Luận văn tốt nghiệp: Những yếu tố ảnh hưởng tới tính tích cực học tập của sinh viên Đại học - Pdf 12


 Luận văn tốt nghiệp

Những yếu tố ảnh hưởng tới tính tích cực học
tập của sinh viên Đại học 1

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện.
Các số liệu, kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và
chưa được công bố ở các nghiên cứu khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình Học viên
được sự góp ý, bổ sung ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn học viên.
Em xin chân thành cảm ơn Học viên
Trần Lan Anh Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.

3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nội dung
GDĐH Giáo dục đại học
SV Sinh viên
TTC Tính tích cực
ĐHQG HN Đại học Quốc gia Hà Nội
ĐHKHTN Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN
ĐHNN Đại học Ngoại Ngữ, ĐHQGHN
PVS Phỏng vấn sâu

Hộp 2.1: Phỏng vấn sâu về hành vi thảo luận nhóm………………………….… 41
Hộp 2.2: Phỏng vấn sâu về hành vi làm việc riêng trong giờ học……………….45
Hộp 2.3: Phỏng vấn sâu hành vi sử dụng tai liệu khi thi, kiểm tra mà không
được phép…………………………………………………………………………45
Hộp 3.1: Quan sát trường hợp một lớp học……………………………………….54

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Mức độ tích cực lập kế hoạch học tập của SV ĐHQGHN………….29

Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.

5

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“Mục tiêu cuối cùng của hệ thống giáo dục là chuyển giao cho cá nhân gánh
nặng của việc tự theo đuổi việc học tập của chính mình” (I.W.Gardener). Bản chất
của giáo dục đại học (GDĐH) chính là học để biết cách tự học hay nói một cách
khác chính là rèn luyện tư duy độc lập.
Trong thế giới phát triển như vũ bão ngày nay, sống cũng có nghĩa là không
ngừng phải học hỏi, học suốt đời. Bởi vì trước hết tri thức là vô tận và ngày càng vô
tận. Nếu phải mất 1500 năm đầu Công nguyên khối lượng kiến thức của toàn nhân
loại mới nhân lên được gấp đôi thì tốc độ nhân đôi đó ngày nay chỉ là 18 tháng, và
khoảng thời gian để đạt được tốc độ đó trong nền kinh tế tri thức lại ngày càng được
rút ngắn. Tiếp theo, từ các quan điểm đuổi theo kiến thức, chỉ biết có học kiến thức,
nếu nền giáo dục chỉ ra sức nhồi nhét vào đầu sinh viên (SV) bao nhiêu thứ, thì
nhiều mấy cũng không thấy đủ. Vả lại, khối lượng kiến thức thì tăng hàng ngày
hàng giờ, nhưng thời gian dành cho đào tạo ở hệ đại học hàng thế kỷ nay hầu như
không thay đổi. Vậy bằng cách nào để người học có thể nắm bắt được kiến thức của

nói riêng. Tuy nhiên, học tích cực không phải là một thủ thuật hay một công cụ. Để
chấp nhận khái niệm sư phạm của học tích cực cần có sự thay đổi hành vi của cả
thầy và trò. Học không phải là điều được làm cho học sinh mà là điều học sinh tự
làm cho mình. Người thầy phải khuyến khích học sinh của mình nhận ra rằng các
em phải tự dạy mình với sự giúp đỡ của thầy (chứ không phải ngồi đó và chờ có
kiến thức nhờ thẩm thấu). Chúng ta cần nghiên cứu để phát hiện ra những thay đổi
hành vi đó và điều quan trọng hơn là chúng ta cần tìm ra được những nhân tố nào
ảnh hưởng đến việc thay đổi hành vi trong quá trình dạy - học.
Việc tìm ra các yếu tố ảnh hưởng tới tính tích cực học tập của SV không chỉ
có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, đặc biệt trong giai
đoạn hiện nay, khi chúng ta đang tiến hành triển khai học chế tín chỉ cùng với việc
đổi mới phương pháp dạy và học để từng bước nâng cao chất lượng đào tạo ngang
tầm khu vực và quốc tế.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “Những
yếu tố ảnh hưởng tới tính tích cực học tập của SV đại học”.
Chúng tôi hy vọng đề tài sẽ góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về tính tích
cực (TTC) học tập và kết quả của đề tài sẽ giúp cho người dạy, người học và người
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.

