LUẬN VĂN:
những nhận xét đối với những vấn đề
của nền kinh tế, quan điểm lý luận cũng
như các giải pháp có liên quan
Phần Nội dung
I ) Những vấn đề lý luận cơ bản về kinh tế hàng hoá
1) Những vấn đề lý luận:
a) Quá trình chuyển từ kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hóa và tính tất yếu của nó.
Một nền kinh tế sản xuất theo kiểu tự cung tự cấp chỉ nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng
ở phạm vi hẹp. Đây là kiểu tổ chức sản xuất tự nhiên, khép kín trong phạm vi từng đơn vị
nhỏ, không cho phép mở rộng quan hệ với các đơn vị khác. Vì vậy, nó có tính chất bảo
thủ, trì trệ, bị giới hạn ở nhu cầu hạn hẹp.
Sản xuất tự cung tự cấp thích ứng với thời kỳ lực lượng sản xuất chưa phát triển, khi mà
lao động thủ công chiếm địa vị thống trị. Nó có trong thời kỳ công xã nguyên thuỷ, và tồn
tại phổ biến trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ. Trong thời kỳ phong kiến, sản xuất tự cung, tự
cấp tồn tại dưới hình thái điền trang, thái ấp của địa chủ và kinh tế nông dân gia trưởng.
Khi lực lượng sản xuất phát triển cao, phân công lao động được mở rộng thì dần dần
xuất hiện trao đổi hàng hóa. Khi trao đổi hàng hóa trở thành mục đích thường xuyên của
sản xuất thì sản xuất hàng hóa ra đời theo đúng quy luật tất yếu của nó.
b) Điều kiện ra đời của kinh tế hàng hóa
Khi tồn tại trong nền kinh tế sự phân công lao đ
ộng xã hội, quan hệ giữa những
người sản xuất thì nền kinh tế hàng hoá xuất hiện mang tính tất yếu của nó.Kinh tế hàng
hóa là loại hình tiến bộ, là nấc thang cao hơn kinh tế tự nhiên tự cấp tự túc trong sự phát
triển của xã hội loài người.
Sản xuất hàng hóa là một kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra để
độ kỹ thuật, khả năng thỏa mãn nhu cầu. Vì vậy, sản xuất hàng hóa quy mô lớn là cách
thức tổ chức hiện đại để phát triển kinh tế – xã hội trong thời đại hiện nay.
d)Các giai đoạn phát triển kinh tế
Trong lịch sử phát triển, khi trong sản xuất có sản phẩm thặng dư, tức là phần sản phẩm
vượt qua phần sản phẩm tất yếu do người sản xuất tạo ra. Người lao động đã có thể làm
chủ những sản phẩm dư thừa đó và xuất hiện sự trao đổi hàng hoá nhằm thoả mãn nhu cầu.
Thị trường xuất hiện từ đó với vai trò là nơI tiến hành các cuộc trao đổi.
Tuy nhiên, phải đến giai đoạn cuối xã hội phong kiến đầu xã hội TBCN kinh tế thị
trường(KTTT) mới được xác lập, và phải đến cuối giai đoạn phát triển của CNTB tự do
cạnh tranh thì KTTT mới được xác lập hoàn toàn. Các giai đoạn phát triển kinh tế bao
gồm:
- Kinh tế hàng hoá giản đơn .
- Kinh tế thị trường tự do, cổ điển.
- Kinh tế thị trường hiện đại hỗn hợp.
e)Những quy luật kinh tế cơ bản của kinh tế hàng hóa
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa. Chừng nào
còn sản xuất và trao đổi hàng hóa thì chừng đó còn quy luật giá trị.
Yêu cầu của quy luật giá trị là sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở lượng
giá trị hàng hóa hay thời gian lao động xã hội cần thiết.Trong trao đổi hàng hóa cũng phải
dựa vào hao phí lao động xã hội cần thiết. Hai hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau có
thể trao đổi với nhau được khi lượng giá trị của chúng ngang nhau. Theo nghĩa đó, trao đổi
phải theo nguyên tắc ngang giá.
