHARE TO BE SHARED”
a. Điều hành cấp cao
Tuy không trực tiếp sản xuất, nhưng đây là bộ phận quyết định hiệu quả hoạt động
của cả hệ thống. Có thể xem đây là giám đốc phụ trách chung về chất lượng, ngang
quyền với giám đốc phụ trách các khâu khác như giám đốc Marketing, sản xuất. Cấp
quản lý ở khâu này thuộc phòng đảm bảo chất lượng phải nhận trách nhiệm soạn thảo
và chỉ huy rành mạch đường lối chất lượng đến mọi người, ngay cả những người thuộc
cấp cao nhất của tổ chức.
b. Cấp giám sát đầu tiên
Là những người phụ trách việc quan sát tiến trình thực hiện hoạt động chất lượng
của tổ chức hay còn gọi là quan sát viên thực tế tại chỗ. Họ có điều kiện nắm vững
những hoạt động thực tiễn, diễn biến tốt hay xấu của cả hai bên: cung ứng và khách
hàng, từ đó có những tác động điều chỉnh. Cấp quản lý này có trách nhiệm hướng dẫn
thuộc cấp những phương pháp và thủ tục phù hợp, chỉ ra những nguyên nhân gây hư
hỏng và biện pháp ngăn chặn.
Để thực hiện tốt vai trò của mình, những thành viên phụ trách phòng đảm bảo chất
lượng phải thực sự nắm vững những hoạt động then chốt của mỗi nhóm trong toàn

1.3.4. Hoạch định chất lượng
Công tác hoạch định chất lượng là một chức năng quan trọng nhằm thực hiện các
chính sách chất lượng được vạch ra, bao gồm các hoạt động thiết lập mục tiêu và yêu
cầu chất lượng, cũng như các yêu cầu về việc áp dụng các yếu tố của hệ chất lượng.
Công tác hoạch định chất lượng trong doanh nghiệp cần thiết phải đề cập tới các vấn
đề chủ yếu sau:
a. Lập kế hoch cho sản phẩm
Để đảm bảo chất lượng trong quá trình sản xuất, cần thiết phải xác định, phân loại
và xem xét mức độ quan trọng của các đặc trưng chất lượng, các yêu cầu kỹ thuật cụ
thể cho từng chi tiết, từng sản phẩm một cách rõ ràng, bằng các sơ đồ, hình vẽ, kích
thước ,cũng như các hướng dẫn, những điều bắt buộc phải thực hiện nhằm thỏa mãn
nhu cầu khách hàng bên trong cũng như bên ngoài. Các yêu cầu về nguyên vật liệu
được cung cấp, thời hạn hoàn thành hợp đồng Trong doanh nghiệp cần phải xây
dựng cơ cấu mặt hàng theo các cấp chất lượng cho từng loại thị trường để có chính
sách đầu tư thích hợp.
b. Lập kế hoch quản lý và tác nghiệp
Để có thể quản lý, tác động vào quy trình, người ta phải lập kế hoạch tỉ mỉ mọi
công việc. Thông thường doanh nghiệp phải lập sơ đồ khối và lưu đồ để mô tả toàn
diện về những công việc cần phải quản lý.
Blog “Share to be shared” – Blogger Phạm Lộc
Facebook: facebook.com/phamloc120893 | Website: phamloc120893.blogspot.com
BLOG “SHARE TO BE SHARED”
Trong sản xuất, việc xây dựng các sơ đồ với sự tham gia của mọi thành viên trong
dây chuyền sẽ giúp hình thành và phát triển hoạt động đồng đội, tạo điều kiện để cải
tiến quy trình, nâng cao chất lượng công việc. Việc xây dựng sơ đồ để quản lý có thể
sử dụng cho các yếu tố của sản xuất như: Con người, vật liệu, thiết bị, thông tin…
c. Lập các kế hoch, phương án và đề ra những quy trình cải tiến chất lượng

những sai lệch trong việc thực hiện hợp đồng, giảm lãng phí tới mức thấp nhất.
Tuy nhiên, hệ thống chất lượng tự nó cũng sẽ không mang lại lợi ích gì nếu không
có sự tham gia của tất cả mọi thành viên trong tổ chức một cách tự nguyện và tích cực.
