LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là điều tất yếu. Các doanh
nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần phải tìm các biện pháp để tối đa hoá lợi
nhuận.Trên thực tế để tối đa hoá lợi nhuận thì sản phẩm sản xuất ra phải tiêu
thụ được và được thị trường chấp nhận. Do vậy tiêu thụ là khâu quan trọng
ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của mỗi doanh nghiệp. Đặc biệt
trong cơ chế thị trường hiện nay khi mà mọi doanh nghiệp gắn mình với thị
trường thì hoạt động tiêu thụ lại càng có vị trí quan trọng hơn. Đối với các
doanh nghiệp sản xuất chỉ có thể và phải bán cái mà thị trường cần chứ không
phải bán cái mà doanh nghiệp có. Việc xác định cái mà thì trường cần là một
bước trong khâu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Công ty cổ phần 22 là công ty sản xuất kinh doanh nên hoạt động tiêu
thụ của công ty là vô cùng quan trọng, nó quyết định đến sự tồn tại và phát
triển của công ty.
Trong quá trình thực tập tại Công ty cổ phần 22 em nhận thấy hoạt động
tiêu thụ của công ty còn nhiều hạn chế. Việc tìm ra giải pháp nhằm đẩy mạnh
hoạt động tiêu thụ luôn được ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ công nhân viên
trong công ty quan tâm. Xuất phát từ thực tế đó trong thời gian thực tập tại
Công ty cổ phần 22 em đã tìm hiểu về vấn đề tiêu thụ của công ty và em đã
quyết định chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh hoạt động tiêu
thụ sản phẩm tại Công ty cổ phẩn 22”. Chuyên đề đi sâu nghiên cứu thực
trạng công tác tiêu thụ sản phẩm từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao
hiệu quả công tác tiêu thụ sản phẩm tại Công ty cổ phần 22.
Chuyên đề được bố cục như sau:
Chương I: Tổng quan về Công ty cổ phần 22
Chương II: Thực trạng công tác tiêu thụ sản phẩm của Công ty
Chương III: Giải pháp thúc đẩy hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Công ty
1
Chương I
Tổng quan về Công ty cổ phần 22
1. Khái quát chung về công ty cổ phần 22
Trong điều kiện vừa tiến hành sản xuất vừa phải dành thời gian cho di
chuyển, tổ chức lại sản xuất nhưng xí nghiêp 22 vẩn hoàn thành một khối
lượng hàng hoá lớn với các mặt hàng như: túi lót ba lô, mắm ruốc hành quân,
mì sợi, mì thanh, bánh bích quy, bánh ép, các loại kẹo.
Giai đoạn 2: Từ năm 1976- 1989
Xí nghiệp 22 tham gia bảo quản quân lương cho bộ đội xây dựng và bảo vệ
Tổ Quốc.
Trong giai đoạn này hầu hết cơ cấu sản phẩm của xí nghiệp không có gì
thay đổi. Năm 1976 ngoài những mặt hàng truyền thống xí nghiệp 22 được cấp
trên giao cho thêm một số nhiệm vụ mới đó là nghiên cứu sản xuất lương khô
thêm dây chuyền sản xuất quân hiệu, phù hiệu, sao vạch, nghiên cứu sản xuất
thức ăn gia súc.
Đến cuối năm 1977 theo chỉ thị của Cục Quân Nhu, xí nghiệp 22 ngừng
sản xuất các mặt hàng như quân hiệu, phù hiệu, sao vạch để tập trung năng
lực cho nhiệm vụ sản xuất những mặt hàng thiết yếu.
