Lời cám ơn
* *
*
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lê Thái Bạt tận tình hướng dẫn tôi
thực hiện luận văn, cũng như các thày cô đã truyền đạt cho tôi những kiến
thức trong khoá học này.
Tôi xin cảm ơn các thày, các cô và các anh chị em trong phòng Đào tạo
Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt nam, các đồng chí lãnh đạo Viện
Điều tra Qui hoạch rừng, Phân viện Viện Điều tra Qui hoạch rừng Tây Bắc bộ
đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu đề tài.
Tôi xin cảm ơn lãnh đạo, cán bộ và bà con nông dân huyện Tủa chùa
tỉnh Lai châu đã cộng tác, giúp đỡ tôi rất nhiệt tình trong quá trình điều tra thu
thập số liệu, thông tin, mẫu vật tại địa phương.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn Đồng giám đốc Dự án Phát triển Nông thôn
Sơn La- Lai Châu, Cố vấn trưởng Dự án Lâm nghiệp xã Hội Sông Đà, các
bạn bè, đồng nghiệp và gia đình luôn giúp đỡ động viên tôi trong hai năm học
qua.
Hà Nội, ngày tháng 9 năm 2003
K.S Phạm Văn Việt
1
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
K.S Phạm văn Việt
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 8
1. Tính cấp thiết của đề tài 8
2. Mục đích của đề tài 10
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 10
3.3 Nghiên cứu nguyên nhân suy thoái tài nguyên đất và rừng 47
3.3.1 Đánh giá canh tác nông nghiệp có sự tham gia 47
3.3.2 Nguyên nhân suy thoái tài nguyên đất và rừng 49
3.3.3 Giải pháp theo kết quả PRA 49
3.3.4 Đánh giá công tác quản lý rừng có sự tham gia 50
3.3.5 Nguyên nhân suy thoái rừng 52
3.3.6 Các vấn đề của phụ nữ 52
3.4 Ảnh hưởng khách quan đến sử dụng tài nguyên đất và rừng 53
3.5 Các hình thức quản lý và sử dụng tài nguyên đất và rừng
của người H'Mông 55
3.5.1 Người quản lý và sử dụng tài nguyên đất và rừng 55
3.5.2 Hệ thống quản lý tài nguyên đất và rừng 62
3.6 Khả năng tiếp nhận các tiến bộ kỹ thuật từ bên ngoài
4
của cộng đồng người H'Mông 65
3.6.1 Các hoạt động thử nghiệm nông nghiệp tại Sính Phình và
Trung thu của Dự án Phát triển Lâm nghiệp Xã hội Sông Đà 65
3.6.2 Một số hoạt động lâm nghiệp tại Sính Phình và Trung Thu
của Dự án Phát triển Lâm nghiệp Xã hội Sông Đà từ 1996-1999 68
3.7 Các phương án quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên đất và
rừng bền vững 69
3.7.1 Mục tiêu 69
3.7.2 Các phương án quản lý tài nguyên đất và rừng bền vững 70
3.7.2.1 Các hoạt động công việc ưu tiên dựa vào kết quả đánh giá
nông thôn có sự tham gia xã Trung Thu 70
3.7.2.2 Các hoạt động công việc ưu tiên dựa vào kết quả đánh giá
nông thôn có sự tham gia xã Sính Phình 71
3.7.2.3 Lựa chọn các hình thức quản lý đất và rừng có triển vọng 72
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
1 Kết luận 87
23. TH: Tập huấn
24. TN: Thử nghiệm
25. BVR: Bảo vệ rừng
26. CT/TW: Chỉ thị/ Trung Ương
27. SP: xã Sính Phình
28. MB: xã Mường Báng
29. TT: xã Trung Thu
30. MH: Mô hình
31. NL: Nông lâm
32: DT: diện tích
33. HT: hỗ trợ
34. LNXH: lâm nghiệp xã hội
35. SX: Sản xuất
36. TTNCLN Phù Ninh: Trung tâm
nghiên cứu lâm nghiệp Phù Ninh