Để thành công, hệ thống chất lượng cần phải được xây dựng tỉ mỉ, chính xác, phù hợp
với hoàn cảnh, lĩnh vực hoạt động cụ thể của từng doanh nghiệp và môi trường, đồng
thời phải phối hợp đồng bộ với các hệ thống đã và sẽ có trong doanh nghiệp. Mặt
khác, nó phải được xây dựng với sự tham gia của các thành viên để mọi người có thể
hiểu rõ về hệ thống chất lượng trong doanh nghiệp.
1.3.7. Theo dõi bằng thống kê
Để thực hiện các mục tiêu của công tác quản lý và nâng cao chất lượng, TQM đòi
hỏi không ngừng cải tiến quy trình bằng cách theo dõi và làm giảm tính biến động của
nó nhằm:
 Xác định khả năng đáp ứng được các yêu cầu của quy trình.
 Khả năng hoạt động thường xuyên theo yêu cầu.
 Tìm ra những nguyên nhân gây ra những biến động trong quy trình để tránh lập
lại và xây dựng những biện pháp phòng ngừa.
 Thực hiện các biện pháp chỉnh lý đúng đắn cho quy trình hoặc các đầu vào của
nó khi có các vấn đề trục trặc ảnh hưởng đến chất lượng.
1.3.8. Kiểm tra chất lượng
Quá trình kiểm tra chất lượng trong TQM là một hoạt động gắn liền với sản xuất.
Nó không đơn thuần là công việc kỹ thuật mà còn bao gồm các biện pháp tổng hợp và
đồng bộ về tổ chức, kinh tế, giáo dục, hành chính, nhằm loại bỏ hay kiểm soát những
nguyên nhân của sai sót và trục trặc chất lượng trong hệ thống và cũng trên cơ sở đó
tiến hành các hoạt động cải tiến, nâng cao và hoàn thiện chất lượng.
Kiểm tra chất lượng trước khi sản xuất
 Kiểm tra tình trạng chất lượng và việc cung cấp các hồ sơ tài liệu thiết kế, công
nghệ.
 Kiểm tra tình trạng các phương tiện đo lường, kiểm nghiệm.
tốt hơn. Sự hợp tác nhóm được hình thành từ lòng tin cậy, tự do trao đổi ý kiến và đặc
biệt là sự thông hiểu công việc của các thành viên đối với những mục tiêu, kế hoạch
chung của doanh nghiệp.
Blog “Share to be shared” – Blogger Phạm Lộc
Facebook: facebook.com/phamloc120893 | Website: phamloc120893.blogspot.com
BLOG “SHARE TO BE SHARED”
Các hoạt động quản lý và cải tiến chất lượng đòi hỏi phải có sự hợp tác nhóm và
các mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau. Mục tiêu hoạt động của các tổ, nhóm chất lượng
thường là tập trung vào các vấn đề cụ thể, qua sự phân tích, thảo luận, hiến kế của các
thành viên sẽ chọn ra các giải pháp tối ưu, khả thi nhất. Hoạt động của các nhóm chất
lượng trong doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú, nếu được quản lý tốt sẽ mang lại
hiệu quả rất lớn trong việc thực hiện chương trình TQM một cách nhanh chóng và tiết
kiệm.
1.3.10. Đào tạo và huấn luyện về chất lượng
Để thực hiện việc cam kết tham gia quản lý, cải tiến chất lượng ở tất cả mọi thành
viên trong doanh nghiệp cần phải có một chương trình đào tạo, huấn luyện cụ thể, tiến
hành một cách có kế hoạch và thường xuyên để đáp ứng những thay đổi về công nghệ
cũng như thích ứng một cách nhanh chóng với những yêu cầu về sản phẩm ngày càng
đa dạng của thị trường. Yêu cầu của việc đào tạo, huấn luyện:
 Phải đảm bảo rằng mọi nhân viên đều được đào tạo, huấn luyện đúng đắn để họ
có thể thực thi đúng nhiệm vụ được phân công.
 Nhân viên hiểu rõ được các yêu cầu của khách hàng.
 Những lĩnh vực nào cần ưu tiên cải tiến hoạt động
 Xây dựng các kế hoạch nhân sự lâu dài, chuẩn bị cho tương lai.
 Cần phải soạn thảo thêm các thủ tục, tiêu chuẩn nào?