7

quản lý nhận rõ TTC trong hoạt động học của SV (SV) đại học, từ đó có những
phương pháp dạy, phương pháp học và quản lý dạy và học có hiệu quả cao.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu này hướng đến những mục tiêu sau:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về TTC học tập;
- Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng tới TTC học tập của SV đại học ở
dạng hành vi;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao TTC học tập của SV;

+ Điểm trung bình của học kỳ gần nhất
+ Mức chi tiêu của bản thân trung bình mỗi tháng
5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: SV đại học
- Đối tượng nghiên cứu : TTC học tập
6. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu
- Phương pháp hồi cứu tư liệu
- Phương pháp điều tra xã hội học qua bảng hỏi
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp thống kê toán học (sử dụng phần mềm SPSS, phiên
bản 17.0 để phân tích và xử lý số liệu).
7. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: 4 đơn vị thành viên trong ĐHQGHN đại diện cho 4
khối ngành khác nhau: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHKHTN) - đại diện
cho khối ngành Khoa học tự nhiên và toán học; Trường Đại học Kinh tế (ĐHKT) -
đại diện cho khối ngành Kinh tế; Trường Trường Đại học Ngoại ngữ (ĐHNN) - đại
diện cho Khối ngành Ngoại ngữ; khoa Luật - đại diện cho khối ngành Khoa học xã
hội và nhân văn.
8. Cách thức chọn mẫu
8.1. Chọn mẫu đối tượng khảo sát bằng bảng hỏi
Luận văn thực hiện phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, phân tầng và theo
cụm. 4 đơn vị trực thuộc ĐHQGHN, đại diện các nhóm ngành khác nhau được chọn
ra như đã kể trên.
Tại mỗi đơn vị, chọn ngẫu nhiên 1 khoa bất kỳ. Từ mỗi khoa này, tiếp tục
chọn ra 120 SV từ năm thứ nhất đến năm thứ tư (mỗi khóa có 30 em). Số SV được
phát phiếu hỏi được lấy từ danh sách của mỗi lớp.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.

9

tính tích cực học tập
Hetty Hofman, Pamela Wright, Lê Thu Hoà và Nguyễn Hữu Cát biên
dịch, (2005). Học tích cực – Bước tiếp theo để tăng cường giáo dục y khoa tại
Việt Nam, Dự án Việt Nam – Hà Lan: “tăng cường giảng dạy hướng cộng đồng
trong tám trường đại học Y Việt Nam”. Theo các tác giả, để trả lời cho các câu
hỏi: Tại sao SV của tôi học? Học như thế nào? Cần học những gì để trở thành một
bác sỹ giỏi? Họ muốn học những gì, người thầy phải có những hiểu biết sâu sắc về
những khái niệm cốt lõi về nhu cầu, động lực và sự hỗ trợ xã hội và phải tạo ra
được một môi trường học tập có hiệu quả. Mặc dù tác giả không chỉ rõ những nhân
tố nào ảnh hưởng tới TTC học tập của SV nhưng qua việc phân tích những lý thuyết
về học tập, đưa ra những cơ sở của học tích cực, tác giả dường như chú trọng đến
động cơ học tập và môi trường học tập của người học.
Robert Fisher (2003), Dạy trẻ học, Dự án Việt Bỉ. Xuất phát từ quan điểm
“những người học thành công không chỉ giàu kiến thức mà học còn biết phải học
như thế nào”, tác giả đã trình bày khung hình cho một chính sách học tập tích cực
của học sinh, SV là: 1. Tư duy để học; 2. Đặt câu hỏi; 3. Lập kế hoạch; 4. Thảo
luận; 5. Vẽ sơ đồ nhận thức; 6. Tư duy đa hướng; 7. Học tập hợp tác; 8. Kèm cặp; 9.
Kiểm điểm; 10. Tạo nên một cộng đồng học tập. Tác giả đã nêu lên các cách thức
học tập hiệu quả và một hệ thống bài tập để học sinh, SV bộc lộ, hình thành và phát
triển các cách thức học tập đó, một thành phần của hoạt động học tập, đó là hành
động tích cực lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của nhân loại chuyển thành tâm lý, ý
thức của bản thân. Mỗi người học phải tự tìm ra một cách thức học phù hợp với
năng lực và mục đích học tập của chính bản thân mình. Theo tác giả, phương pháp
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.

11

học là quan trọng. Nếu người học biết tìm cho mình phương pháp học đúng sẽ làm
tăng niềm đam mê và TTC học tập. Như vậy, thành công sẽ nối tiếp thành công.