Năm 1980, xí nghiệp 22 chịu sự chỉ huy của cục quân lương. Đến năm
1988 các mặt hàng quốc phòng giảm 27% so với năm 1987, dẫn đến tình
trạng xí nghiệp dôi ra tới 119 lao động. Hợp đồng kế hoạch sản xuất của năm
lại chậm, đến tháng 4 mới ký được hợp đồng, thêm vào đó việc cung ứng một
số vật tư cho sản xuất các mặt hàng quốc phòng lại không ổn định nên trong
3
sáu tháng đầu năm xí nghiệp rất lung túng trong việc triển khai sản xuất, để
khắc phục tình trạng thiếu việc làm, xí nghiệp chủ trương mở rộng sản xuất
phụ, tăng thêm sản lượng các mặt hàng kinh tế như chăn nuôi lợn, làm kẹo
mềm, rượi, bia, tương nước, bánh đa nem…về mặt tổ chức: rút gọn số phân
xưởng xuống còn 5 phân xưởng, giảm tỷ lệ gián tiếp xuống 0.8% so với năm
1987. Một năm sau xí nghiệp chủ động mở rộng liên doanh, liên kết, làm
hàng gia công, mở rộng thêm mặt hàng mới như kẹo vừng, kẹo lạc, nước
khoáng có ga, áo đi mưa, đế dép,…Với sự quan tâm đặc biệt của cấp trên
cùng với sự cố gắng của các thành viên trong xí nghiệp đã tạo đà cho xí
quyết định thành lập lại Xí nghiệp chế biến thực phẩm 22 cùng với quyết định
giao vốn kinh doanh cho doanh nghiệp gồm vốn do ngân sách cấp và vốn tự
bổ sung là 1.171,2 triệu đồng.
Ngày 24-4-1996 Bộ Quốc phòng ra quyết định số 568/QĐ-CP với nội
dung: đổi tên xí nghiệp 22 thành Công ty 22.
Giai đoạn 4: Từ năm 2000 đến nay
Thực hiện phương châm “ Chất lượng là uy tín, khách hàng là thượng
đế”, Công ty tiếp tục đổi mới công nghệ, sản phẩm, bao bì, hoàn thiện quy
trình sản xuất, không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, tuân theo hệ
thống quản lý chất lượng ISO 9001-2000 để phục vụ khách hàng tốt hơn.
Cũng trong giai đoạn này, xí nghiệp 198 cũng sát nhập với công ty và
trở thành một xí nghiệp thành viên.
5
Đặc biệt cũng trong giai đoạn này ngày 1 tháng 11 năm 2007 Công
ty 22 chính thức cổ phần hoá xong và chuyển thành công ty cổ phần 22.
3. Mô hình tổ chức quản lý
3.1. Chức năng và nhiệm vụ của công ty
* Chức năng:
- Là Công ty vừa sản xuất vừa kinh doanh bánh kẹo nên công ty giữ vai
trò quan trọng trong việc quản lý đầu ra và đầu vào của dây chuyền sản xuất
và tiêu thụ hàng hóa. Sản xuất bánh kẹo phục vụ mọi tầng lớp nhân dân và
một phần xuất khẩu.
- Sản xuất các sản phẩm quốc phòng: Nhằm phục vụ chiến đấu và
sẵn sàng chiến đấu.
- Sản xuất sản phẩm kinh tế: Cung cấp những sản phẩm nhằm đáp ứng
nhu cầu thị trường.
* Nhiệm vụ:
- Thực hiện đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ đối với nhà nước. Chấp
hành mọi quyết định, các chế độ chính sách về quản lý và sử dụng tiền vốn,
tài sản, bảo đảm duy trì và phát triển nguồn vốn, nộp ngân sách đúng quy
KỸ THUẬT
PHÂN
XƯỞNG CƠ
ĐIỆN
PHÂN
XƯỞNG II
HỘI ĐỒNG
QUẢN TRỊ
Bộ máy tổ chức của công ty được tổ chức theo mô hình kiểu trực tuyến -
chức năng.
Các phòng chức năng có nhiệm vụ tham mưu cho các cấp lãnh đạo song
không ra lệnh cho các phân xưởng sản xuất, mỗi phòng ban đảm nhiệm một
chức năng nhất định. Các quyết định quản lý do các phòng chức năng
( phòng kinh doanh, phòng tài vụ …) nghiên cứu đề xuất, khi được lệnh của
thủ trưởng sẽ truyền từ trên xuống dưới. Với mô hình tổ chức này Giám đốc
là người chịu trách nhiệm về mọi mặt hoạt động có toàn quyền quyết định
mọi vấn đề trong Công ty. Việc truyền mệnh lệnh theo hệ thống trực tuyến,
người lãnh đạo ở các phòng ban chức năng có nhiệm vụ tham mưu cho ban
Giám đốc, mối quan hệ giữa các phòng ban là mối quan hệ trong hệ thống
chức năng, còn với hệ thống trực tuyến là quan hệ hướng dẫn nghiệp vụ.
* Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban trong công ty
+ Hội đồng quản trị: Quản lý, chỉ đạo thực hiện các hoạt động kinh
doanh, có trách nhiệm giám sát hoạt động kinh doanh của Tổng giám đốc và
những người quản lý khác. Là cơ quan có quyền nhân danh công ty để quyết
định mọi vấn đề liên quan đến mục đích quyền lợi của công ty, có quyền
quyết định kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh, phương án đầu tư và ngân
sách hàng năm, hội đồng quản trị còn xác định các mục tiêu hoạt động và mục
tiêu chiến lược, cơ cấu tổ chức…
+ Ban giám đốc: Trực tiếp chỉ đạo mọi hoạt động trong doanh nghiệp và
chịu trách nhiệm về các quyết định đưa ra của mình trước hội đồng quản trị,
về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính kế toán của công ty, chịu trách nhiệm về
việc mở sổ sách đúng pháp lệnh thống kê, kế toán, báo cáo kết quả hoạt động
của công ty theo quyết định của nhà nước, tổng hợp các số liệu hàng quý,
9
hàng năm, được quyền kiểm tra đánh giá các loại hàng hóa. Dưới kế toán
trưởng có các kế toán viên phụ trách việc ghi chép, phản ánh các nghiệp vụ
xuất, nhập, tồn kho hàng ngày, dịch vụ sửa chữa của công ty và báo cáo cho
kế toán trưởng.
+ Phòng kế hạch - kinh doanh: Tham gia định hướng chiến lược phát
triển công ty, chiến lược sản xuất kinh doanh, thiết lập kế hoạch sản xuất
kinh doanh, giao kế hoạch sản xuất, lệnh sản xuất và điều độ sản xuất cho
các đơn vị. Nghiên cứu, xây dựng và phát triển mạng lưới kênh phân phối,
chính sách phân phối, chính sách giá. Phối hợp các phòng ban khác nhau
để đưa ra các số liệu dự đoán về nhu cầu thị trường. Cung cấp đẩy đủ số
liệu về tình hình tiêu thụ, giúp bộ phận makerting nắm rõ được kết quả
tiêu thụ sản phẩm và theo vùng thị trường. Tổ chức các công việc thuộc
lĩnh vực bán hàng, marketing, tìm hiểu, điều tra thu nhập các thông tin hàng
ngày trên thị trường, xử lý, sắp xếp các thông tin đó nhằm đưa những biện
pháp hữu hiệu giúp cho công ty và ban lãnh đạo có những ứng xử thích hợp,
có trách nhiệm chào hàng và chiêu hàng.
+ Phòng kỷ thuật: Giám sát, thiết kế ra những sản phẩm có chất
lượng cao, bảo đảm an toàn vệ sinh thực tập, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu
của người tiêu dùng. Tổ chức quản lý, kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập
kho và xuất kho, tư vấn khách hàng các tính năng của sản phẩm và giải đáp
các thắc mắc của khách hàng về sản phẩm. Phụ trách việc bảo hành sản phẩm.
4. Nguồn nhân lực của công ty
Lao dộng trong công ty được phân theo cơ cấu gốm có lao động trực
tiếp, lao động gián tiếp (gồm có quản lý và nhân viên). Nhân viên văn phòng
được đào tạo chuyên sâu về các nghiệp vụ. Bên cạnh đó, còn có mạng lưới
cộng tác viên giàu kinh nghiệm và trình độ thuộc các trường đại học và các
Chỉ tiêu
2005 2006 2007 2008
Cơ cấu lao động theo giới tính
610 646 500 512
Nam
245 256 200 202
Nữ
365 390 300 310
Cơ cấu lao động theo trình độ
610 646 500 512
Đại học và trên đại học
62 63 64 65
Cao đẳng, trung cấp
46 52 44 45
Lao động phổ thông
502 531 397 402
(Nguồn: Phòng tổ chức – hành chính)
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy số lượng lao động của Công ty tương
đối ổn định tăng giảm không đáng kể qua các năm. Do đặc thù là ngành chế
biến thực phẩm nên số lượng lao động nữ của doanh nghiệp nhiều hơn số
lượng nam trong doanh nghiệp và đang có xu hướng gia tăng. Về chất lượng
lao động, ta thấy với chính sách "trọng người tài" mà Công ty đưa ra đã đem
lại hiệu quả rõ rệt. Ðiều này được thể hiện qua số lượng lao động có trình độ
đại học, cao đẳng tương đối cao và ngày càng tăng. Ðiều đó chứng tỏ Công
ty ngày càng chú trọng đến đội ngũ lao động có trình độ cao. Lực lượng lao
12
động có trình độ cao họ chủ yếu là sinh viên vừa tốt nghiệp các trường đại
học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp nên có thể nói họ là những lao
động chưa hề có kinh nghiệm làm việc hoặc mới chỉ có ít kinh nghiệm nên
+ Dịch vụ cho thuê vãn phòng, nhà xưởng, kho tang bến bãi.