Việc đào tạo về chất lượng trong doanh nghiệp cần phải thực hiện cho mọi cấp
quản trị và nhân viên với những nội dung thích hợp:

tự thực hiện các công đoạn của TQM từ am hiểu, cam kết cho đến việc thiết lập hệ
thống chất lượng, kiểm soát, hợp tác nhóm, đào tạo…

Blog “Share to be shared” – Blogger Phạm Lộc
Facebook: facebook.com/phamloc120893 | Website: phamloc120893.blogspot.com
BLOG “SHARE TO BE SHARED”
CHƯƠNG 2:
ỨNG DỤNG TQM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
2.1 Tổng quan về đặc điểm các doanh nghiệp ở Việt Nam
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là những doanh nghiệp (DN) có quy mô nhỏ
về vốn, lao động hay doanh thu.
DNNVV có những lợi thế nhất định trong môi trường kinh doanh. Thứ nhất, các
DNVVN năng động, linh hoạt trước những thay đổi của thị trường; đặc biệt là nhu cầu
nhỏ, lẻ, có tính địa phương bởi những doanh nghiệp này có khả năng chuyển hướng
kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh, tăng giảm lao động dễ dàng, nơi làm
việc của người lao động có tính ổn định và ít bị đe doạ mất nơi làm việc. Trong khi đó,
người lao động ở các doanh lớn dễ bị mất việc làm hơn, đặc biệt có suy thoái kinh tế.
Thứ hai, DNNVV tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý linh hoạt, gọn nhẹ, các quyết định
quản lý thực hiện nhanh, công tác kiểm tra, điều hành trực tiếp. Qua đó góp phần tiết
kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp. Thứ ba, lượng vốn đầu tư ban đầu ít, hiệu quả cao,
thu hồi nhanh, điều đó tạo sức hấp dẫn trong đầu tư sản xuất kinh doanh mọi thành
phần kinh tế vào khu vực này.
Bên cạnh những thế mạnh thì DNNVV tồn tại không ít hạn chế. Thứ nhất, nguồn
vốn tài chính hạn chế, đặc biệt nguồn vốn tự có cũng như bổ sung để thực hiện quá
trình tích tụ, tập trung nhằm duy trì hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh. Thứ hai, cơ sở
vật chất kỹ thuật, trình độ công nghệ kỹ thuật thường yếu kém, lạc hậu; nhà xưởng, nơi
làm việc trực tiếp và trụ sở giao dịch, quản lý của đa phần các DN nhỏ rất chật hẹp.

kiện thuận lợi cho DN trong đó có các DNNVV.
2.2 Tình hình triển khai áp dụng TQM ở Việt Nam
2.2.1 Tình hình áp dụng TQM ở Việt Nam
Các doanh nghiệp Việt Nam đã nhận thấy rằng: Nền kinh tế nước nhà đang trong
quá trình cạnh tranh hội nhập với khu vực và thế giới. Do đó, vấn đề nâng cao chất
lượng sản phẩm của doanh nghiệp là điều hết sức quan trọng. Một mặt để cạnh tranh
với hàng ngoại nhập ồ ạt tràn vào Việt Nam, mặt khác tạo điều kiện để hàng Việt Nam
vươn ra thị trường thế giới.
Từ nhận thức trên, các doanh nghiệp Việt Nam những năm gần đây đã chú trọng
vấn đề chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để
nâng cao hiệu quả của công tác quản lý này. Ở Việt Nam hiện nay đã có nhiều DN áp
dụng hệ thống quản lý chất lượng quốc tế. Một số tiêu chuẩn được áp dụng phổ biến
như ISO 9000, HACCP…đó là những dấu hiệu đáng mừng của chúng tá trong những
bước đi trên con đường tiến tới kỷ nguyên chất lượng.