12

cởi mở đối với những kinh nghiệm mới, khát khao nghĩ cho mình để ngày càng
nhận rõ bản sắc.
Allan C.Onstein, Loyola University of Chicago ST.John’s University;
Thomas J.Lasley II University of Dayton. Các chiến lược để dạy học có hiệu
quả, tài liệu tham khảo nội bộ. Cuốn sách là một sự đúc kết tỷ mỷ, công phu và sinh
động về khoa học dạy học và các kỹ năng kỹ thuật của dạy học. Tuy nhiên, dạy và
học là hai mặt của một vấn đề. Khi tác giả phân tích về việc dạy, qua các ví dụ cụ
thể, chúng ta còn thấy đằng sau nó là thái độ và hành vi tiếp nhận bài giảng của SV.
Một giáo viên có kỹ năng, kỹ thuật dạy học tốt sẽ làm cho SV trở nên tích cực. Các
hoạt động giảng dạy cũng như kiến thức chuyên môn của giáo viên do đó sẽ có ảnh
hưởng rất lớn tới TTC trong học tập của SV.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực học tập
ở Việt Nam.
PGS.TS. Nguyễn Quý Thanh (2007), Nhận thức, thái độ và thực hành
của SV với phương pháp học tích cực”, Đề tài NCKH cấp ĐHQGHN. Tác giả
cho rằng giữa nhận thức, xúc cảm và thực hành của SV trong vấn đề học tích cực
tồn tại một độ chênh nhất định: Chỉ số nhận thức đúng của SV về học tập tích cực
đạt gần mức tuyệt đối: 94,7/100, trong khi đó, chỉ số thực hành chỉ đạt 62/100, còn
chỉ số xúc cảm đúng là thấp nhất: 55,5/100). Trong khi phân tích độ chênh này, tác
giả cũng đã phát hiện ra một số nhân tố ảnh hưởng đến TTC học tập của SV như
yếu tố giới tính, năm học, cách chọn ngành học, nguồn gốc xuất thân, nơi cư trú
hiện tại, phương pháp giảng dạy của giảng viên, điều kiện cơ sở vật chất. Dựa vào
kết quả nghiên cứu này, chúng tôi coi như hầu hết các SV đều có nhận thức đúng về
vấn đề này và dó đó trong luận văn, chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu sâu hơn về
những nhân tố tác động đến hành vi học tập tích cực của SV.
Nguyễn Thu Hường, Đại học Sư phạm Hà Nội (2005), Tìm hiểu TTC
trong học tập của SV đối với môn học, Đề tài NCKH đạt giải SV Nghiên cứu
khoa học cấp Bộ. TTC của người học nẩy sinh trong quá trình học tập nhưng nó lại

Các tác giả coi “hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lý tạo nên TTC”. TTC là
phẩm chất vốn có của con người và được biểu hiện trong hoạt động. TTC học tập là
sự gắng sức cao trong hoạt động học tập mà chủ yếu trong hoạt động nhận thức.
Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (1997), Tâm lý học lứa
tuổi và sư phạm, NXB Giáo dục Hà Nội. Các tác giả đã coi hoạt động học tập của
học sinh, SV là một quá trình nhận thức tích cực. Đó là hoạt động đặc thù chỉ có ở
con người nhằm lĩnh hội tri thức nhân loại chuyển thành tâm lý, ý thức của bản thân
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.

14

cho nên muốn đạt được mục đích dạy học thì phải tạo ra được TTC trong hoạt động
học của học sinh, SV, làm cho “các em vừa ý thức được đối tượng cần lĩnh hội vừa
biết cách chiếm lĩnh được đối tượng đó”. Các tác giả cũng chỉ ra việc hình thành
TTC học tập ở học sinh, SV chính là quá trình hình thành hoạt động học ở họ.
Muốn vậy phải thấy rõ được mối quan hệ chặt chẽ giữa dạy học và sự phát triển trí
tuệ từ đó mới đào tạo ra những con người không những có trí thức phong phú về
mọi lĩnh vực mà còn có các kỹ năng kỹ xảo tương ứng phù hợp với yêu cầu của xã
hội.
Phạm Minh Hạc (1996), Tuyển tập J.Piaget, NXB Giáo dục Hà Nội. Tác
giả cho rằng TTC là một thuộc tính của nhân cách, bao gồm các thành tố tâm lý
như: nhu cầu, động cơ, hứng thú, niềm tin, lý tưởng. Các thành tố tâm lý này của
TTC có tác động qua lại lẫn nhau, được thể hiện ở những hoạt động muôn màu,
muôn vẻ và đa dạng nhằm biến đổi, cải tạo thế giới xung quanh, cải tạo bản thân
con người, cải tạo những đặc trưng tâm lý của mình.
1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG HỌC
1.2.1. Khái niệm về hoạt động học
Để hiểu được hoạt động học là gì, trước tiên, chúng ta cần hiểu khái niệm
“Học” và “Hoạt động học”.

