Báo cáo " PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ THỐNG KÊ CỔ ĐIỂN CHO HỆ SỐ PHÁT THẢI CHẤT THẢI NGUY HẠI TRUNG BÌNH TOÀN PHƯƠNG " - Pdf 12

Kỷ yếu hội nghị Khoa học Môi trường và Công nghệ sinh học năm 2011

75

PHƢƠNG PHÁP XỬ LÝ THỐNG KÊ CỔ ĐIỂN CHO HỆ SỐ PHÁT THẢI
CHẤT THẢI NGUY HẠI TRUNG BÌNH TOÀN PHƢƠNG

Nguyễn Xuân Trường
ĐH Kỹ thuật Công nghệ TP. Hồ Chí Minh (HUTECH)

ABSTRACT
The article refers to establish the emission factor according to the traditional
statistics method, allow to create new factor or adjust the factor has been effectively to
predict the total load of hazardous and industrial waste for EIA of new projects and
research for waste management policies, strategies and planning. This is the open way
for applying emission factor in practical condition.

ĐẶT VẤN ĐỀ
Xây dựng hệ số phát thải trung bình, tức là đƣa ra đƣợc một hệ số thống kê khối lƣợng chất
thải trung bình tin cậy (kg hay tấn) trên một đơn vị sản xuất nhất nguyên, mà các đơn vị này có thể
lựa chọn là diện đất công nghiệp (m
2
hay ha), đơn vị sản phẩm đầu ra quy đổi (tấn, m, m
2
, m
3
,…),
nhân công (ngƣời, giƣờng bệnh,…) hoặc là doanh thu (VNĐ, USD…). Yếu tố thời gian nhiều khi
cũng đƣợc đƣa vào nhƣ là một đơn vị thứ nguyên của hệ số, ví dụ nhƣ : kg/ha/ngày,
kg/ngƣời/ngày,
Vai trò chính của hệ số thống kê phát thải trung bình là để từ đó có thể tính toán, dự báo đối

Trong đó :
- M
i
: Lƣợng chất thải sinh ra (đơn vị khối lƣợng/thời gian phát thải, kg/h);
- x, y, z, m, n, là các biến số phụ thuộc và có ảnh hƣởng đến tỷ lệ phát thải, bao gồm trình
độ công nghệ, trình độ quản lý điều hành sản xuất, năng lực cán bộ, quy trình vận hành sản xuất,
mức độ tự động hóa và ứng dụng công nghệ thông tin, ý thức tiết kiệm nguyên nhiên liệu trong sản
xuất, ý thức trách nhiệm của giới chủ và công nhân trong việc bảo vệ môi trƣờng, sản xuất sạch
hơn, quy trình công nghệ xử lý, tái chế, thu hồi chất thải ;
- a, b, c, d, e, là số mũ thể hiện các bậc quan hệ tồn tại (a# b# c# d# e, ≥ 1).
Có thể thấy rằng khi liệt kê đầy đủ các biến số phụ thuộc vào M
i
sẽ cho ta một hàm số đa biến, đa
bậc với thứ nguyên không đồng nhất (hay còn gọi là các bảng liệt kê phi chuẩn tắc đa dạng). Chính
vì thế, trong trƣờng hợp này về mặt toán học khó có thể đƣa ra một lời giải cụ thể và chính xác. Mặt
khác, đứng trên quan điểm bảo vệ môi trƣờng cũng không cho phép chúng ta quan niệm chất thải và
các hệ số phát thải nhƣ những nghiệm số bất biến, vì chúng luôn có thể thay đổi trạng thái và gây
ảnh hƣởng đến môi trƣờng, sức khỏe con ngƣời theo từng thời điểm đi kèm với các tác động cộng
Kỷ yếu hội nghị Khoa học Môi trường và Công nghệ sinh học năm 2011

76

hƣởng của yếu tố tự nhiên và nhân tạo, không gian và thời gian (các tầng khí hậu, địa hình, thổ
nhƣỡng, thủy văn, nhiệt độ, chế độ gió, mƣa, nắng, ).
Do vậy, đối với các nghiên cứu về môi trƣờng, đặc biệt là các đối tƣợng phát thải trên diện
rộng cho phép các nhà nghiên cứu áp dụng các phép tính toán tƣơng đối, tức là có thể giới hạn và
loại bỏ bớt các biến số không cần thiết có ảnh hƣởng không đáng kể hoặc không rõ ràng đến khối
lƣợng phát sinh.

