chơng 1
Thu nhập của ngời lao động
trong doanh nghiệp
I. Tính thiết yếu của thu nhập đối với ngời lao động .
Để thoả mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần cho bản thân , con ngời
phải tham gia vào quá trình lao động. Thông qua quá trình lao động đó, họ sẽ có
một lợng thu nhập tơng đơng với sức lao động đã bỏ ra để ổn định cuộc sống cho
bản thân và gia đình. Qua đó nảy sinh những nhu cầu mới và chính những nhu cầu
này sẽ tiếp tục tạo động lực làm việc cho ngời lao động. Vì vậy, thu nhập của ngời
lao động là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với bản thân ngời lao động nói riêng và
với các nhà quản lý nói chung.
Thu nhập chính là nguồn sống của ngời lao động và gia đình họ, là động lực
thúc đẩy họ làm việc, là cách thức thoả mãn những nhu cầu trong cuộc sống. Về
phía doanh nghiệp, một nhà quản lý giỏi phải là ngời biết cách trả thu nhập cho
ngời lao động nh một chất kích thích họ hăng say làm việc, phát huy khả năng
sáng tạo, đóng góp hết sức mình cho doanh nghiệp. Muốn vậy, ngời sử dụng lao
động phải hiểu đợc tại sao con ngời lại làm việc? Mục đích làm việc của họ là gì ?
Những nhu cầu nào thúc đẩy họ làm việc ?..., để từ đó có những chế độ, chính
sách cho phù hợp .
Khi kết thúc một quá trình làm việc, con ngời cần phải đợc thoả mãn các nhu
cầu thiết yếu nh ăn, mặc, ở, đi lại, vui chơi, giải trí, học tập... Nói cách khác, sau
mỗi ngày lao động con ngời cần có thời gian nghỉ ngơi và cần đợc đáp ứng các
nhu cầu nhằm tái sản xuất sức lao động ( bao gồm cả tái sản xuất giản đơn và tái
sản xuất mở rộng sức lao động ) để chuẩn bị cho quá trình lao động tiếp theo. Việc
tái sản xuất sức lao động này đợc thực hiện thông qua thu nhập của họ, nghĩa là
với mức thu nhập của mình, ngời lao động không chỉ đợc đảm bảo về điêù kiện
sống mà còn có thể nâng cao trình độ mọi mặt của bản thân, gia đình họ và có một
phần để tích luỹ.
Ngày nay, mỗi nhà quản trị đều hiểu rằng không thể dùng quyền lực để buộc
ngời lao động làm việc mà phải có những chế độ, chính sách phù hợp nhằm
khuyến khích họ tự nguyện tham gia vào quá trình lao động, mang lại lợi ích cho
những biện pháp quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của
mỗi doanh nghiệp.
II. Thu nhập của ngời lao động
1. Kết cấu của thu nhập
Thu nhập của ngời lao động là các khoản ngời lao động nhận đợc từ doanh
nghiệp nh tiền lơng, tiền thởng, phúc lợi, bảo hiểm xã hội và các khoản khác ngoài
doanh nghiệp ( thu nhập từ làm thêm, làm kinh tế gia đình ...). Mức thu nhập của
mỗi ngời, mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia đều khác nhau do những yếu tố chủ
quan, khách quan tác động đến thu nhập khác nhau.
ở những nớc phát triển hiện nay, hệ thống tiền lơng tiền thởng chỉ là một
phần của thu nhập. Ngời lao động có những đòi hỏi cao hơn về hệ thống đãi ngộ
về mặt tinh thần. Họ bắt đầu chú trọng đến bản thân công việc, môi trờng làm việc
điều kiện làm việc... Ngời lao động không chỉ yêu cầu phải có một hệ thống lơng
bổng và tiền thởng hợp lý mà còn quan tâm xem bản thân mình có thích công việc
đó không ? họ có đợc công nhận khi có thành tích không ? họ có cơ hội thăng tiến
không ? Ngoài ra, môi trờng làm việc cũng rất quan trọng. Ngời lao động yêu cầu
có một chính sách hợp lý, có môi trờng làm việc lành mạnh, có văn hoá ; có điều
kiện làm việc thoải mái ; thời gian làm việc và thời giờ nghỉ ngơi phù hợp ; nơi
làm việc phải đảm bảo về an toàn vệ sinh lao động...