hoạt động.
Hoạt động học tập không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kĩ năng,
kĩ xảo mà còn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt
động học. Hoạt động học muốn đạt kết quả cao, người học phải biết cách học,
phương pháp học, nghĩa là phải có những tri thức về chính bản thân hoạt động
học.
Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi SV. Do đó nó giữ vai trò
chủ đạo trong việc hình thành và phát triển tâm lý của người học trong lứa tuổi này.
1.2.3. Đối tượng của hoạt động học.
Nếu gọi chủ thể của hoạt động học là người học thì đối tượng của hoạt động
học hướng tới đó là tri thức. Ở đây chúng ta cần phân biệt đối tượng của hoạt động
học và đối tượng của hoạt động nghiên cứu khoa học. Hoạt động học là hoạt động
tái tạo lại những tri thức đã có từ trước, nó là mới đối với cá nhân người học nhưng
không mới đối với nhân loại. Còn hoạt động nghiên cứu khoa học hướng tới phát
hiện những chân lý khoa học mà loài người chưa biết đến. Những tri thức mà SV
phải học được lựa chọn từ những khoa học khác nhau, theo những nguyên tắc nhất
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.

16

định, làm thành những môn học tương ứng, và được cụ thể ở những đơn vị cấu
thành như: khái niệm, kĩ năng, kỹ xảo, các yêu cầu và ý nghĩa của nó… Đối tượng
của hoạt động học có liên quan chặt chẽ với đối tượng của khoa học.
1.3.4. Điều kiện học tập.
Điều kiện học tập được phân làm 2 loại là ngoại lực và nội lực. Ngoại lực là
sự tham gia của các yếu tố bên ngoài như: có sự hướng dẫn của thầy, sách, vở, bút,
máy tính, giáo trình, môi trường xã hội như cộng đồng lớp học, gia đình, xã
hội…Nội lực là sự vận động của chính bản thân người học, là những tri thức mà
người học học được, trình độ trí tuệ hiện có của người học, động cơ, ý chí, hứng thú

Động cơ này được hiểu là mong muốn khao khát chiếm lĩnh, mở rộng tri
thức, say mê với việc học tập…, bản thân tri thức và phương pháp dành tri thức có
sức hấp dẫn, lôi cuốn SV. Người có động cơ này luôn nỗ lực ý chí, khắc phục trở
ngại từ bên ngoài để đạt nguyện vọng bên trong.
- Động cơ quan hệ xã hội
:
SV học bởi sự lôi cuốn hấp dẫn của các yếu tố khác như: đáp ứng mong đợi
của cha mẹ, cần có bằng cấp vì lợi ích tương lai, lòng hiếu danh hay sự khâm phục
của bạn bè, … đây là những mối quan hệ xã hội cá nhân được hiện thân ở đối tượng
học. Đối tượng đích thực của hoạt động học tập chỉ là phương tiện để đạt mục tiêu
cơ bản khác.
Thường thì cả hai loại động cơ này cùng được hình thành ở SV và được sắp
xếp theo thứ bậc.Trong những điều kiện nhất định của việc dạy và học thì một trong
hai loại động cơ sẽ nổi lên chiếm vị trị ưu thế trong sự sắp xếp theo thứ bậc của hệ
thống động cơ.
Nếu như hoạt động học được thúc đẩy bởi động cơ thì nó được tiến hành
dưới các hành động học. Đó là các khái niệm, các giá trị, các chuẩn mực… mà
hành động học đang diễn ra hướng đến nhằm đạt được nó. Mục đích chỉ có thể được
bắt đầu hình thành khi chủ thể bắt đầu bắt tay vào thực hiện hành động học tập của
mình. Trên con đường chiếm lĩnh đối tượng nó luôn diễn ra quá trình chuyển hoá
giữa mục đích và phương tiện học tập. Mục đích bộ phận được thực hiện đầy đủ nó
lại trở thành công cụ để chiếm lĩnh các mục đích tiếp theo.
1.2.6. Đặc điểm chung của hoạt động học tập của SV.
- Hoạt động học tập của SV có tính chất độc đáo về mục đích và kết quả hoạt
động. Đó là, khác với lao động, học tập không làm thay đổi đối tượng mà thay đổi
chính bản thân mình. SV học tập để tiếp thu các tri thức khoa học, hình thành những
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.