KINH NGHIỆM XÂY DỰNG HỆ SỐ PHÁT THẢI CHẤT THẢI RẮN CÔNG NGHIỆP VÀ

tƣợng áp dụng, nên có thể áp dụng cho các quy mô từ công suất sản xuất lớn đến vừa và nhỏ lẻ theo
quy tắc chung là ― mức phát thải sẽ tăng tƣơng ứng với chiều tăng của quy mô sản xuất và giảm
tƣơng ứng với chiều tăng của trình độ sản xuất ―. Điều này là rất thuận lợi cho các nền kinh tế phát
triển theo kiểu tổ hợp đa dạng về quy mô và trình độ sản xuất trên cơ sở kết hợp phù hợp giữa cái
truyền thống và cái hiện có, với cái tiên tiến và cái định hƣớng phát triển tƣơng lai.
- Việc xác định cả hệ số phát thải cho quy trình xử lý cuối đƣờng ống đã cho phép nhận thức rõ
về hiện trạng công nghệ đi từ đầu vào đến đầu ra sản phẩm và xử lý chất thải, hỗ trợ tích cực và
giúp cho việc đánh giá, lựa chọn công nghệ xử lý chất thải phù hợp với từng loại dự án đầu tƣ cụ
thể. Đây là ƣu điểm rất nổi bật của tài liệu kỹ thuật do WHO thiết lập trong việc đánh giá tác động
môi trƣờng và lựa chọn các phƣơng án bảo vệ môi trƣờng cho các dự án đầu tƣ mới.
Vì vậy, các hệ số phát thải của WHO đƣợc áp dụng khá rộng rãi và hiệu quả cho các nghiên
cứu xây dựng báo cáo đánh giá tác động môi trƣờng (ĐTM) hoặc trong các mục tiêu đánh giá tác
động và xây dựng các phƣơng án bảo vệ môi trƣờng khác (nhƣ xây dựng chiến lƣợc/quy hoạch/kế
hoạch bảo vệ môi trƣờng).
Kỷ yếu hội nghị Khoa học Môi trường và Công nghệ sinh học năm 2011

77

Những nhƣợc điểm chính trong cách tiếp cận xây dựng hệ số đánh giá nhanh mức độ ô nhiễm
do chất thải rắn của WHO bao gồm :
- Nhìn chung, ở nƣớc ngoài nhất là tại các nƣớc công nghiệp phát triển, thì các hệ số đánh giá
nhanh ô nhiễm do WHO thiết lập là thích hợp cho các đối tƣợng công nghệ có trƣớc năm 1993, xem
ra đã có vẻ khá lạc hậu so với một số loại công nghệ cao, mới hiện nay, vốn đặc trƣng bằng mức độ
và hệ số phát thải chất thải rắn thấp hơn nhiều lần. Xét theo góc độ bảo vệ môi trƣờng thì điều này
xem ra có thể có lợi vì tạo nên ― các phép dƣ an toàn ― về áp dụng các giải pháp kiểm soát và xử lý
ô nhiễm chất thải rắn, mặc dù có thể chƣa phù hợp nhiều về lợi ích kinh tế do có thể gây ra các chi
phí đầu tƣ bổ sung cho quá trình xử lý chất thải rắn.
Điều này là chƣa phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp phát triển bền vững hiện nay, vốn
dựa trên mục tiêu lồng ghép chặt chẽ và sự cân đối hài hòa giữa các lợi ích kinh tế – xã hội và môi
trƣờng. Tuy nhiên, nhƣợc điểm này chƣa thể hiện cấp bách ở nƣớc ta và ở nƣớc ta các hệ số đánh

sức khỏe nhân dân, trong đó khu vực các nƣớc đang và chậm phát triển đƣợc quan tâm nhiều nhất.