37. CĐ: Cộng đồng
38. CHXHCN: Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa
39. CHLB: Cộng hoà liên bang
6
18. QĐ-TCĐC: Quyết định - Tổng
Cục Địa Chính
19. KT IPM: kỹ thuật phòng trừ sâu
hại tổng hợp
40. GCNQSD Đ: Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất
41. TT-LT: Thông tư liên tịch
42. QĐ-TTg: quyết định-Thủ Tướng
Chính Phủ
7
Huyện Tủa Chùa là một trong các huyện nằm trong lưu vực sông Đà
nơi cung cấp nước phục vụ cho nhà máy thuỷ điện Hoà Bình, và đập thuỷ
điện Tạ Bú trong tương lai. Ở đây dân tộc H’Mông là một trong các dân tộc
thiểu số có số dân chiếm 73% dân trong huyện, cũng là một trong các dân tộc
chính tại vùng Tây Bắc. Là dân tộc sống chủ yếu bằng hệ canh tác nương rãy
truyền thống từ nhiều năm nay và sẽ còn tồn tại trong tương lai. Mối quan hệ
giữa sử dụng đất nương rãy và rừng có liên quan mật thiết với nhau, ảnh
hưởng lẫn nhau. Phát triển rừng nhiều thì diện tích canh tác nương rãy luân
canh bị thu hẹp lại và ngược lại đất luân canh càng nhiều thì chứng tỏ rừng
càng bị phá nhiều. Hài hoà 2 nguồn tài nguyên trên nhằm ổn định và không
ngừng phát triển rừng đồng thời ổn định đờì sống kinh tế của đồng bào dân
tộc là một câu hỏi lớn cho các nhà khoa học, các nhà quản lý.
Đánh giá quản lý và sử dụng tài nguyên của họ nhằm phát huy những
truyền thống tốt về quản lý tài nguyên và vận dụng hợp lý linh hoạt các tiến
bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất lương thực, quản lý và bảo vệ, sử dụng
rừng nhằm nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc H’Mông đồng thời giữ
vững và phát triển nguồn tài nguyên quí giá.
Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang chuyển sang kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghiã, sự phát triển kinh tế xã hội trên lãnh thổ vùng
Tây Bắc có những biến đổi rõ rệt. Thông qua sự vận động của người dân
trong vùng, sự hỗ trợ từ bên ngoài qua các chương trình phát triển nông thôn
Miền núi của Chính Phủ và các chương trình viện trợ không hoàn lại từ nhiều
9
nước trên thế giới đã tạo cơ hội cho các ngành giao thông phát triển, tạo điều
kiện thuận lợi cho dân H'Mông tiếp xúc với nền văn minh, dẫn tới nhu cầu vật
chất và văn hoá ngày càng lớn. Nếu không đánh giá đúng hiện trạng quản lý
tài nguyên đất và rừng của họ dân sẽ dẫn tới sự đầu tư kém hiệu quả, nảy sinh
mâu thuẫn, nhân dân mất lòng tin vào Đảng và Nhà Nước, làm cản trở sự phát
triển của vùng.
Do đó chúng tôi đã “ Đánh giá quản lý tài nguyên đất và rừng của
đất, nguồn tài nguyên rừng ngày càng cạn kiệt, gây ảnh hưởng lớn đến sự phát
triển kinh tế - xã hội nói chung của huyện Tủa Chùa.
Vì vậy, nghiên cứu đánh giá quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên đất,
rừng nhằm phát huy thuần phong mỹ tục của Người H’Mông đồng thời áp
dụng các phương án quản lý tài nguyên hợp lý có một ý nghĩa khoa học, đồng
thời là mô hình cho các xã nguời H’Mông lân cận học tập là việc làm cấp
bách hiện nay. Đồng thời làm tài liệu tham khảo cho các Dự án tài Tủa Chùa
đầu tư đúng theo yêu cầu nguyện vọng của dân.