Blog “Share to be shared” – Blogger Phạm Lộc
Facebook: facebook.com/phamloc120893 | Website: phamloc120893.blogspot.com
BLOG “SHARE TO BE SHARED”
TQM là một hệ thống quản lý chất lượng đem lại những thành công rực rỡ cho
Nhật Bản. Hiện nay, trên thế giới đã có hàng ngàn tổ chức, DN thực hiện thành công
TQM. Nhưng ở Việt Nam con số này còn quá ít do sự mới mẻ của phương thức quản
lý. Những số liệu thực tế cho thấy, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các
DNNVV nói riêng vẫn chưa mấy quan tâm đến hệ thống quản lý chất lượng tổng thể
TQM. Số lượng các doanh nghiệp áp dụng TQM còn rất ít và chủ yếu là các doanh
nghiệp lớn, có quy mô tiềm lực tài chính mạnh như Vinamilk, Cadivi hoặc các công ty
liên doanh hoặc FDI như Toyota, Honda, Sony, Matsushita,… Theo Báo cáo đánh giá
kết quả áp dụng TQM ở các doanh nghiệp áp dụng thí điểm thuộc đề tài “Triển khai áp
dụng hệ thống quản lý chất lượng toàn diện TQM trong các doanh nghiệp” của Trung

về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị
trường như giãn thời gian nộp thuế VAT, giảm tiền thuê đất, tái cơ cấu nợ…
Thứ hai, chiều 20/05/2013, tại kỳ họp Quốc hội lần thứ 5 khóa XIII, Phó thủ
tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh đã trình bày tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo tờ trình của Chính phủ
trước Quốc hội, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành quy định mức thuế
suất phổ thông là 25%. Để thực hiện chiến lược cải cách thuế đến năm 2020 là
giảm dần mức động viên, tại Khoản 6, Điều 1 Dự thảo luật quy định từ
1/1/2014 áp dụng mức thuế suất phổ thông là 22%; doanh nghiệp sử dụng dưới
200 lao động và có tổng doanh thu năm không quá 20 tỉ đồng được áp dụng
thuế suất phổ thông 20% kể từ 1/7/2013. Nếu luật sửa đổi mới được đưa vào áp
dụng thì những quy định về giảm thuế suất và lộ trình giảm thuế suất sẽ góp
phần rất lớn tạo điều kiện cho DN tích lũy vốn, mở rộng sản xuất, nâng cao tính
cạnh tranh, đẩy mạnh, khuyến khích thu hút đầu tư, phát triển sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp…v v
Như vậy sự hỗ trợ tích cực, đúng đắn, kịp thời của Chính phủ góp phần quan trọng vào
sự phát triển của DN, đặc biệt là các DNNVV. Có môi trường hoạt động tốt, những
chính sách khuyến khích hỗ trợ mạnh từ phía nhà nước, các DNNVV mới có thể phát
triển bền vững và có điều kiện tốt để ứng dụng công cụ quản lý chất lượng như TQM.
b. Sự phát triển của khoa học công nghệ
Ngày nay với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ đang làm cho cuộc
sống con người thay đổi từng ngày, từng giờ. Sự đóng góp của khoa học công nghệ đã
tạo ra năng suất lao động cao hơn, chất lượng hàng hóa tốt hơn, giá thành rẻ hơn góp
phần cạnh tranh có hiệu quả trên thị trường thế giới. Khoa học công nghệ không chỉ
mang lại tiện ích cho cuộc sống con người mà còn vô cùng quan trọng đối với hoạt
Blog “Share to be shared” – Blogger Phạm Lộc
Facebook: facebook.com/phamloc120893 | Website: phamloc120893.blogspot.com

và kinh doanh. Hàm lượng công nghệ trong mỗi sản phẩm sẽ góp phần là tăng tính
Blog “Share to be shared” – Blogger Phạm Lộc
Facebook: facebook.com/phamloc120893 | Website: phamloc120893.blogspot.com
BLOG “SHARE TO BE SHARED”
cạnh tranh cũng như chất lượng của từng sản phẩm. Nhưng bước tiến quan trọng nhất
trong việc hội nhập mở cửa và tiếp thu công nghệ đó là công nghệ quản lý, chính sự
quản lý chuyên nghiệp sẽ làm thay đổi cách thức làm việc và tác phong công nghiệp
trong sản xuất, thay đổi được thói quen tập tục gắn liền với nông nghiệp của Việt
Nam. Như vậy có thể thấy, hội nhập kinh tế quốc tế và mở cửa cửa thị trường tạo ra rất
nhiều cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp Việt Nam, kéo theo đó là sự phát triển
của hoạt động quản lý chất lượng.
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều công ty áp dụng thành công TQM. Nước ta hiện
nay cũng có một vài công ty đang triển khai TQM một cách tương đối bài bản như
Công ty liên doanh Toyota Việt Nam, Công ty liên doanh Cotas Tootal Phong Phú,
Công ty Castrol Việt Nam… Đây là môi trường thuận lợi để các doanh nghiệp Việt
Nam học hỏi kinh nghiệm, áp dụng những cải tiến mới của TQM vào thực tiễn doanh
nghiệp của mình.