KINH NGHIỆM XÂY DỰNG HỆ SỐ PHÁT THẢI CHẤT THẢI RẮN CÔNG NGHIỆP VÀ
NGUY HẠI Ở TRONG NƢỚC
Ở quy mô cấp quốc gia
Việc xây dựng và ứng dụng các hệ số phát thải chất thải rắn công nghiệp và nguy hại phục vụ
cho các nhiệm vụ quy hoạch và quản lý môi trƣờng ở Việt Nam cũng đã đƣợc quan tâm triển khai
kể từ khi có Luật Bảo vệ Môi trƣờng năm 1993 cho đến nay. Hiện tại đã có nhiều đề tài, dự án ở
trong nƣớc đƣợc thực hiện dựa trên cơ sở nền tảng của công cụ đánh giá nhanh thông qua hệ số phát
thải, điển hình là báo cáo Chiến lƣợc Quốc gia của Việt Nam về Quản lý chất thải nguy hại (1998)
Kỷ yếu hội nghị Khoa học Môi trường và Công nghệ sinh học năm 2011

78

đƣợc ADB tài trợ và thực hiện bởi Cục Môi trƣờng. Nghiên cứu này với mục tiêu là xây dựng chiến
lƣợc quốc gia về quản lý chất thải nguy hại, trong đó đã sử dụng các hệ số phát sinh chất thải nguy
hại theo loại hình công nghiệp ở nƣớc ngoài (Nguồn : Chất thải nguy hại ở phía Tây và Bắc
Canada - Tập 1, Reid & Crowther & Partners Ltd/1980) để tính toán dự báo tổng lƣợng chất thải
nguy hại thải trên toàn quốc.
Ở vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam
Đề tài ― Quy hoạch tổng thể quản lý chất thải nguy hại ở TP. HCM, Đồng Nai, Bình Dƣơng
và Bà Rịa - Vũng Tàu ‖ thuộc Chƣơng trình cải thiện môi trƣờng TP. HCM mã số VIE 1702 do tổ
chức Norwegian Agency for Development Cooperation (NORAD) tài trợ cũng đã đƣợc thực hiện
với mục đích triển khai quy hoạch quản lý CTNH cho Vùng KTTĐPN. Để thực hiện đề tài, đơn vị
tƣ vấn là Công ty ERM đã soạn thảo bốn báo cáo về nghiên cứu điều tra cơ bản, trong đó có ƣớc
tính ban đầu về thống kê chất thải nguy hại ở Vùng KTTĐPN (lƣu ý : đến năm 2002 Vùng
KTTĐPN mới chỉ có TP. HCM, Đồng Nai, Bình Dƣơng và Bà Rịa Vũng Tàu). Tuy nhiên, cũng vì
mục đích thực hiện quy hoạch ban đầu nên các kết quả ƣớc tính dự báo trong báo cáo này rất tƣơng
đối và có độ tin cậy chƣa cao.
Song các đề xuất nhìn chung hƣớng tới việc đo đạc và ƣớc tính lƣợng phát thải chi tiết hơn

Nhìn chung các hệ số ô nhiễm xây dựng đƣợc trong đề tài này là tƣơng đối rõ ràng, đƣợc phân
chia phù hợp thành các đối tƣợng cụ thể ở trong và ngoài các KCN, KCX, quy mô lớn, quy mô vừa
và nhỏ. Tuy nhiên do mục đích nghiên cứu đặt ra vào thời điểm đó là làm sao ƣớc tính đƣợc khối
lƣợng CTRCN và CTRCNNH (ADB tính bằng khoảng 20% khối lƣợng CTRCN) phát sinh từ tất cả
các cơ sở sản xuất của toàn TP. Hồ Chí Minh nhằm định hƣớng xây dựng quy hoạch quản lý và xử
lý CTRCN và nguy hại cho toàn Thành phố đến năm 2010 , cho nên các số liệu tính toán, kể cả việc
Kỷ yếu hội nghị Khoa học Môi trường và Công nghệ sinh học năm 2011