ở Việt nam, do mức sống và mức thu nhập của ngời lao động còn rất thấp,
cùng với tỷ lệ thất nghiệp khá cao, đã tạo tâm lý nhất thiết phải có việc làm để có
việc làm dù là rất nhỏ để có thể sống đợc trong đại đa số ngời lao động. Hơn
nữa, xuất phát điểm ở Việt nam rất thấp, kinh tế cha phát triển, còn thiếu đồng bộ
trong cơ cấu nhân lực ... ; vì vậy, thu nhập của ngời lao động chủ yếu là tiền lơng,
tiền thởng, phúc lợi và bảo hiểm xã hội. Việc làm thế nào để có một cơ cấu, chính
sách thoả đáng về thu nhập cho ngời lao động, kích thích sự đóng góp của họ cho
doanh nghiệp đang là vấn đề bức xúc đối với các doanh nghiệp nói riêng và đối
với sự phát triển kinh tế đất nớc nói chung .
2. Tiền lơng.
2.1 Khái niệm
động cũng là một hàng hoá và tiền lơng chính là giá cả sức lao động.
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa, tiền l-
ơng đợc quan niệm là hình thức biểu hiện bằng tiền, là giá cả của yếu tố sức lao
động mà ngời sử dụng lao động phải trả cho ngời cung ứng sức lao động, tuân theo
các nguyên tắc cung cầu, giá cả thị trờng lao động và pháp luật của Nhà nớc.
Bản chất của tiền lơng lúc này chính là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị
sức lao động đợc xác định thông qua trao đổi trên cơ sở ngang giá và đợc thanh
toán theo kết quả cuối cùng của lao động.
Nh vậy, tuỳ theo đặc điểm của nền kinh tế trong từng thời kỳ, quan niệm về
tiền lơng cũng đợc đổi mới và hoàn thện. Đảng và Nhà nớc ta nhận định : tiền lơng
chính là giá cả sức lao động. Vì vậy, phải coi tiền lơng nh là một động lực thúc
đẩy ngời lao động hăng say làm việc. Cho đến nay, Đảng và Nhà nớc đã có những
thay đổi sao cho có một chế độ chính sách tiền lơmg phù hợp với điều kiện thực tế
của nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Đảng còn chỉ rõ : tiền l-
ơng còn phải gắn liền với sự phát triển kinh tế xã hội chung của đất nớc. Trả lơng
đúng cho ngời lao động chính là thực hiện đầu t cho phát triển, góp phần làm trong
sạch, lành mạnh đội ngũ cán bộ, nâng cao tinh thần trách nhiệm và hiệu suất công
tác, đảm bảo giá trị thực của tiền lơng và từng bớc cải thiện theo sự phát triển của
kinh tế xã hội.
Nếu nh trong cơ chế tập chung bao cấp, tiền lơng không đợc trả đúng theo giá
trị sức lao động, mang tính cào bằng và dựa trên sự phân phối bình quân thì
trong nền kinh tế thị trờng đã thừa nhận sức lao động là một loại hàng hoá đặc
biệt, đòi hỏi phải trả lơng cho ngời lao động theo sự cống hiến và hiệu quả lao
động của họ. Vì vậy, tiền lơng đã thực hiện đợc đầy đủ các chức năng của nó : là
công cụ thực hiện phân phối thu nhập quốc dân, đảm bảo tái sản xuất sức lao động
cho ngời lao động , kích thích ngời lao động làm việc đạt năng suất, hiệu quả cao,
tạo tích luỹ cho ngời lao động.
Vậy, tiền lơng không chỉ đơn thuần là vấn đề kinh tế mà còn là một vấn đề xã
hội quan trọng, vì nó liên quan trực tiếp đến đời sống và trật tự xã hội. Đặc biệt,
trong điều kiện Việt nam hiện nay, tiền lơng càng có ý nghiã quan trọng đối với
nản, năng suất lao động bị giảm sút, thiếu sự sáng tạo và có thể ngời lao động sẽ
chuyển sang nơi làm việc khác có mức lơng cao hơn.