4. Phạm vi nghiên cứu : Xã Trung Thu, xã Sính Phình huyện Tủa Chùa
tỉnh Lai Châu.
11
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ
TÀI
1.1. Khái niệm về cộng đồng và các hình thức tổ chức của cộng đồng:
1.1.1. Khái niệm về cộng đồng
Theo ( Dr. Nguyễn Hồng Quân - Mr. Tô Đình Mai ) [01], Từ ngữ
"cộng đồng" theo thực tế xã hội nước ta có thể được định nghĩa chung nhất là:
"Cộng đồng bao gồm toàn thể những người sống thành một xã hội có những
điểm giống nhau và có các mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau". Như vậy
tính chất giống nhau về một đặc điểm hoặc một điểm nào đó là yếu tố hình
thành nên những quan hệ cộng đồng trong xã hội.
Có nhiều loại cộng đồng khác nhau: cộng đồng sắc tộc, cộng đồng làng
(thôn, bản), xã, cộng đồng tôn giáo... Sự gắn bó của một cộng đồng thường
thể hiện qua các lệ tục, các qui ước thành văn bản hoặc không thành văn bản
nhiều hơn là thể hiện bằng một hình thức tổ chức của một pháp nhân kinh tế.
Do đó, để quản lý tài nguyên rừng một cách hiệu quả và bền vững,
không thể bỏ qua việc phát huy vai trò của cộng đồng người dân sống gần
rừng trong việc bảo vệ và phát triển rừng.
b. Hình thức tổ chức cộng đồng
chất kinh tế bền vững và qui mô nhỏ... thích ứng cho môi trường địa phương,
vừa tầm với các nguồn lực của nông dân sẽ không dễ.
Phát triển bền vững
13
Các quan điểm
Phát triển bền vững là sự phát triển đem lại lợi ích lâu dài về mặt kinh
tế, xã hội và môi trường mà nó quan tâm đến nhu cầu của thế hệ tương lai. Uỷ
ban môi trường và phát triển thế giới đã định nghĩ là:' Sự phát triển nhằm thoả
mãn những nhu cầu mà thế hệ hiện tại không làm tổn thương đến khả năng
thoả mãn nhu cầu của các thế hệ mai sau.
Như vậy việc làm thoả mãn những nhu cầu và ước vọng của con người
là mục tiêu chính của sự phát triển. Sự phát triển bền vững quan tâm đến tài
nguyên thiên nhiên, chú ý đến chọn lựa và bảo vệ kế hoạch hành động thoả
mãn nhu cầu cho mọi đối tượng. Nó cho phép sử dụng tốt nhất nguồn tài
nguyên có thể bị suy thoái, và chú ý đến việc dùng thay thế bằng một tài
nguyên khác đúng lúc. Sự phát triển bền vững kêu gọi hơn nữa việc bảo vệ hệ
thống nhiên nhiên và nguồn tài nguyên cơ sở mà mọi sự phát triển đều phải
dựa vào nó.
Quan điểm phát triển bền vững là sự phát triển trước mắt và lâu dài
không mâu thuẫn, phát triển trước mắt phải tạo cơ sở cho phát triển lâu dài.
Phát triển là sự biến đổi theo thời gian, theo nhịp điệu và theo luỹ tiến, các
quá trình của các giai đoạn phát triển đều được biểu thị bởi véc tơ định hướng
bền vững, hài hoà giữa mục tiêu sinh thái và mục tiêu kinh tế, véc tơ định
hướng đó được đo bằng véc tơ tổng hợp GDP, các tiêu chuẩn chất lượng cuộc
sống và tiêu chuẩn môi trường.
Tuy nhiên mọi sự phát triển đều có tính mâu thuẫn, nó diễn ra đấu tranh
giữa các xu thế đối lập. Trong sinh thái học, đó là mâu thuẫn giữa sinh vật
thích nghi với môi trường, giữa phát triển với bảo vệ môi trường.