18

bằng lời khen, sự quan tâm và các hình thức động viên khác. Họ đề ra những
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.

19

bài tập khả thi cho tất cả học sinh và chia các bài tập dài thành các bài tập
ngắn. Như vậy, học sinh thường xuyên kết thúc bài tập tốt.
- Việc khen thưởng diễn ra càng ngay sau hành vi đúng càng tốt. Một học sinh
thường xuyên được chấm bài ngay sẽ có động cơ học tốt hơn những em khác
phải chờ hàng tuần mới được “gia cố” dưới dạng lời khen hoặc thông tin về
thành tích của mình.
- Việc học tiến triển từng bước chứ không xảy ra toàn bộ cùng một lúc và
được tăng cường nhờ lặp lại thành công. Nếu người học không bao giờ thành
công trong các bài giảng của một giáo viên nào đó thì họ sẽ sớm “bỏ cuộc”.
- Kiến thức cần phải được củng cố thường xuyên và nhắc lại nhiều lần để giúp
học sinh củng cố kiến thức đã được học. Những giáo viên dạy tốt đều nhấn
mạnh những điểm then chốt và tóm tắt những điểm đó vào đầu và cuối buổi
học. Họ còn sử dụng nội dung học cũ trong việc phát triển nội dung học mới.
1.2.7.3. Trường phái nhân văn: thỏa mãn nhu cầu tình cảm của người học
Các nhà tâm lý theo trường phái nhân văn tin rằng nỗi sợ hãi bị thất bại và bị
bác bỏ đã sản sinh ra hành động điều chỉnh sai. Người học chỉ tham gia trong mức
độ an toàn rồi rút lui, cảm thấy bị “nghiến nát” và do đó giảm tự tin, hoặc họ
“khùng lên trả đũa, trở nên quậy phá”. “Dù theo hướng nào thì học sinh và cả việc
học của các em đều bị tổn hại” [John Holt (1967, sửa đổi 1983), Trẻ em học như thế
nào, Lon don: Penguin].
Theo trường phái nhân văn, các yếu tố tình cảm, sự trưởng thành và phát triển
của cá thể là những giá trị cao nhất. Họ cho rằng xã hội cũng như các trường phổ
thông, cao đẳng và đại học tồn tại để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân người học, chứ
không phải ngược lại và người học cần được phép theo đuổi những quan tâm và tài

họ cần được có thời gian để cải tiến công việc của mình nếu họ chưa đạt tiêu
chuẩn đánh giá.
1.3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP
CỦA SV
1.3.1. Khái niệm:
TTC học tập của SV là sự tự ý thức tự giác của SV về mục đích học, thông
qua đó, SV huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý để giải quyết các nhiệm vụ
học tập một cách có hiệu quả.
TTC học tập có mặt tự phát và mặt tự giác:
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.

21

- Mặt tự phát của TTC là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò
mò, hiếu kỳ, hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi có sẵn của người
học, ở các mức độ khác nhau. Trong quá trình dạy học cần coi trọng những
yếu tố tự phát này, cần nuôi dưỡng, phát triển chúng.
- Mặt tự giác của TTC tức là trạng thái tâm lí tích cực có mục đích và có đối
tượng rõ rệt, do đó có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó. TTC tự giác thể
hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học…
1.3.2. Phân loại tính tích cực học tập
Có nhiều nhà giáo dục học, tâm lý học trong nước và nước ngoài nghiên cứu về
TTC học tập của học sinh, SV theo những xu hướng khác nhau. Do đó, cũng có
nhiều căn cứ để phân loại TTC học tập như sau:
- Dựa theo tính chất tái tạo hay sáng tạo của kết quả hoạt động G.I.Shukina, Trần
Bá Hoành đã chia TTC học tập gồm 3 loại:
+ TTC tái hiện, bắt chước: là TTC chủ yếu dựa vào trí nhớ (tái hiện, thể hiện
lại những gì đã nhận thức, đã biết; tái tạo lại những kiến thức đã học, thực hiện
được những thao tác, kỹ năng mà giáo viên đã nêu ra);