2.2.3 Khó khăn
a. Tình hình kinh tế xã hội hiện nay
- Tình hình thế giới: Đến cuối năm 2012 và 4 tháng đầu năm 2013, nền kinh tế thế giới
vẫn tiếp tục có những bấp bênh rất lớn, phản ánh chiều hướng đan xen suy giảm và tạo
đà phục hồi kinh tế trong khó khăn. Ngay từ những tháng đầu năm 2012, tất cả các tổ
chức tài chính quốc tế đều liên tục điều chỉnh dự báo, lúc tăng, lúc giảm. Tổng kết
kinh tế cả năm, các đánh giá đều đi đến một quan điểm chung: năm 2012 là năm có
mức tăng trưởng kinh tế và công nghiệp thấp nhất, thương mại kém nhất trong ba năm
gần nhất trên phạm vi toàn cầu, lẫn các nền kinh tế thu nhập cao và các nền kinh tế
đang phát triển, kể cả các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ.

mại trên địa bàn cả nước vẫn diễn biến phức tạp. Trong năm 2012, chỉ riêng thành phố
Hồ Chí Minh, lực lượng QLTT đã kiểm tra xử phạt trên 4.000 vụ vi phạm về hàng
nhập lậu và buôn bán hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại, thu trên 114,4 tỉ đồng,
trị giá hàng tiêu huỷ đạt 12,3 tỉ đồng. Như vậy, có thể thấy tình trạng gian lận thương
mại, hàng nhái, hàng giả đang gây khó khăn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các
doanh nghiệp ứng dụng các công cụ quản lý chất lượng và có các sản phẩm đạt chất
lượng tốt. Các doanh nghiệp sẽ không mặn mà với việc bỏ ra rất nhiều chi phí và công
sức để ứng dụng một công cụ quản lý chất lượng, cải tiến sản phẩm khi mà các sản
phẩm và công nghệ của họ có thể dễ bị làm nhái, làm giả trên thị trường.
2.3 Đánh giá tính hiệu quả việc ứng dụng TQM ở Việt Nam
a. Nhận xét:
Blog “Share to be shared” – Blogger Phạm Lộc
Facebook: facebook.com/phamloc120893 | Website: phamloc120893.blogspot.com
BLOG “SHARE TO BE SHARED”
Từ những kinh nghiệm thực tế, người ta nhận thấy rằng những kết quả thu được từ
những hoạt động cải tiến chất lượng ứng dụng TQM của doanh nghiệp sẽ mang lại
những ưu thế sau:
 Nhờ thường xuyên có những hoạt động cải tiến chất lượng, doanh nghiệp có thể
nâng cao uy tín của mình trên thương trường, tăng thu nhập một cách ổn định
nhờ chất lượng sản phẩm, dịch vụ đáp ứng được những đòi hỏi của khách hàng.
 Trong doanh nghiệp có thể thống nhất được mọi nỗ lực của tất cả các cán bộ,
lôi kéo được sự tham gia của mọi thành viên vào các hoạt động cải tiến, nâng
cao chất lượng một cách đồng bộ tạo ra một hệ thống hoạt động nhịp nhàng.
 Trong quá trình thực thi TQM, việc phân tích quá trình sản xuất và chất lượng
bằng các công cụ thống kê cho phép nghiên cứu chính xác hơn các kết quả thu
được và nguyên nhân của chúng.
 Việc áp dụng TQM một cách rộng rãi là một cơ sở vững chắc để tiếp thu, quản

BLOG “SHARE TO BE SHARED”
CHƯƠNG 3:
KIẾN NGHỊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRIỂN KHAI ÁP DỤNG TQM
MỘT CÁCH CÓ HIỆU QUẢ Ở VIỆT NAM
3.1 Giải pháp vĩ mô
3.1.1 Ổn định kinh tế
Kinh tế nước nhà khó khăn, DN không thể phát triển một cách ổn định và an toàn.
Thời gian qua, một phần do khủng hoảng kinh tế thế giới tác động, nước ta lại phải
ứng phó với nhiều khó khăn kinh tế nội tại kéo dài, quan điểm còn những vướng mắc,
nên cải cách thể chế chậm, nhất là về cạnh tranh chống độc quyền, ngân hàng, doanh
nghiệp nhà nước, đầu tư công, thị trường bất động sản DN trong nước phải chịu ảnh
hưởng ít nhiều bởi những tác động bất lợi từ những bất cập trên.