+ Xuất nhập khẩu các sản phẩm phục vụ
5.3. Đặc điểm về sản phẩm
5.3.1. Sản phẩm
Để đáp ứng với yêu cầu của người tiêu dùng các sản phẩm bánh kẹo của
công ty ngoài việc đảm bảo đủ khối lượng chúng ta cần phải chú ý đến đặc
tính chất lượng quan trọng đó là hương vị của sản phẩm, vệ sinh an toàn thực
phẩm và mẫu mã chủng loại đa dạng. Bên cạnh đó công ty luôn cố gắng đảm
bảo yêu cầu cung cấp sản phẩm có chất lượng, số lượng và giao hàng đúng
hẹn như hợp đồng đã ký kết. Sản phẩm chính của Công ty bao gồm bánh bích
quy và lương khô
Sản phẩm bánh của công ty chia làm hai nhóm:
- Sản phẩm Quốc phòng: Chiếm 1 tỷ lệ nhỏ khoảng 14% trong tổng số
mặt hàng đưa ra thị trường
- Sản phẩm kinh tế: Chiếm khoảng 86% trong tổng số mặt hàng đưa ra
bán ra thị trường
5.3.2. Quy trình sản xuất một số sản phẩm
Bánh quy các loại là sản phẩm chủ lực của công ty, chiếm gần 70% tổng
sản phẩm các loại. Bao gồm nhiều sản phẩm khác nhau, trong đó nhu cầu thị
trường tập trung chủ yếu vào 2 sản phẩm chính đó là bánh quy hương thảo
405g và Bánh quy hương thảo 300g.
14
Sơ đồ: Quy trình sản xuất bánh của xí nghiệp 22
Nguyên liệu đầu vào
Nhào trộn nguyên liệu
Cán
+ Quy trình nướng: Nhằm mục đích chế biến và mục tiêu bảo quản. Với
tác dụng của nhiệt độ cao sản phẩm chín, có mùi vị, màu sắc đặc trưng.Trong
quá trình nướng phải điều chỉnh nhiệt độ và thời gian nướng sao cho bánh có
màu đẹp và đạt tiêu chuẩn
+ Quy trình làm nguội: Sau khi nướng bánh được đưa đến giàn làm
nguội hay hệ thống quạt cho bánh nguội. Mục tiêu làm cho bánh nướng trong
khay ở nhiệt ðộ bình thường và làm cho bánh không bị biến dạng.
+ Bao gói và bảo quản: Sau khi làm nguội, bánh được đem bao gói với
yêu cầu trọng lượng phải đầy đủ, đường dán đẹp.
5.4. Tình trạng cơ sở vật chất kỹ thuật
16
Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty đáp ứng tương đối tốt yêu
cầu hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý. Công ty có một hệ thống nhà
xưởng, nhà kho được thiết kế một cách tương đối hợp lý. Với 3 phân xưởng
sản xuất và 3 nhà kho luôn làm việc hết công suất. Trong đó, phân xưởng 1
chuyên về sản xuất lương khô và bánh ép được trang bị một dây chuyền sản
xuất nhập khẩu của Trung Quốc từ những nãm 1970, với công suất thiết kế
0.7 tấn/ca máy. Nhưng do công nghệ quá lạc hậu, lại sau một thời gian dài sử
dụng (37 nãm) nên công suất bây giờ chỉ còn 0,5 tấn/ca máy và hoạt động
liên tục 3 ca/ngày. Phân xưởng 2 chuyên về sản xuất các loại bánh quy và là
phân xưởng chính của xí nghiệp. Ðể mở rộng quy mô sản xuất và đa dạng
chủng loại sản phẩm, nãm 1995 xí nghiệp lắp đặt thêm dây chuyền sản xuất
bánh carcker của Italia với công suất thiết kế 1.7 - 2.4 tấn/ca máy, trị giá 1.2
tỷ đồng, dây chuyền này chóng trở thành phân xưởng chủ đạo của xí nghiệp.