Phát triển bền vững là mục tiêu, là phương châm cho các hoạt động phát
triển xã hội của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc.
đủ dài để phục hồi năng xuất thì phương thức canh tác này còn thích ứng vì
còn đáp ứng với nhu cầu lương thực và các nhu cầu tự cấp khác của cư dân
bản địa.
Lorri Ann Thripp và Cs (1997)[83] tổng kết các kết quả nghiên cứu và
quan điểm về nông nghiệp du canh truyền thống cho rằng: du canh truyền
thống theo kiểu quay vòng là một trong những hình thái sử dụng, quản lý tài
nguyên rừng và đất một cách khôn ngoan của người dân bản địa. Thực chất
đây là hình thức sử dụng đất tương đối hợp lý bằng cách quản lý chu trình
dinh dưỡng đất ( độ phì) vùng nhiệt đới thông qua quản lý thảm thực vật.
Theo Kynma. K và Pairitra C. (1983)[80] thì với thời kỳ bỏ hoá còn đủ dài
để đảm bảo cho du canh truyền thống đạt được những hiệu quả sau đây:
- Chất dinh dưỡng như ( P,K) từ tro đốt rãy và từ phân giải chất hữu cơ
đất (như N) đủ cung cấp cho cây trồng không cần đến phân bón.
- Hạn chế xói mòn, giúp cây bụi dễ mọc trở lại nhờ thời kỳ canh tác
ngắn so với thời kỳ bỏ hoá.
Thông thường người ta phân biệt 3 kiểu nông nghiệp du canh:
- Nông nghiệp du canh quay vòng.
- Nông nghiệp du canh cải tiến.
- Nông nghiệp du canh hỗ trợ.
Theo Chorlay và Kennedy (1971)[63] thì du canh là phương thức canh
tác tự cấp tốt nhất mà sự đầu tư duy nhất chỉ là lao động. Nó giữ được gần
như bền vững khi mật độ dân số còn thấp, nhưng không phù hợp với mật độ
dân số tăng nhanh.
Du canh là phương thức cổ truyền của nhân dân ở nhiều vùng rừng núi
thuộc Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ. Đó là các hệ thống sử dụng đất rất đa
16
dạng và phức tạp được phổ biến rộng rãi từ 10.000 năm trước công nguyên ở
nhiều vùng sinh thái khác nhau từ vùng rừng núi đến vùng đồng bằng, từ rừng
nhiệt đới đến đồng cỏ Savan.
Hệ thống nông nghiệp theo kiểu du canh và du mục ở vùng Tiểu Á có
Chuyển từ du canh truyền thống sang du canh cải tiến sang định canh
với nhiều loại hình sử dụng đất khác nhau ở miền núi chẳng những phải đối
mặt với nhiều thách thức với điều kiện tự nhiên mà còn phải lựa chọn giải
pháp phù hợp hệ kinh tế - xã hội của từng vùng.
Dale (1993)[67] trình bày quá trình này như là quá trình tăng tiến đầu
tư lao động dẫn đến tăng hệ số canh tác và được diễn giải theo sơ đồ sau:
Hệ số canh tác
120% v Định canh đa canh
100 %
80% Định canh cây hàng năm
60% Du canh cải tiến
40% Du canh cây bụi
20% Du canh rừng
Đầu tư lao động/diện tích
Đồ thị I.1 Tiến triển các loại hình sử dụng đất theo sự gia tăng dần đầu
tư lao động/diện tích.
Santoso và Sukristiyonubowo (1996)[95] cho rằng: hai yêu cầu cơ bản
để canh tác bền vững trên đất dốc là quản lý độ phì và kiểm soát xói mòn. Về
kiểm soát độ phì đã nhấn mạnh vai trò cây họ đậu và bón liều cao quặng phốt
18
Vườn nhà
Cây lưu niên
phát nghiền. Hệ thống cây trồng và hệ thống canh tác có ý nghĩa rất lớn đối
với các yêu cầu trên.