Để tạo được niềm tin, sự ổn định cho các doanh nghiệp an tâm phát triển, chính
phủ cần có những chính sách thiết thực và hiệu quả để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh
tế vĩ mô duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ
cấu lại nền kinh tế, thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Có như vậy những chiến
lược phát triển của DN nói chung và kế hoạch chất lượng dài hạn mới có thể được thực
hiện một cách suông sẻ, không bị đứt khúc, gián đoạn giữa chừng. Bởi sự thành công
của TQM phải được kiểm chứng qua thời gian dài, với những bất ổn kinh tế vĩ mô tác
động mạnh như hiện nay, việc các DN vẫn còn e dè sử dụng TQM không phải là
không có lý. Chính vì vậy, giải thành công bài toán ổn định kinh tế vĩ mô sẽ là bước
đầu thuận lợi nhất để đem đến sự thành công cho DN áp dụng TQM trong quản trị chất
lượng.
3.1.2 Chính sách quản lý nhà nước về chất lượng
Mục tiêu quản lý chất lượng của Nhà nước Việt Nam là “để đảm bảo nâng cao
chất lượng hàng hóa, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng, sử dụng hợp lý nguồn tài
nguyên thiên nhiên và lao động, bảo vệ môi trường, thúc đẩy tiến bộ khoa học và công
nghệ, tăng cường năng lực quản lý nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác
kỹ thuật, kinh tế và thương mại quốc tế” (Pháp lệnh Chất lượng Hàng hóa 1999).

Quy chế thực hành sản xuất tốt trong lĩnh vực dược và thực phẩm, OHSAS 18001 –
Hệ thống quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, SA 8000 Hệ thống trách nhiệm xã
hội và các hệ thống quản lý chất lượng tích hợp hoặc đặc thù như ISO 22000 Hệ thống
quản lý an toàn thực phẩm (food chain), ISO/TS 29001 Công nghiệp dầu khí và hóa
dầu – Hệ thống quản lý chất lượng trong các ngành công nghiệp đặc thù - yêu cầu đối
với các tổ chức cung cấp sản phẩm và dịch vụ. Tuy nhiên, đối với hệ thống TQM,
chúng ta mới chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền phổ biến và một vài dự án hỗ trợ áp
Blog “Share to be shared” – Blogger Phạm Lộc
Facebook: facebook.com/phamloc120893 | Website: phamloc120893.blogspot.com
BLOG “SHARE TO BE SHARED”
dụng chứ chưa xây dựng được hệ thống đánh giá và chứng nhận cho các doanh nghiệp
thực hiện hệ thống này. Mặc dù chỉ là một chứng nhận trong nước và do các cơ quan
quản lý nhà nước cấp chứ không đươc công nhận rộng rãi trên phạm vi toàn cầu như
ISO nhưng nếu được chứng nhận nó sẽ tạo môi trường khuyến khích và động lực thúc
đẩy các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các DNNVV triển khai công cụ này.
3.1.4 Nâng cao nhận thức cho các doanh nghiệp về TQM
Việc TQM là một hệ thống quản lý chất lượng được đánh giá tính hiệu quả rất cao
lại ít phổ biến tại Việt Nam một phần do nhận thức về TQM của các DN Việt Nam còn
rất sơ khai. Trong xu thế chất lượng ngày càng được chú trọng như hiện nay, sự cần
thiết áp dụng TQM ngày càng được thúc đẩy. Vì vậy, nhà nước nên thông qua các
phương tiện thông tin để tuyên truyền, quảng bá lợi ích của việc áp dụng hệ thống
TQM trong các doanh nghiệp, cho họ nhận thức được rằng việc thực hiện các biện
pháp quản lý chất lượng là thiết thực cho sự tồn tại và đi lên của doanh nghiệp. Khi
các DN nắm bắt chậm, nhà nước có vai trò quan trọng để thay đổi, truyền bá những
thông tin cần thiết tới DN; các cấp lãnh đạo phải tổ chức thực hiện việc tuyên truyền
một cách tích cực vì lợi ích của DN cũng là vì lợi ích của kinh tế nước nhà. Nói như
vậy không có nghĩa tuyên truyền ồ ạt, thiếu hợp lý, cũng không phải chỉ tiến hành theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status