Nãm 2005 xí nghiệp đầu tư thêm dây chuyền sản xuất bánh quy của Italia, trị
giá 5 tỷ đồng với công suất thiết kế 1.2 - 1.5 tấn/ca máy, dây chuyền hoạt
động liên tục 3 ca/ngày.
Về phương tiện vận chuyển, xí nghiệp có 2 xe tải chuyên đảm nhiệm
việc vận chuyển hàng cho các đại lý. Xe Izuzu trọng tải 4 tấn và Hino trọng
tải 5 tấn. Bên cạnh đó, đơn vị còn có một xe car phục vụ công tác cho các
9. Lợi nhuận hoạt
động tài chính
128 163 153 156
10. Doanh thu
khác
5.238 4.320 2.806 4.036
11. Chi phí khác 4.978 3.950 2.438 3.852
12. Lợi nhuận khác 260 370 368 184
13. Tổng lợi nhuận
trước thuế
2.545 2.568 2.626 2.871
14. Thuế thu nhập
doanh nghiệp
712,6 791,04 735,28 803,88
15. Lợi nhuận sau
thuế
1.832,4 1.848,96 1.890,72 2.067,12
18
(Nguồn: Phòng kế toán - tài chính)
Như vậy có thể thấy doanh thu của doanh nghiệp tăng liên tục qua các
năm, kéo theo đó là lợi nhuận của doanh nghiệp cũng tăng theo. Năm 2005,
lợi nhuận của doanh nghiệp là 1.832,4 triệu đồng đến 2008 lợi nhuận của
doanh nghiệp tăng lên 2.067,12 triệu đồng. Điều này chứng tỏ hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp đã có hiệu quả. Doanh thu tăng dần qua các năm tuy
mức độ tăng chưa cao, cùng với doanh thu tăng lên thì số nộp ngân sách cũng
tăng lên. Tổng khối lượng sản phẩm được tiêu thụ có xu hướng tăng dần qua
các năm, đảm bảo năm sau cao hơn năm trước. Lợi nhuận của năm 2008 tăng
so với năm 2007. Lợi nhuận tăng, kết quả của hoạt động kinh doanh tốt là
bằng chứng cho việc sử dụng tốt các nguồn lực để hoạt động làm giảm chi phí
quản lý doanh nghiệp và các chi phí khác.
các tài liệu tin cậy như báo cáo tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của
công ty thời kì trước, xem xét mặt hàng nào bán chạy, mặt hàng nào bán
chậm, cộng thêm một số tài liệu dự báo về tiềm năng thị trường, xu hướng
tiêu dùng trong năm kế hoạch.
Bước 2: Tiến hành lập kế hoạch:
Dựa trên số liệu tin cậy trên công ty tiến hành tính toán các chỉ tiêu, cân
đối các mặt hàng, phát hiện và dự kiến các biện pháp khắc phục sự mất cân
đối.
Bước 3: Trình duyệt, lập kế hoạch chính thức:
Kế hoạch sau khi được lập ra có thể trở thành kế hoạch chính thức thì kế
hoạch đó phải được ban giám đốc xem xét và phê duyệt.
