Tiểu luận:Chuẩn đoán phân biệt các tybe virus PMWS - Pdf 12

0

Trường đại học nông lâm tp.HCM
Bộ môn CNSH

Tiểu luận: SV: Vũ Thị Nguyệt
MSSV: 06126097
Lớp: DH06SH
1


MỤC LỤC


I. Đặt vấn đề
Hội chứng còi cọc trên heo cai sữa được phát hiện năm 1991 ở Cananda,
trên đàn heo này một số heo cai sữa có biểu hiện còi cọc và hiệu quả điều trị kém.
Bệnh gây thiệt hại nhiều cho ngành chăn nuôi bắc Mỹ, nhiều nước ở châu Âu và
một số nước ở châu Á. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Lâm Thị Thu Hương và
công tác viên (2004), thực hiện tại các trang trại ch
ăn nuôi heo ở Thành phố HCM
và các tỉnh phụ cận cho thấy: khảo sát 25 mẫu hạch của những heo còi cọc sau cai
sữa để xét nghiệm, tỷ lệ dương tính với virus này chiếm 36% (9 mẫu). Điều này
làm chúng ta cần phải quan tâm đặc biệt đến căn bệnh.
Mặc dù căn bệnh diễn biến chậm nhưng tăng dần lên với mức độ nguy hại
cao. Sau khi đàn heo nhiễm bệnh thì tỷ l
ệ chết có khi lên đến 90 %.
Đây là một bệnh truyền nhiễm do virus gây ra. Virus PMWS là một DNA
virus chuỗi đơn, thuộc họ Circoviridae, thường được gọi là là porcine circovirus
(PCV). Khi nghiên cứu về Circovirus, người ta nhận thấy có đến 2 loại PCV:
PCV1 và PCV2. Do PCV1 và PCV2 cùng có thể hiện trên một heo và giữa chúng
có sự tương đồng nhất định về gen nên dịch tễ học phân tử cần phải phân biệt
chúng với nhau để có những đánh giá chính xác về tình hình d
ịch tễ PMWS.
Trong bài này đề cập đến việc sử dụng kĩ thuật PCR bằng việc sử dụng các
cặp mồi đặc hiệu tương ứng ở các vùng gen bảo tồn của PCV1, PCV2. Kỹ thuật
này cho phép cùng lúc phân biệt được PCV1 và PCV2.
II. Tổng quan tài liệu
1. Định nghĩa bệnh PMWS
Bệnh xảy ra trên heo cai sữa, heo từ 6- 14 tuần tuổi, đôi khi cũng có thể xảy
ra trên heo 3 tuần tuổi. Sau thờ
i gian cai sữa heo bị èo uột, thở khó, tiêu chảy, gầy
còm, nuôi không lớn, da có màu trắng đôi khi vàng nhạt. Tử số trung bình từ 4%
đến 10%, nếu xảy ra ở dạng cấp tính thì số heo chết có thể lên đến 38%. Ở dạng


• Năm 1974, các nhà khoa học đã phân lập được Circovirus type 1 từ tế
bào thận heo
• Hiện nay, chúng không gây bệnh cho heo
b. Circovirus type 2 (PVC-2):
• Được ghi nhận đầu tiên vào 1991 tại Tây Canada, phát hiện ở vết thương
của heo
• Bao gồm nhiều chủng khác nhau (kiểu sinh học và kiểu gen. Kháng thể
trên PVC-2 đã được phát hiện ở huyết thanh heo nuôi tại Bỉ năm 1985
• Từ những kinh nghiệm nghiên cứu ban đầu cho thấy, khi gây nhiễ
m virus
type 2 lên heo, heo sẽ biểu hiện những tổn thương đặc trưng của bệnh.
Tuy nhiên, nếu một loại virus khác như Parvovirus heo (PPV) hay
PRRSV được tiêm vào cùng một lúc thì heo cũng mang những biểu hiện
tương tự. Những nguyên nhân gây ra bệnh thường là do nhiễm PCV type
2 hay một vài loại virus khác nhưng không phải tất cả heo bị nhiễm PCV
và PPRS không có biểu hiện bệnh lý PMWS.
Những nghiên cứu về huyết thanh tại Châu Âu và Bắc Mỹ cho thấy, sự lây
nhi
ễm lan rộng trong đàn heo nhưng chỉ một phần nhỏ đàn có huyết thanh dương
tính là từng biểu hiện bệnh lý. Điều này có vẻ như hầu hết những ca lây nhiễm có
biểu hiện ngầm với bệnh. Heo con có thể bị nhiễm trước khi cai sữa.
c. Sự nhân rộng của Circovirus
• Virus xâm nhập vào tế bào chủ
• Bám và phát hành gen ssDNA của virus vào hạt nhân
• Các ssDNA được chuyển thành dsDNA

mRND virus được phiên mã và dịch mã để sản xuất ra protein của
virus
• Nhân rộng Rep và sản xuất ra vòng tròn ssDNA