Quy luật giá trị là trừu tượng. Nó thể hiện sự vận động thông qua sự biến động của giá
cả hàng hóa. Giá cả phụ thuộc vào giá trị, vì giá trị là cơ sở của giá cả. Ngoài ra, giá cả còn
phụ thuộc vào các nhân tố khác như quan hệ cung cầu, tình trạng độc quyền trên thị
tế. Sự đối kháng đó tất yếu dẫn đến cuộc đấu tranh giữa người nghèo chống lại kẻ giàu,
người thợ chống lại chủ, vô sản chống lại tư sản. Đó là một trong những khuyết tật của nền
kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường.
2) Tính tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường
a) Những điều kiện : Sự phân công lao động xã hội, các nghành nghề sự tồn tại nhiều
quá trình sở hữu
Nước ta quá độ lên CNXH trong điều kiện một nền sản xuất nhỏ là phổ biến do đó, nền
kinh tế mà chúng ta xây dựng là một nền KTTT định hướng XHCN, tức là một nền KTTT
tuy còn chưa thoát khỏi những đặc điểm của kinh tế thị trường TBCN nhưng bước đầu đã
mang những yếu tố XHCN và những yếu tố này ngày càng lớn mạnh lên thay thế dần
những yếu tố TBCN. Trong mô hình đó, chúng ta đã khẳng định rằng KTTT không phải là
đặc trưng riêng có của CNTB, rằng KTTT ở nhiều mức độ phát triển khác nhau đã có
riêng lịch sử với nhiều chế độ xã hội. Sự ra đời kinh tế thị trường TBCN chỉ đẩy nó lên
một giai đoạn phát triển mới về chất. Là sự phát triển tiếp tục xu hướng khách quan đó,
nền kinh tế của CNXH nói chung, của thời kì quá độ lên CNXH nói riêng là một sự phát
triển mang tính phủ định biện chứng đối với kinh tế thị trường TBCN. Từ đấy ra đời một
nền KTTT mới về chất. Nếu trong CNTB hiện đại, KTTT đặt dưới sự quản lý của nhà
nước tư sản độc quyền vì lợi ích của giai cấp tư sản, thì trong CNXH nền KTTT nằm dưới
sự quản lý của Nhà nước XHCN nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân góp phần thực hiện
mục tiêu giải phóng con người, vì con người.
b)Tính khách quan :sự phù hợp với thực trạng nền kinh tế
Sự ra đời và phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần hơn 10 năm qua đã diễn ra
như một tất yếu kinh tế với sức mạnh hồi sinh, sức mạnh của hàng triệu quần chúng đã tạo
ra sự thay đổi căn bản về sức sản xuất xã hội, được nhân dân đồng tình ủng hộ. Cũng từ
đó, vấn đề định hướng XHCN của nền kinh tế được đặt ra hoàn toàn mới, hoàn toàn không
KTTT trong nền sản xuất xã hội và hầu như đều thừa nhận sự tồn tại khách quan của kinh
tế hàng hóa và KTTT trong nhiều chế độ xã hội khác nhau, không phải riêng có của
CNTB. Đảng đã khẳng định: “ Sản xuất hàng hóa không đối lập với CNXH, mà là thành
tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết cho công cuộc xây
dựng CNXH và cả khi CNXH đã được xây dựng”.