79

xây dựng hệ số không yêu cầu đến mức phải thật chính xác, tức là chỉ dừng ở mức sử dụng các số
liệu thô thu thập và thống kê đƣợc từ các phiếu điều tra để xây dựng hệ số mà chƣa cần phải quan
tâm hơn đến các yếu tố liên quan có ảnh hƣởng nhiều đến tỷ lệ phát thải nhƣ chỉ số công nghệ, năng
lực quản lý và ý thức bảo vệ môi trƣờng,
Ở tỉnh Đồng Nai
Tại Đồng Nai Đề tài ―Nghiên cứu hệ số phát thải chất thải rắn công nghiệp của một số ngành
công nghiệp tại các khu vực công nghiệp ở Đồng Nai phục vụ công tác quản lý môi trƣờng‖ – Luận
văn cao học của Nguyễn Thị Mai Liên, Viện Tài nguyên Môi trƣờng năm 2005 đã công bố kết quả
nghiên cứu xây dựng hệ số phát thải cho một số ngành công nghiệp điển hình ở Đồng Nai dựa trên
cơ sở số liệu điều tra đƣợc từ 113/339 nhà máy đang hoạt động tại Đồng Nai, bao gồm : 20/38 nhà
máy thực phẩm, 01/01 nhà máy thuốc lá, 05/44 nhà máy dệt nhuộm, 08/36 nhà máy gỗ và giấy;
06/15nhà máy hóa chất vô cơ; nhà máy hóa chất hữu cơ 11/24; 09/30 nhà máy sản xuất thuốc bảo
vệ thực vật, dƣợc phẩm, phân bón hóa học; 04/12 nhà máy sản xuất cao su; 06/24 nhà máy sản
xuất nhựa; 07/10 nhà máy sản xuất da và các sản phẩm từ da; 18/46 nhà máy cao su và nhựa; 11/38
nhà máy gốm sứ, vật liệu xây dựng; 13/56 nhà máy cơ khí, chế tạo máy; 13/13 nhà máy điện, điện
tử.
Về phƣơng pháp thu thập số liệu, tác giả luận văn đã kết hợp sử dụng 03 cách tiếp cận thu
thập số liệu về thành phần, số lƣợng chất thải công nghiệp và các thông tin liên quan khác nhƣ diện
tích, nhân công…. Về cơ bản thì phƣơng pháp thu thập số liệu này cũng giống nhƣ các đề tài nghiên
cứu trƣớc đây từng làm, đó là : Khảo sát thực tế thu thập thông tin về chất thải; Số liệu từ các đơn vị

*T
o
(2)
Đánh giá tác động của từng biến số lên TCC bằng cách lấy đạo hàm cấp 1

Việc lƣợng hóa các tiêu chí thành phần đƣợc thực hiện theo phƣơng pháp chuyên gia với
thang điểm từ 0 ’ 100. Các tiêu chí của 4 thành phần công nghệ đƣợc xác định theo phƣơng pháp
trung bình có trọng số từ các tiêu chí thành phần :

TCC
TCCd )(
M
Md
O
Od
I
dI
H
Hd
T
Td
moih
)()()()(


= Kỷ yếu hội nghị Khoa học Môi trường và Công nghệ sinh học năm 2011


6
/I + k
7
O (4). Để xác định các hệ số (k
i
) trong phƣơng trình hồi quy, tác giả đã sử dụng phần mềm
thống kê của Sở TN&MT Đồng Nai với các thông số M, A, L, P, T, H, I, O thu thập đƣợc từ các
nhà máy trong các khoảng thời gian khác nhau. Các hệ số của phƣơng trình hồi quy sau khi đã đƣợc
hiệu chỉnh sẽ cho biết giá trị thực tế của M là lƣợng chất thải phát sinh thực tế sẽ thay đổi bao nhiêu
đơn vị khi từng biến số M, A, L, P, T, H, I, O thay đổi 1 đơn vị. Trên cơ sở lƣợng chất thải phát
sinh thu đƣợc (M), tác giả đã xây dựng đƣợc hệ số ô nhiễm CTRCN cho các ngành nghề nghiên cứu
ở tỉnh Đồng Nai.
Nhìn chung, đây là một công trình nghiên cứu tƣơng đối công phu và có giá trị, nhƣng có một
hạn chế là đề tài này chƣa chứng minh đƣợc về mặt lý thuyết và thực tiễn mối quan hệ tƣơng quan
giữa lƣợng chất thải phát sinh (M) và các yếu tố liên quan A, L, P, T, H, I, O là tuyến tính để từ đó
xây dựng đƣợc hàm hồi quy tuyến tính, hay chƣa tìm ra đƣợc quy luật phát thải tuyến tính khi các
biến số phụ thuộc có khác biệt nhiều về đơn vị đo (dạng phi chuẩn tắc đa dạng), mối quan hệ tƣơng
quan và có sự thay đổi không đồng nhất theo cùng 1 đơn vị đo. Điều này có thể ảnh hƣởng lớn tới
tính chính xác và độ tin cậy của các giá trị hệ số phát thải tính toán đƣợc.