Vai trò của tiền lơng đối với doanh nghiệp.
Trong doanh nghiệp, tiền lơng là yếu tố đầu vào của chi phí sản xuất. Để tăng
quỹ lơng, doanh nghiệp cần có biện pháp tăng năng suất chất lợng, hiệu quả lao
động, từ đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Mức thu nhập cao sẽ có tác dụng
kích thích lao động nâng cao tay nghề, có tinh thần trách nhiệm cao với công việc;
làm cho ngời lao động gắn bó hơn với doanh nghiệp; có nhiều sáng kiến cải tiến
kỹ thuật, mẫu mã, nâng cao chất lợng sản phẩm... Vì vậy, chính sách tiền lơng
đóng vai trò chủ đạo trong chiến lợc phát triển sản xuất của doanh nghiệp. Một
chính sách tiền lơng đúng sẽ là động lực mạnh mẽ, là đòn bẩy nhằm phát huy sức
mạnh của nhân tố con ngời trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội. Tiền
lơng giúp gắn bó trách nhiệm cá nhân với tập thể và thông qua đó, kết hợp hài hoà
lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội.
Ngoài ra, xét trong phạm vi xã hội, tiền lơng đợc coi nh một công cụ để Nhà n-
ớc điều hoà phân phối lại thu nhập cho mọi ngời trong xã hội, làm giảm bớt
khoảng cách trong chênh lệch về thu nhập giữa những ngời lao động trong xã hội
và là đòn bẩy kinh tế mạnh mẽ để thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
2.3 Các chế độ tiền lơng
Chế độ tiền lơng có hai nội dung cơ bản là chế độ tiền lơng cấp bậc và chế độ
tiền lơng chức vụ. Chế độ tiền lơng cấp bậc đợc áp dụng cho công nhân, những ng-
ời lao động trực tiếp và trả lơng qua số lợng, chất lợng sản phẩm họ làm ra. còn
chế độ tiền lơng chức vụ đợc áp dụng để trả lơng cho lao động quản lý.
2.3.1 Chế độ tiền lơng cấp bậc
Chế độ tiền lơng cấp bậc là toàn bộ những quy định của Nhà nớc mà các doanh
nghiệp, xí nghiệp áp dụng, vận dụng để trả lơng cho ngời lao động căn cứ vào chất
lợng và điều kiện lao động khi họ hoàn thành một công việc nhất định. Tuỳ theo
điều kiện nền kinh tế, chính trị, xã hội trong từng thờikỳ nhất định mà Nhà nớc sẽ
có những cải tiến, sửa đổi chế độ tiền lơng cấp bậc cho phù hợp .
Việc áp dụng chế độ tiền lơng cấp bậc có ý nghĩa quan trọng trong chiến lợc
thuậ, cấp bậc công việc của công nhân.
Bớc 4, xác định mức lơng bậc một và các mức lơng khác trong bảng lơng :
Mức lơng bậc một đợc xác định bằng cách lấymức lơng tối thiểu trong nền
kinh tế quốc dân nhân với hệ số của mức lơng bậc một so với mức lơng tối thiểu.
Hệ số này đợc xác định căn cứ vào các yếu tố nh mức độ phức tạp của lao động
quản lý ở bậc đó, điều kiện lao động liên quan đến hao phí lao động, yếu tố trách
nhiệm... Các mức lơng ở các bậc khác đợc xác định bằng cách lấy mức lơng bậc
một nhân với hệ số của bậc lơng tơng ứng.
Thực tế, lao động quản lý vừa mang tính khoa học lại vừa mang tính nghệ thuật.
Ngời ta không thể tính toán cụ thể mức đóng góp hiệu quả lao động của lao động
quản lý đối với doanh nghiệp. Vì vậy, việc xây dựng bảng lơng cho lao động quản
lý rất phức tạp. Để có đợc một hệ thống bảng lơng chức vụ hợp lý, thể hiện các
nguyên tắc phân phối theo lao động đồng thời khuyến khích đợc lao động quản lý,
mỗi doanh nghiệp cần phải nghi cứu kỹ càng và áp dụng bằng nhiều phơng pháp
khác nhau.