Hệ thống cây trồng được bố trí sao cho độ che phủ mặt đất để đảm bảo
hạn chế xói mòn mặt đất trong mùa mưa đồng thời vẫn đạt năng xuất khá đảm
bảo được an toàn lương thực. Hệ thống cây trồng tổ hợp giữa Ngô và Đậu,
Ngô - Lạc là rất hứa hẹn vừa cho năng xuất cao, thu nhập khá và lại có phụ
phẩm bón cho đất hoặc chăn nuôi.
Nghiên cứu hệ thống canh tác ở Sumatra (Inđônêxia) cho thấy hệ thống
Tính chất đất Ban đầu chưa phát quang Sau 8 năm canh tác
(độ sâu 0-15 cm)
PH nước 4,0 5,7
Chất hữu cơ % 2,13 1,55
Al trao đổi meq/ 100g đất 2,27 0,06
Ca trao đổi meq/100g đất 0,26 4,98
K trao đổi meq/100g đất 0,10 0,11
Bón phân hữu cơ và tận dụng phụ phẩm cây trồng sau thu hoạch vùi
vào đất là một biện pháp duy trì và cải thiện chất hữu cơ trong đất. Ngay cả
khi dùng phân hoá học khi đảm bảo cân đối giữa phân hữu cơ và khoáng là
một yêu cầu cấp thiết để canh tác lâu bền.
20
Những biện pháp nêu trên nhằm góp phần vào việc định canh trên đất
dốc được bền vững. Tuy nhiên đối với cây hàng năm việc liên tục canh tác là
một thách thức lớn đối với đất dốc. Xu hướng định canh là trồng cây lưu niên
hoặc cây hàng hoá lưu niên hoặc theo xu hướng nông lâm kết hợp.
1.3.3. Nghiên cứu kiến thức bản địa ở vùng cao.
Kiến thức bản địa (Indigenouse knowledge) còn gọi tắt là kiến thức địa
phương (local knowledge) các nhà khoa học đã coi thuật ngữ trên là đồng
nghĩa và khái niệm như sau:
Kiến thức bản địa là hệ thống kiến thức của các dân tộc bản địa, hoặc
của một cộng đồng tại một khu vực cụ thể nào đó nó tồn tại và phát triển
trong những hoàn cảnh nhất định với sự đóng góp của mọi thành viên trong
cộng đồng (người già, trẻ, đàn ông, phụ nữ) tại một vùng địa lý xác định (Gr.
Louise .G) [1996].
Khái niệm về kiến thức bản địa bao hàm rất nhiều lĩnh vực liên quan
đến đời sống sản xuất nông, lâm nghiệp, quản lý tài nguyên và quản lý cộng
đồng.
Thí dụ: Kiến thức về trồng trọt: Các giống cây trồng bản địa, kinh
nghiệm xác định đất nào cây ấy, lịch thời vụ và dự đoán thời tiết, các kinh
thử thách qua hàng thế kỷ, có sẵn ở địa phương, rẻ tiền và phù hợp về văn
hoá, xã hội.
1.4. Tình hình nghiên cứu trong nước:
1.4.1 Tiềm năng và đặc điểm đất dốc Việt Nam.
22
Theo Nguyễn tử Siêm, Thái Phiên (1999)[43] đất đồi núi Việt Nam
chiếm 3:4 diện tích toàn quốc. Trong số 12,087 triệu ha đất chưa sử dụng thì
đất đồi chiếm 8,548 triệu ha (70,72% đất chưa sử dụng của cả nước).
Theo Bùi Quang Toản (1991) [52], đất dốc đang sử dụng cho nông
nghiệp Việt nam là 1,55 triệu ha, cho lâm nghiệp là 9,6 triệu ha. Tối đa nước
ta có thể mở rộng thêm cho đất sản xuất nông nghiệp là 4,15 triệu ha, đưa
tổng diện tích đất nông nghiệp lên 11 triệu ha.