vụ nhiều mục đích khác nhau, như phát hiện các bệnh di truyền, nhận dạng, chẩn
đoán những bệnh nhiễm trùng, tách dòng gene, và xác định huyết thống.
b. Thiết kế primer cho phản ứng PCR
Đoạn DNA cần khuếch đại được xác
định bằng primer chọn lọc. Primer là
những đoạn ngắn, sợi DNA nhân tạo – không quá 50 (thường 18-25) nucleotides
(vì DNA thường là sợi đôi, chiều dài của nó được xác định bằng số lượng cặp base
(bp); chiều dài của sợi đơn DNA được đo bằng base hay nucleotides) phù hợp một
cách chính xác ở điểm bắt đầu và kết thúc của DNA cần khuếch đại. Nó gắn chặt
với DNA mẫu ở những đi
ểm khởi đầu và kết thúc, nơi mà DNA-polymerase nối và
bắt đầu quá trình tổng hợp của sợi DNA mới.
Sự lựa chọn về chiều dài của primer và nhiệt độ biến tính của nó, nhiệt độ
biến tính của primer được định nghĩa là nhiệt độ dưới lúc mồi bám vào DNA mẫu
và nhiệt độ trên lúc primer tách ra khỏi DNA mẫu. Nhiệt độ biến tính tỉ lệ thuận
với chiều dài primer. Primer quá ngắn s
ẽ bám nhiều vị trí trên DNA mẫu dài và sẽ
cho kết quả không rõ ràng. Mặt khác chiều dài DNA bị giới hạn bởi nhiệt độ cần
biến tính. Nhiệt độ biến tính quá cao, ví dụ như trên 80°C sẽ gây ra nhiều vấn đề vì
DNA-polymerase hoạt động kém ở nhiệt độ đó. Chiều dài tốt nhất của primer là từ
20-40 nucleotide với nhiệt độ biến tính khoảng từ 60 – 75°C. Hàm lượng GC nên
trong primer khoảng 40-60%.
c. Thành phần phả
n ứng.
Enzyme DNA polymerase
Buffers
Nồng độ
và dNTP
Nhiệt độ và primer
Một số chất khác

thành. Hai sợi DNA kết
quả thành DNA mẫu cho
chu trình kế tiếp, mặc dù
gấp đôi lượng DNA bản
sao cho mỗi chu kỳ
.

9

e. Đọc kết quả sản phẩm của phản ứng PCR
Sau phản ứng PCR, kết quả
được kiểm tra bằng cách chạy điện di
trên gel agarose. Vạch đặc trưng cho
DNA khuếch đại có thể quan sát
được khi nhuộm ethidium bromide,
hoặc nếu hàm lượng DNA khuyeechs
đại thấp có thể được phát hiện bằng
phương pháp Southern.
Hình bên là một ví dụ về sản
phẩm PCR được điện di trên gel
agarose.

III. Vật liệu và phương pháp.
Phương pháp PCR nhân bản và khuếch đại trình tự DNA của virus gây hội
chứng PMWS.
a. Vật liệu:
Bộ gen PCV1 được nhân bản bằng cách sử dụng PCR với đoạn mồi có trình

Kéo dài chuỗi ở

Sản phẩm PCR sau đó được chuyển vào vector pPCR-Script SK bằng cách sử
dụng pPCR-Scrip Amp cloning kit(Stratagene). Việc chuyển gene được giải trình
tự trên cả 2 sợi với một trình tự ABI 373 bằng cách sử dung M13 chuyển tiếp và
đảo ngược mồi cũng như mồi đặc hiệu cho circovirus và bộ kit giải trình tự ABI
Prism Dye(PE Biosystems)
11

Nhân bản gen PCV
Các gen mã hóa ORF1 và ORF2 từ cả 2 loại PCV bởi PCR sau đó nhân bản
vào trong vector pcDNA ở động vật có vú, hoặc là 1 trong 2 vector pVL1393 hoặc
pAcGHLT. Các cặp mồi được dùng cho sự khuếch đại PCV:PCV1,ORF1 được
khuếch đại với primer ORF1.1 chuyển tiếp

(5’-
CGGGATCCCAGTGAAAATGCCAAGCAAGAAAAG -3’)
và ngược lại
(5’-CGGGATCCCGATGTGATAACAAAAAAGAC-
TCAG -3’)
mồi, trong khi ORF2 đã được khuếch đại với ORF2.1 chuyển tiếp
(5’-CGGGATCCCTTTTTTGTTATCACATCGTAATGG -3’)
và ngược
(5’-CGGGATCCTCTTTCACTTTTATAGGATGACGTG-3’) .
Đối với khuếch đại gen PCV2, ORF1.2 chuyển tiếp
(5’-ATGGATCCAGCAGACACATGCCCAGCAAG -3’)
và ngược lại
(5’-GGGGATCCGAAGTGATAAAAAAGACTCAG-3’)
mồi đã được sử dụng để tạo ra các gen ORF1 trong khi ORF2 được khuếch đại
bằng cách sử dụng ORF2.2 chuyển tiếp

cắt tương ứng với vị trí cắt chỉ có ở PCV2. Kĩ thu
ật này cho phép có thể cùng lúc
13

phân biệt được PCV1 và PCV2 cũng như phân biệt được nguồn gốc địa lí của
PCV2 phân lập.

V. Tài liệu tham khảo
• />Benh&loai=3&id=108


• />09352003000500002
• Ellis, J., Hassard, L., Clark, E., Harding, J., Allan, G., Willson, P.,
• Strokappe, J., Martin, K., McNeilly, F., Meehan, B., Todd, D. & Haines,
• D. (1998). Isolation of circovirus from lesions of pigs with postweaning
• multisystemic wasting syndrome. Canadian Veterinary Journal
• Nguyễn Ngọc Hải(2007). Công nghệ sinh học trong thú y

• />SHPT/Ch%C6%B0%C6%A1ng_18._K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt
_PCR_c%C4%83n_b%E1%BA%A3n


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status