2.4. Các hình thức trả lơng
Hiện nay có hai hình thức trả lơng cơ bản là trả lơng theo thời gian, trả lơng
theo sản phẩm và trả lơng khoán. Mỗi doanh nghiệp sẽ căn cứ vào điều kiện sản
xuất kinh doanh, đặc diểm sản phẩm... của doanh nghiệp mình để quyết định lựa
chọn hình thức trả lơng cho phù hợp.
Bộ Luật Lao Động quy định : Ngời sử dụng lao động có quyền chọn các
hình thức trả lơng theo thời gian( giờ, ngày, tuần, tháng ), theo sản phẩm, theo
khoán nhng phải duy trì hình thức trả lơng đã chọn trong một thời gian nhất định
và phải thông báo cho ngời lao động biết1
2.4.1 Hình thức trả lơng theo thời gian:
Đây là hình thức trả lơng đợc áp dụng chủ yếu đối với những ngời làm công tác
quản lý.nếu có áp dụng đối với những ngời công nhân sản xuất thì chỉ áp dụng ở
những bộ phận lao động bằng máy móc là chủ yếu hoặc những công việc không
thể tiến hành định mức một cách chặt chẽ và chính xác hay đối với những công
việc mà nếu trả lơng theo sản phẩm thì sẽ không đảm bảo đợc chất lợng sản phẩm.
tăng năng suất lao động. Ngoài ra, trả lơng theo sản phẩm còn góp phần nâng cao
và hoàn thiện công tác quản lý, nâng cao tính tự chủ, chủ động trong quá trình làm
việc của ngời lao động.
Các chế độ trả lơng theo sản phẩm:
Trả lơng theo sản phẩm trực tiếp cá nhân:
Chế độ trả lơng này đơc áp dụng rộng rãi đối với những công nhân trực tiếp sản
xuất trong điều kiện quá trình lao động của họ mang tính chất độc lập tơng đối, có
thể định mức, kiểm tra và nghiệm thu sản phẩm một cách cụ thể và riêng biệt.
Ưu điểm của chế độ trả lơng theo sản phẩm trực tiếp cá nhân là tiền lơng trực
tiếp trong kỳ trong kỳ đợc tính dễ dàng và có tác dụng khuyến khích công nhân
hăng hái làm việc để nâng cao năng suất lao động, là cách trực tiếp để tăng tiền l-
ơng.
Nhợc điểm của chế độ lơng theo sản phẩm trực tiếp cá nhân là để làm cho công
nhân chỉ quan tâm đến số lợng sản phẩm mà coi thờng chất lợng sản phẩm. Nếu
công nhân không có thái độ và ý thức làm việc tốt sẽ không có ý thức tiếc kiệm
nguyên vật liệu, không có biện pháp để sử dụng có hiệu quả máy móc thiết bị.
Trả lơng sản phẩm tập thể.
Dạng tiền lơng này đợc áp dụng để trả cho một nhóm công nhân khi họ hoàn
thành 1 khối lợng công việc hay sản phẩm nhất định.
Chế độ trả lơng theo sản phẩm tập thể có tác dụng nâng cao ý thức trách nhiệm,
tính tập thể của công nhân trong tổ. Tuy nhiê, vì tiền lơng phụ thuộc vào kết quả
làm việc của cả tổ nên có phần hạn chế khuyến khích tăng năng suất lao động
của cá nhân ngời lao động.
Trả lơng theo sản phẩm gián tiếp :
Hình thức trả lơng này đợc áp dụng để trả lơng cho những lao động làm các
công việc phục vụ, phụ trợ phục vụ cho lao động chính.
Việc áp dụng chế độ trả lơng theo sản phẩm và gián tiếp có tác dụng khuyến
khích công nhân phục vụ tốt hơn cho hoạt động của coong nhân chính.
Nhợc điểm của chế độ trả lơng này là đôi khi sẽ hạn chế sự cố gắng làm việc
của công nhân phụ do tiền lơng của công nhân phụ phụ thuộc và kết quả của
thận trọng xem xét các nhân tố ảnh hởng đến mức lơng phải trả. Mặt khác, phải
chú ý theo dõi và nghiệm thu kết quả lao động mà ngời nhận khoán thực hiện.