Còn theo số liệu của Tổng cục Địa Chính (1995)[55], năm 1994 quĩ đất
chưa sử dụng của cả nước còn tới 13,98 triệu ha trong đó đất đồi núi là 10,05
triệu ha. Số liệu thống kê năm 2000 [56] cả nước có tổng diện tích là
32,924100 ha trong đó đất nông nghiệp chiếm 9,345,400 ha; đất lâm nghiệp
có rừng 11,575,400 ha đất chuyên dùng: 1,532,800 ha, đất ở 443,200 ha như
vậy đất chưa sử dụng : 10,027,300 ha.
Riêng tỉnh Lai châu có tổng diện tích tự nhiên: 1.691.923,00 ha, trong
đó đất nông nghiệp: 91.873,66 ha, đất có rừng: 459.926,88 ha, đất chuyên
dùng: 6.731,31ha, đất ở: 3.049,10 ha, đất chưa sử dụng: 1.130.342,05 ha
Theo Tôn gia Huyên (1992)[16], ở Việt Nam chỉ số bình quân đất đai
theo đầu người: m2/người rất thấp và có su hướng giảm dần, đặc biệt là đất
nông nghiệp. Năm 1999 có 1080 m2/ người giảm 232 m2/người so với năm
1980.
Dự báo của tổng cục Địa Chính (1995)[55] đến năm 2020 dân số nước
ta sẽ có 126 triệu người khi đó bình quân đất nông nghiệp theo đầu người chỉ
còn 793 m
2
/người.
+ Đất đỏ nâu trên đá Vôi (Hv).
+ Đất nâu đỏ và nâu vàng trên đá Macmabazơ và trung tính (Fk,Fu).
24
+ Đất đỏ vàng trên đá Sét và Biến Chất (Fs).
+ Đất đỏ vàng trên đá Macma Axit (Fa).
+ Đất vàng nhạt trên đá Cát (Fq).
+ Đất nâu vàng trên Phù Sa Cổ ( Fp).
+ Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (Fl).
- Nhóm đất đen (0,8% DTTN) có độ phì cao, ít dốc, rất thích hợp với
cây trồng Ngô, Đậu Đỗ và cây lương thực phẩm khác. Có 3 đơn vị đất:
+ Đất nâu sẫm trên đá Macmabazơ và trung tính (Ru).
+ Đất đen trên sản phẩm bồi tụ của đá Macmabazơ và trung tính (Rk)
+ Đất đen cacbonat (Rv).
- Nhóm đất xám bạc màu ( 3,9%DTTN) là nhóm đất giữa núi và đồng
bằng thung lũng. Đất chua, nghèo mùn, đạm lân tổng số thấp, nghèo kation
kiềm. Trồng cây Cao Su, Điều, Mía có hiệu quả kinh tế cao. Có thể trồng rau,
đậu, củ nếu thâm canh hợp lý.
- Nhóm đất đỏ và xám nâu vàng bán khô hạn (0,6% DTTN) đất ít chua,
trung tính, nghèo mùn đạm và lân tổng số, tổng lượng cation kiềm trao đổi
khá, thành phần cơ giới từ thịt năng đến sét nhẹ. Trồng cây ăn quả chịu hạn
thích hợp.
- Nhóm đất phù sa và nhóm đất thung lũng dốc tụ (2,5%DTTN) tầng
đất mịn dày, thành phần cơ giới trung bình đến nặng, đồ phì từ khá đến giàu.
Thích hợp trồng Đậu Đỗ và những cây ngắn ngày khác.
- Nhóm đất phèn và đất lầy thụt (0,4% DTTN) nằm lọt trong ranh giới
vùng núi cao.
- Nhóm đất Cát biển ( C ) 0,25% DTTN.
25