Trong nền kinh tế hàng hóa, KTTT, cơ chế thị trường là cơ chế kinh tế nảy sinh một
cách tất yếu từ sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa, là cơ chế kinh tế thông
qua thị trường để tự điều chỉnh các cân đối của nền kinh tế theo yêu cầu của các quy luật
khách quan, là guồng máy vận hành của nền kinh tế hàng hóa, KTTT, là phương thức cơ
bản để phân phối và sử dụng các nguồn lực. Căn cứ vào thị trường, các doanh nghiệp sẽ
quyết định: sản xuất gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai. KTTT đòi hỏi phát triển sản
xuất hàng hóa, mọi sản phẩm là hàng hóa hoặc có tính hàng hóa; mở rộng thị trường về
mọi phương diện; tự do sản xuất, kinh doanh; tự do thương mại; đa dạng hóa hình thức sở
hữu, hình thức phân phối. Trong đó nó có các đặc trưng: Đặc trưng cơ bản nhất là cơ chế
hình thành giá cả một cách tự do, thứ hai là lựa chọn tối ưu hóa các hoạt động kinh tế để
đạt được lợi nhuận của các quy luật kinh tế hàng hóa. Sự quản lý, can thiệp vĩ mô của nhà
nước phải thích hợp với yêu cầu của các quy luật đó.
KTTT là cơ chế tự điều tiết nền kinh tế rất linh hoạt, mềm dẻo, nó có tác dụng kích
thích mạnh và nhanh sự quan tâm thường xuyên đến đổi mới kỹ thuật, công nghệ quản lý,
đến nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng; nó có tác dụng lớn trong tuyển chọn các
doanh nghiệp và cá nhân quản lý kinh doanh giỏi. Trên cơ sở đó, KTTT kích thích sản
xuất và lưu thông hàng hóa phát triển…
Tính tự chủ của các chủ thể kinh tế- doanh nghiệp đơn vị sản xuất, các hãng kinh
doanh- rất cao. Thừa nhận sự tồn tại của kinh tế hàng hóa cũng có nghĩa là thừa nhận sự
tách biệt về kinh tế giữa các chủ thể, các chủ thể phải tự bù đắp chi phí và có lãi. Kinh tế
hàng hóa không bao dung hành vi bao cấp, nó đối lập với bao cấp và đồng nghĩa với tự
chủ, năng động.
Trên thị trường, hàng hóa rất phong phú, người ta tự do mua bán hàng hóa. Đặc trưng
này phản ánh tính ưu việt hơn hẳn của KTTT so với kinh tế tự nhiên.
mới. Trước đây, có lúc chúng ta hiểu chưa đúng, đồng nhất KTTT với kinh tế TBCN, mà
cho rằng thị trường là bản chất. Vì vậy, mà không tận dụng được sức mạnh của thị trường
để phát triển kinh tế. Giờ đây, chúng ta đã hiểu được rằng thị trường không mang bản chất
chế độ, mà chỉ có chế độ xã hội nào biết hay không biết tận dụng những lợi thế đó để phục
vụ chế độ mình. Thị trường được coi là một phương tiện quan trọng để xây dựng và phát
triển kinh tế.
Vì vậy, càng đổi mới kinh tế, càng gần với CNXH hơn. Nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần hợp tác, đua tranh phát triển ấy có thể đi lên sản xuất lớn XHCN bằng chế độ
hợp tác trên nền tảng của một nền sản xuất xã hội hóa.
2)Nền kinh tế hàng hóa phát triển theo định hướng XHCN thông qua bản chất và vai
trò quản lý của Nhà nước
Sự vận động của nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường không thể nào giải quyết
hết được những vấn đề do chính cơ chế đó và bản thân đời sống KT- XH đặt ra. Đó là tình
trạng thất nghiệp, lạm phát, khủng hoảng, phân hóa bất bình đẳng, ô nhiễm môi trường, sự
bùng nổ dân số cũng như những hiện tượng xã hội khác. Những tình trạng và hiện tượng
trên ở những mức độ khác nhau, trực tiếp hay gián tiếp đều có tác động ngược trở lại, làm
cản trở sự phát triển “bình thường” của một xã hội nói chung và của nền kinh tế hàng hóa
nói riêng. Vì vậy sự tác động của Nhà nước- một chủ thể có khả năng nhận thức và vận
dụng các quy luật khách quan- vào nền kinh tế là một tất yếu của sự phát triển KT- XH.