Trên đây là các hình thức trả lơng cho ngời lao động trong doanh nghiệp. Thực
tế, các doanh nghiệp có thể áp dụng thêm các phụ cấp lơng nhằm đảm bảo nguyên
tắc trả lơng cho lao động. Vì tiền lơng là một chính sách linh động, uyển chuyển
nên áp dụng chế độ trả lơng nà thì phải tuỳ thuộc vào hoàn cảnh xã hội, vào khả
năng của doanh nghiệp. Đặc biệt không nên áp dụng một cách máy móc, thống
nhất với mọi xí nghiệp, doanh nghiệp vì mỗi doanh nghiệp, đơn vị đều có đặc
điểm riêng về sản phẩm, khả năng chi trả, vốn đầu t...
3. Tiền thởng.
3.1 Khái niệm
Tiền thởng là phần thu nhập ngoài tiền lơng, đợc căn cứ vào hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, đơn vị và mức tiền lơng của từng ngời.
Thực chất tiền thởng chính là khoản tiền bổ xung cho tiền lơng nhằm quán
triệt hơn nguyên tắc phân phối theo lao động và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Thực hiện các chế độ tiền thởng là một trong các biện
pháp khuyến khích vật chất đối với ngời lao động trong quá trình làm việc nhằm
thu hút sự quan tâm của họ tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
qua đó nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lợng sản phẩm, rút ngắn thời
gian làm việc.
Mặc dù tiền lơng là khoản thu nhập chính đảm bảo mức sống của ngời lao
động nhng tiền lơng cha bù đắp đợc hoàn toàn sức lao động mà ngời lao động đã
bỏ ra. Do vậy, thực hiện chế độ thởng là để góp phần bù đắp giá trị sức lao động
đã mất đi của ngời lao động nhằm đảm bảo tốt quá trình tái sản xuất sức lao động
cho ngời lao động. Mặt khác, ngời lao động là nguồn lực đầu tiên và quan trọng
nhất trong việc tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nếu không có ngời lao động thì
sẽ không có lợi nhuận. Hay đơn giản hơn, nếu ngời lao động làm việc không hăng
hái, không nỗ lực thì lợi nhuận của doanh nghiệp cũng bị giảm bớt. Do đó, thởng
là hình thức phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp cho ngời lao động, là cách thu
hút ngời lao động đóng góp hết mình cho doanh nghiệp.
thể và đợc trích theo phần trăm tuỳ từng doanh nghiệp. Chế độ thởng này đợc áp
dụng cho những ngời lao động có sáng kiến, giải pháp làm lợi cho doanh nghiệp.
Bap gồm : thởng sáng kiến; thởng tiếc kiệm; thởng nâng cao năng suất lao động;
thởng khuyến khích xuất khẩu. Chế độ thởng này có tác động lớn đến khả năng
chủ động sáng tạo của ngời lao động trong doanh nghiệp.
- Thởng từ quỹ lơng: là hình thức thởng mà tiền thởng đợc trích ra từ quỹ lơng
của doanh nghiệp. Thởng từ quỹ lơng đợc áp dụng hàng tháng đối với những ngời
lao động luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ. Chế độ thởng này khuyến khích ý thức
làm việc của ngời lao động, giúp doanh nghiệp luôn hoàn thành kế hoạch sản xuất
nhng có nhợc điểm là cha phát huy đợc tính sáng tạo trong công việc.
- Thởng từ lợi nhuận: Luật lao động quy định: Ngời sử dụng lao động có
trách nhiệm trích từ lợi nhuận hàng năm để thởng cho ngời lao động đã làm việc
tại doanh nghiệp từ một năm trở lên theo quy định của Chính phủ phù hợp với đặc
điểm của từng doanh nghiệp2.