2. Tổ chức thực hiện các hoạt động bán hàng và hỗ trợ bán
hàng
2.1. Hoạt động nghiên cứu và tìm kiếm thị trường
Thị trường tiêu thụ là yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nền kinh tế thị trường đầy biến động,
đặc biệt là sau khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO và cuộc khủng
hoàng kinh tế toàn cầu khiến nền kinh tế Việt Nam không tránh khỏi những
hệ lụy. Vì vậy, việc nghiên cứu thị trường trước đây đã quan trọng nay lại
càng quan trọng hơn. Nghiên cứu thị trường giúp công ty thu thập được thông
tin cần thiết phục vụ cho quá trình xây dựng các kế hoạch kinh doanh và xác
định được giá bán, khối lượng bán phù hợp với yêu cầu và đòi hỏi của thị
trường. Đồng thời nó còn giúp cho công ty biết được xu hướng biến động thu
21
nhập và giá cả từ đó có các biện pháp cho phù hợp với việc lựa chọn nhà cung
cấp, thị trường tiềm năng cũng như xây dựng kênh phân phối…Nhận thức
được điều đó, công ty cũng đã có những chính sách, biện pháp nhằm đẩy
mạnh hoạt động nghiên cứu và tìm kiếm thị trường.
2.1.1 Nghiên cứu cầu về sản phẩm:
Đây là hoạt động tất yếu mà mỗi công ty khi tiến hành hoạt động kinh
(2006 – 2008)
loại sản phẩm
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Khối
lượng
(kg)
Cơ
cấu (%)
Khối
lượng
(kg)
Cơ cấu
(%)
Khối
lượng
(kg)
Cơ
cấu (%)
1. Tổng Bánh Quy
1.901.343 63,86 2.406.106 76,62 2.651.752 75,19
Hương Thảo 380g
205.691 10,82 360.620 14,99 706.204 26,63
Hương Thảo 255g
759.608 31,57 1.125.098 42,43
Hương Thảo 175g
89.051 4,68 105.260 4,37 135.010 5,09
Hương Thảo 22g
47.901 1,81
Quy Vừng
900 0,05 1.509 0,06 3.609 0,14
thảo 25g là cao nhất chất 40% trong tổng sản phẩm bình quân. Bên cạnh đó,
tốc độ tiêu thụ sản phẩm lương khô đã không còn chỗ đứng trên thị trường,
trong khi đó công ty lại chưa có chính sách giảm giá đối với những mặt hàng
có tốc độ tiêu thụ chậm nên làm cho sản lượng tiêu thụ rất chậm. Điển hình
như các sản phẩm nằm trong danh mục sản phẩm khác có mức suy giảm
nhiều nhất, cụ thể qua ba năm giảm 34,55%. Sản phẩm bánh hộp có tốc độ
tiêu thụ nhanh nhất, tốc độ tăng của năm 2006 so với 2005 là 212,14%, năm
2007 tốc độ tiêu thụ tăng cao hơn năm 2006 là 242,02%, qua ba năm thâm
nhập vào thị trường bánh hộp sản phẩm của công ty đạt tốc độ tăng trưởng
khá cao 226,59%. Tuy nhiên, nhìn vào đồ thị ta thấy tỷ lệ bánh hộp so với các
mặt hàng khác vô cùng nhỏ, chính vì vậy với tốc độ tiêu thụ tăng nhanh như
vậy nhưng đóng góp của bánh hộp vào doanh thu tiêu thụ không đáng kể. Bên
cạnh đó mặt hàng này lại có tính thời vụ cao, thể hiện sản lượng được tiêu thụ
vào các tháng gần tết còn những tháng khác thì mức tiêu thụ chững lại.
3.2. Tình hình tiêu thụ sản phẩm trên các thị trường
Do nguồn lực của công ty có hạn nên cùng một lúc công ty không thể
phục vụ hết tất cả khách hàng trên thị trường. Bên cạnh đó lượng khách hàng
trên thị trường quá đông, phân tán có nhu cầu tiêu dùng rất khác nhau và
thường xuyên thay đổi. Do đó, công ty đã tiến hành phân khúc thị trường để
phát hiện ra những khúc thị trường hấp dẫn, nhằm mục đích phục vụ người
tiêu dùng một cách hiệu quả nhất.
* Phân tích thị trường theo cơ sở địa lý.
24
Bảng 4: Kết quả tiêu thụ theo vùng thị trường trong năm 2008
Thị trường Bánh quy Lương Khô Tổng
Sản lượng
(kg)
Cơ
cấu
(%)
Hà Nội 23.504 4,31 4.536 4,66 28.040 0,08
25