Thiếu sự “can thiệp” của Nhà nước vào kinh tế để cho nền KTTT tự do hoạt động, thì việc
điều hành nền kinh tế nước ta sẽ không thể có hiệu quả, cũng giống như người ta muốn vỗ
tay mà chỉ dùng một “bàn tay”.
Sự quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế hàng hóa ở nước ta được thực hiện bằng
luật pháp và các công cụ chính sách vĩ mô khác. Nhà nước sử dụng những công cụ đó để
quản lý các hoạt động kinh tế làm cho nền kinh tế “ lành mạnh” hơn, giảm bớt những
thăng trầm, đột biến xấu trên con đường phát triển của nó, khắc phục được tình trạng phân
trên thị trường thế giới, nhanh chóng đưa nền kinh tế nước ta hội nhập voà nhịp điệu của
kinh tế thế giới.
Việc mở cửa nền kinh tế, đòi hỏi phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng lẫn
nhau, đảm bảo chủ quyền và cùng có lợi.
4)Nền kinh tế hàng hóa dựa trên cơ sở nền kinh tế nhiều thành phần
Cơ sở khách quan của sự tồn tại nhiều thành phần đó là do còn nhiều hình thức sở hữu
khác nhau về tư liệu sản xuất:
- Kinh tế Nhà nước
- Kinh tế tư bản Nhà Nước
- Kinh tế hợp tác
- Kinh tế tư bản tư nhân
- Kinh tế cá thể tiểu chủ
Đại hội Đản VII đã khẳng định, các thành phần kinh tế đang tồn tại khách quan tương ứng
với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong giai đoạn lịch sử hiện nay,
đó là: kinh tế Nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân TBCN và kinh tế tư
bản Nhà nước.
Nền kinh tế nhiều thành phần trong sự vận động của cơ chế thị trường ở nước ta là
nguồn lực tổng hợp to lớn để đưa nền kinh tế vượt khỏi thực trạng thấp kém, đưa nền kinh
tế hàng hóa phát triển kể cả trong điều kiện ngân sách Nhà nước hạn hẹp.
Nền kinh tế nhiều thành phần vừa phản ánh tính đa dạng phong phú trong việc đáp
ứng nhu cầu xã hội vừa phản ánh tính chất phức tạp trong việc quản lý theo định hướng
XHCN. Do đó, việc “phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phải đi đôi với tăng
cường quản lý của Nhà nước về KT-XH”. Để hạn chế và khắc phục những hậu quả của
mặt trái kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường mang lại, giữ
cho công cuộc đổi mới đi đúng hướng và phát huy bản chất tốt đẹp của CNXH, Nhà nước
phải thực hiện tốt vai trò quản lý KT-XH bằng luật pháp, kế hoạch, chính sách, thông tin,
Trước hết, phải đẩy mạnh phân công lao động ở các vùng của đất nước. Hiện nay, ở các
thành thị, vùng đồng bằng, phân công lao động, phát triển ngành nghề đã có bước phát
triển khá. Song ở miền núi, hải đảo vẫn còn mang nặng sắc thái của nền kinh tế tự nhiên.
Đầu tư vào các vùng xa xôi, hẻo lánh như vậy rất khó sinh lời nên tư nhân không muốn
đầu tư mà chủ yếu là đầu tư của Nà nước. Cần có biên pháp để đẩy mạnh phân công lại lao
động ở các vùng này. Hiện tại, ngân sách Nhà nước đang có nhiều khó khăn song với việc
đa dạng hóa các doanh nghiệp sinh lợi, Nhà nước có thêm một nguồn ngân sách để đầu tư
phát triển miền núi, hải đảo.
3) Hình thành đồng bộ các loại thị trường
Sự cân bằng chung giữa các loại thị trường là yêu cầu tất yếu trong quá trình phát triển
thị trường. Nó cho phép xác lập mối quan hệ cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa cung
và cầu, giữa hàng và tiền.