Các doanh nghiệp phải thực hiện thởng từ lợi nhuận cho công nhân viên chức
và lao động với mức trích tối thiểu là 10% lợi nhuận/1 năm của doanh nghiệp - đối
với doanh nghiệp t nhân. Các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, chế độ thởng
nh thế nào là do hai bên tự thoả thuận nhng tối thiểu phải bằng một tháng lơng
theo hợp đồng đã ký kết. Còn đối với các doanh nghiệp Nhà nớc, mức tiền thởng
tối đa không quá 6 tháng tiền lơng theo hợp đồng lao động. 3
- Nh vậy, thởng từ lợi nhuận là chế độ bắt buộc đối với các doanh nghiệp. áp
dụng chế độ thởng hợp lý sẽ mang lại nhiều lợi ích với cả ngời lao động và ngời sử
dụng lao động. Thởng từ lợi nhuận sẽ làm cho ngời lao động quan tâm đến hiệu
quả hoạt động của doanh nghiệp hơn.Khi lợi nhuân tăng, mức thởng cho ngời lao
động cũng tăng lên và do đó, họ sẽ cố gắng, nỗ lực hơn trong công việc, phát huy
sáng kiến nhằm tăng năng suất lao động, tiếc kiệm nguyên liệu... đây là những lợi
ích rất lớn đối với doanh nghiệp .
Mặc dù các chế độ thởng đợc áp dụng nhiều năm luôn có tác dụng tích cực đối
với hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, nhng trên thực tế - đặc
biệt trong các doanh nghiệp Nhà nớc, việc thực hiện chế độ thởng cũng có nhiều
ở Việt nam, các loại phúc lợi tự nguyện cha đợc áp dụng nhiều do nền kinh tế cha
phát triển, mức sống của ngời dân cha cao...
Phúc lợi tự nguyện bao gồm các chơng trình bảo hiểm y tế, bảo vệ sức khỏe,
các loại dịch vụ, các chơng trình trả tiền trợ cấp độc hại, nguy hiểm và các loại trợ
cấp khác.
*Bảo hiểm y tế
Ngoài các lọai trợ cấp ốm đau và tai nạn lao động theo quy định của Luật
Lao động, một số công ty còn áp dụng chế độ bảo hiểm tự nguyện cho cán bộ,
công nhân viên trong công ty mình nh bảo hiểm khi giải phẫu... Tuy nhiên , hình
thức này cha đợc áp dụng nhiều trong các doanh nghiệp Việt nam mà hầu hết,
chúng ta chỉ thực hiện các chế độ và bảo hiểm y tế theo luật pháp quy định.
* Chơng trình bảo vệ sức khoẻ:
ở các nớc phát triển, một số công ty áp dụng các chơng trình bảo vệ sức khoẻ
nhằm ngăn chặn bệnh tật cho ngời lao động nh các chơng trình cho ngời nghịn
thuốc lá, các chơng trình thể dục thể thao tránh căng thẳng do tác động của công
việc và môi trờng. Nhờ vào các chơng trình này, các doanh nghiệp đã tiếc kiệm đ-
ợc nhiều chi phí đáng kể nh giảm tỷ lệ ngời vắng mặt trong công ty, giảm chi phí
thuốc men... Đây là chơng trình có nhiều u điểm trong chiến lợc sảnữút kinh
doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu t lớn, phạm vi hoạt động trên diện rộng.
Ví dụ: Công ty điện thoai Ne York ( Mỹ ) đã tiêcs kiệm đợc trên 2 triệu đôla hàng
năm nhờ giảm tỷ lệ ngời vắng mặt do ốm đau khi áp dụng chơng trình bảo vệ sức
khoẻ. Cũng nhờ chơng trình này, Công ty Kennecott ( Mỹ ) đã giảm đợc trên 50%
chi phí về thuốc men cho nhân viên trong công ty mình.6
* Bảo hiểm nhân thọ theo nhóm:
Đây là một loại phúc lợi nhằm bảo vệ gia đình của nhân viên trong trờng hợp
nhân viên đó qua đời. Loại hình bảo hiểm này thu hút đợc khá nhiều sự chú ý của
ngời lao động vì chi phí bảo hiểm naỳ rất thấp so với phần tiền nhận đợc nếu rủi ro
xảy ra và mỗi nhân viên đóng một mức riêng tuỳ thục vào mức lơng của họ. Một
số công ty chỉ yêu cầu nhân viên đóng một phần còn đâu công ty sẽ hỗ trợ. Khi rủi
ro xảy ra, ngời lao động sẽ nhận đợc một phần tiền cố định hoặc theo mức lơng