PHƢƠNG PHÁP XỬ LÝ THỐNG KÊ CỔ ĐIỂN
Theo quan điểm của nhiều chuyên gia thì phƣơng pháp tiếp cận xây dựng hệ số phát thải trên
cơ sở khảo sát điển hình một số lƣợng nhất định các nhà máy điển hình thuộc các ngành nghề và
quy mô lựa chọn rồi xử lý thống kê xây dựng hệ số trung bình trên cơ sở các số liệu thu thập đƣợc
từ các nhà máy đó, sau đó loại trừ sai số toàn phƣơng để cho ra hệ số trung bình toàn phƣơng là có
thể chấp nhận đƣợc trong các nghiên cứu trên diện rộng, nhƣng chắc chắn nó sẽ có độ tin cậy ít hơn
phƣơng pháp tiếp cận cụ thể thông qua đầu tƣ khảo sát tổng thể thực trạng sản xuất của các nhà máy
thuộc phạm vi khu vực nghiên cứu (phƣơng pháp này đòi hỏi thời gian và chi phí lớn nên thực tế
khó có thể thực hiện đƣợc ở quy mô nghiên cứu vùng, miền), tức là xem xét hệ số phát thải trên cơ
sở nghiên cứu cụ thể từng nguồn phát thải thông qua nghiên cứu quy trình công nghệ, công suất,

K
1
1
*
Kỷ yếu hội nghị Khoa học Môi trường và Công nghệ sinh học năm 2011

81

bình của ngành nghề đó. Do vậy, khi có càng nhiều hệ số phát thải từ các nhà máy thì hệ số phát
thải trung bình của ngành nghề càng gần với giá trị thực tế.
Việc xử lý sai số theo phƣơng pháp trung bình toàn phƣơng nhằm đánh giá và loại trừ những
sai số ngẫu nhiên và hệ thống trong quá trình thống kê thu thập, tính toán và xử lý số liệu. Để có thể
thu hẹp khoảng sai số ngẫu nhiên của các hệ số phát thải riêng lẻ từng nhà máy, ta có thể lấy trị số
trung bình cộng của các kết quả thu đƣợc theo công thức (5) sau :
y
tb
= (y
1
+ y
2
+ y
3
+ ….)/n = (∑y
i
)/n (5)
Khi kết quả thống kê riêng biệt lớn hơn trị số trung bình, thì sai số đƣợc coi là dƣơng và
ngƣợc lại sai số coi là âm. Nhƣ vậy, càng nhiều số liệu đo đạc thì trị số trung bình càng gần với trị
số thực của nó; vì khi lấy tổng các kết quả đo, các sai số âm và dƣơng sẽ triệt tiêu lẫn nhau. Để đặc
trƣng cho độ chính xác của loạt phép tính ngƣời ta tính trị số trung bình của sai số trong cả loạt ấy.
Nghĩa là tìm độ lệch chuẩn (Δ

trung bình của dãy đó:
σ
tb
= √(∑(Δ
i
)
2
)/n(n-1)
Bằng cách này loại trừ đƣợc dấu của sai số và làm rõ đƣợc vai trò các sai số lớn. Theo toán
học thống kê cần loại bỏ những kết quả đo sai số quá lớn có Δ
i
>3σ
tb
. Tuy nhiên cần lƣu ý rằng nếu
các sai số thô bị loại bỏ chỉ dƣới 10% là dãy số tốt, nếu trên 20% cần cân đối và thực hiện lại phép
tính. Dựa vào sai số trung bình toàn phƣơng trung bình ngƣời ta tính đƣợc trị số trung bình của loạt
kết quả tính toán theo công thức:
y = y
tb
± σ
tb
(7)

KẾT LUẬN
Nhƣ vậy, để thực hiện đƣợc nhiệm vụ đặt ra là xây dựng các hệ số phát thải chất thải rắn công
nghiệp và nguy hại trung bình cho một ngành công nghiệp cụ thể, đầu tiên cần thu thập các số liệu
sẵn có về tình hình phát thải từ hoạt động sản xuất của ngành đó, khi chƣa đủ thông tin ta sẽ bổ
sung thêm số liệu bằng cách tiến hành khảo sát thực tế, phỏng vấn trực tiếp hoặc gửi bảng câu hỏi
tới các đối tƣợng yêu cầu để làm rõ hơn thông tin về các quy trình sản xuất, chất thải phát sinh, tình
hình quản lý chất thải tại nguồn. Nếu thông tin đƣợc cho là đáng tin cậy thì có thể rút ra các ― hệ số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status