+ Có hứng thú học tập.
- Mặt hành động: Huy động tối đa các chức năng tâm lý để từ đó tìm ra
phương pháp học tập phù hợp.
TTC học tập của SV được thể hiện qua một số dấu hiệu cơ bản sau:
+ Lập thời gian biểu cho việc học tập
+ Tìm hiểu kỹ về mục tiêu của mỗi môn học trước khi môn học bắt đầu
+ Tìm phương pháp học phù hợp với từng môn học
+ Tìm đọc tất cả những tài liệu do giáo viên hướng dẫn
+ Chủ động tìm đọc thêm tài liệu tham khảo
+ Tóm tắt và tìm ra ý chính khi đọc tài liệu
+ Chuẩn bị bài trước khi đến lớp
+ Ghi chép bài đầy đủ theo cách hiểu của mình
+ Phát biểu xây dựng bài trong giờ học
+ So sánh, liên tưởng và gắn kết nội dung các môn học với nhau
+ So sánh những vấn đề đã học với kinh nghiệm của bản thân
+ Tìm những ví dụ cụ thể để làm rõ nội dung đã học
+ Tìm hiểu ý nghĩa của môn học với thực tế cuộc sống hằng ngày
+ Theo dõi những vấn đề có liên quan đến ngành học trên các phương tiện
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.

23

truyền thông đại chúng (bao gồm cả tin tức trên internet)
+ Thức rất khuya (sau 12h đêm) để học
+ Thảo luận, học nhóm
+ Đòi hỏi giáo viên giải thích cặn kẽ những vấn đề giáo viên trình bày
+ Tìm đến nơi mà bạn có thể tập trung vào việc học một cách tốt nhất
+ Cố gắng học ngay cả khi sức khoẻ không được tốt
+ Tranh luận với giáo viên khi bạn có quan điểm khác với quan điểm giáo

bên ngoài. Người đó thường phấn khởi trong thâm tâm, có TTC trong hoài bão
vươn lên những đỉnh cao của học tập, có nghị lực, tức là có trí tuệ sức lực để giải
quyết một vấn đề nào đó.
TTC học tập không chỉ có vai trò quan trọng đối với chất lượng học tập mà
còn có ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của SV, cụ thể như sau:
- TTC học tập quyết định trực tiếp đến chất lượng học tập của SV.
TTC rất cần thiết cho mọi khâu của quá trình học tập. Nó cần thiết ngay cả
khi người SV chỉ ngồi “lặng lẽ” nghe giảng. Bề ngoài, người SV có vẻ thụ động
theo dõi lời giáo viên. Nhưng thực tế, người SV tích cực, lúc đó đang tập trung hết
sự chú ý của mình để theo dõi bài giảng, nắm lấy những ý đang được diễn tả, mối
liên hệ giữa chúng, có giải đáp trong óc mình những vấn đề đang nảy sinh, đưa ra
những thắc mắc (cho bản thân hoặc cho giáo viên) về nội dung bài giảng … Nói
cách khác, tư duy của người học đang hoạt động một cách mãnh liệt. Chỉ có người
nào giác ngộ sâu sắc mục đích công việc của mình mới có thái độ tích cực, có thái
độ chủ động. Chính vì vậy, muốn tích cực học tập, trước hết phải tự giác học tập,
xem học tập là nhiệm vụ của bản thân mình.
Nhà sư phạm Kharlamôp đã chỉ rõ: “chỉ có sự phối hợp hữu cơ và sự liên hệ
qua lại chặt chẽ giữa tác động bên ngoài của giáo viên, bộc lộ trong việc trình bày
tài liệu, chương trình và tổ chức công tác học tập của học sinh và sự căng thẳng trí
tuệ bên trong của các em mới tạo nên được cơ sở của sẹ học tập có kết quả” [
Kharlamôp (1979), Phát huy TTC học tập của học sinh như thế nào, NXBGD, HN,
tr 35]. Hiệu quả học tập của SV chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như mục đích, nội
dung, phương pháp, cách thức tổ chức dạy học của giảng viên cũng như quá trình
SV tự đề ra mục đích, lựa chọn nội dung, cách thức chiếm lĩnh tri thức và tự tổ chức
hoạt động của mình như thế nào. Trong đó, nếu SV tham gia tích cực vào quá trình
lĩnh hội tri thức thì họ sẽ biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, đồng thời
tạo ra một sự thống nhất cao giữa nội lực và ngoại lực. Như thế, họ sẽ thu được hiệu
quả học tập cao nhất. Bản chất của hoạt động học tập là một quá trình nhận thức
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status