Hàng hóa đầu ra về cơ bản đã được chi phối bởi quy luật thị trường, song hàng hóa đầu
vào như đất đai, sức lao động và vốn, thực chất chưa có thị trường. Cần tạo môi trường
pháp lý, môi trường kinh tế, các chủ trương chinh sách và tổ chức cho các loại thị trường
này phát triển.
Vấn đề vướng mắc hàng đầu hiện nay là thị trường đất đai. Theo quy định của Hiến
pháp, ruộng đất thuộc quyền sở hữu toàn dân nên đất đai không được mua bán như hàng
hóa thông thường trên thị trường. Tuy nhiên, người sử dụng đất đai lại có quyền chuyển
nhượng đất đai. Về thực chất, chuyển nhượng đất đai là bản quyền sử dụng đất đai. Nói
cách khac, yếu tố đất đai chưa được tự do dịch chuyển trên thị trường.
Thị trường vốn đang từng bước được hình thành. Tuy nhiên, các điều kiện pháp lý bảo
đảm cho thị trường vốn cũng như cấu trúc thị trường vốn còn nhiều bất cập. Vì vây, cần
sớm hoàn thiện môi trường pháp lý và xây dựng các cấu trúc, các trung gian tài chính tạo
kiều kiện cho thị trường vốn phát triển đa dạng trong nền kinh tế.
Đồng thời, cũng cần tạo môi trường cho sức lao động được tự do dịch chuyển trên thị
phần kết luận
Trong thời kì chuyển biến của nền kinh tế nước ta, bên cạnh những thành tựu to lớn,
chúng ta còn phải đối mặt với rất nhiều thách thức, cản trở. Khó khăn đặt ra ở đây là chúng
ta xây dựng nền KTTT trong bối cảnh nền kinh tế còn tồn tại nhiều yếu kém, năng suất lao
động thấp. Tuy nhiên, với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chúng ta có thể khẳng định:
KTTT ở Việt Nam sẽ được phát triển theo định hướng XHCN. Đó là sự định hướng của
một xã hội mà sự sự đúng đắn của nó thể hiện ở kết quả dân giàu nước mạnh. Xã hội
không còn chế độ người bóc lột người . Xã hội có nền kinh tế phát triển cao trên cơ sở nền
khoa học công nghệ và lực lượng sản xuất hiện đại, sự phân công lao động xã hội hợp lý,
xây dựng phát triển các cơ sở hạ từng, có các kế hoạch phát triển lâu dài. Định hướng
XHCN nêu trên không chỉ phản ánh nguyện vọng và lý tưởng của đảng ta, Nhà nước và
nhân dân ta, mà còn phản ánh xu thế phát triển khách quan của thời đại cũng như quy luật
tiến hóa của lịch sử. Việc chuyển biến theo xu thế phát triển chung của thế giới với sự bắt
nhịp kịp thời là bước ngoặt lớn tạo đà cho sự phát triển kinh tế của nước ta. Tuy nhiên trên
con đường phát triển này chúng ta còn phải cố gắng nỗ lực mới đạt được nhiều thành tựu
mới. Có như thế nền kinh tế mới phát triển theo đúng nghĩa đổi mới của nó.
kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa, vận hành theo cơ chế thị
trường. 8
2)Nền kinh tế hàng hóa phát triển theo định hướng XHCN thông qua bản chất
và vai trò quản lý của Nhà nước 9
3)Nền kinh tế quan hệ với kinh tế các nước trên thế giới tồn tại dưới nhiều hình
thức 10
4)Nền kinh tế hàng hóa dựa trên cơ sở nền kinh tế nhiều thành phần 10
iii) Các giải pháp phát triển kinh tế hàng hóa ở Việt Nam 11
1)Đa dạng hoá các hình thức tư liệu sản xuất 11
2)Tiến hành phân công lao động xã hội chú ý đến các nghành nghề truyền thống
12
3) Hình thành đồng bộ các loại thị trường 12
4)Tiếp tục đổi mới và nâng cao vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước 13
5)Đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp
và cải cách nền hành chính quốc gia 13
phần kết luận 15
tài liệu tham khảo 16