1
TIỂU LUẬN
Thành tựu của văn hóa Trung Hoa thời kỳ trung đại
Độ và Trung Hoa. Sự xuất hiện của bốn trung tâm văn hóa lớn và những thành tựu văn hóa và
các quốc gia cổ đại này đạt được đã đánh dấu một bước tiến dài của xã hội loài người trong tiến
trình phát triển của văn minh nhân loại.
Một trong bốn trung tâm văn hóa lớn đó là Trung Hoa. Mặc dù văn minh Trung Hoa được xem
là nền văn minh xuất hiện sớm trên thế giới nhưng so với các trung tâm văn minh khác ở phương
Đông thì xuất hiện muộn hơn (khoảng cuối thiên niên kỉ thứ III TCN). Tuy vậy, không trầm mặc,
cổ kính như Ấn Độ, huyền bí như Ai Cập mà văn hóa của Trung Hoa thời cổ - trung đại này
mang những sắc thái riêng và đậm màu sắc Trung Hoa (cổ - trung đại).
Một nền văn hóa phát triển rực rỡ và những thành tựu văn hóa mà Trung Hoa đem lại không
những có giá trị to lớn ở thời kì cổ trung đại mà còn có giá trị ở cả thời kì sau này. Điều này
được thể hiện rõ khi nghiên cứu và làm rõ những giá trị của những thành tựu văn hóa cũng như
sức ảnh hưởng của nó đến văn hoá của các quốc gia khá
NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở hình thành nền văn minh Trung Hoa và những thành tựu văn hóa Trung
Hoa thời cổ - trung đại
1.1. Khái quát về cơ sở hình thành nền văn minh Trung Hoa
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Lãnh thổ Trung Hoa thời cổ đại nhỏ hơn bây giờ nhiều. Địa hình Trung Hoa đa dạng,
phía Tây có nhiều núi và cao nguyên, khí hậu khô hanh, phía đông có các bình nguyên châu thổ
phì nhiêu, thuận lợi cho việc làm nông nghiệp.Trung Hoa có
rất
nhiều sông trong đó có hai con
sông quan trọng nhất là Hoàng Hà và Trường Giang (hay sông Dương Tử). Hai con sông này đều
chảy theo hướng tây- đông. Những con sông này chảy qua đồng bằng làm cho đất đai phì nhiêu,
tạo cơ sở cho kinh tế nông nghiệp sớm phát triển. Chính vì vậy, nơi đây đã trở thành cái nôi của
nền văn minh Trung Hoa.
Lịch sử cổ đại Trung Hoa kéo dài gần 2000 năm (từ khoảng thế kỉ XXI TCN đến năm
221 TCN). Trong quá trình đó, địa bàn của Trung Hoa từ lưu vực Hoàng Hà đã dần dần được mở
rộng. Tuy vậy, cho đến thế kỉ III TCN, phía bắc cả biên giới Trung Hoa chưa vượt qua dãy Vạn
Theo truyền thuyết, từ thời hoàng đế, sử quan Thương Hiệt đã sang tạo ra chữ viết. Sự
thực, đến đời Thương, chữ viết của Trung Hoa mới ra đời. Loại chữ viết đầu tiên này khắc trên
mai Rùa và xương thú, được phát hiện lần đầu tiên năm 1899 và được gọi là chữ giáp cốt.
Sở dĩ chữ đời Thương được khắc trên mai Rùa và xương thú (chủ yếu là xương quạt của
bò) vì đó là những quẻ bói. Người Trung Hoa lúc bấy giờ mỗi khi muốn bói việc gì thì khắc
nhưng điều muốn bói lên vai giờ hoặc xương thú, đục lỗ lở giữa rồi nung, sau đó theo những
đường rạn nứt để đoán ý của trời đất qủy thần.
Phương pháp cấu tạo chữ giáp cốt chủ yếu là phương pháp tượng hình. Ví dụ:
Chữ “nhật” (mặt trời) thì vẽ một vòng tròn nhỏ, ở giữa có một chấm.
Chữ “ sơn” (núi) vẽ ba đỉnh núi.
Chữ “ thủy” ( nước) thì vẽ ba lần sóng.
Dần dần do yêu cầu ghi chép các động tác và các khái niệm trừu tượng trên cơ sở phương
pháp tượng hình đã phát triển thành các loại chữ biểu ý và âm thanh.
Cho đến nay đã phát hiện được hơn 100.000 mảnh mai Rùa Và xương thú có khắc chữ giáp cốt.
Tổng số chữ giáp cốt đã phát hiện được có khoảng 4500 chữ, trong đó đã đọc được 1700 chữ.
Chữ giáp cốt đã ghép được những đoạn văn tương đối dài, có đoạn dài trên 100 chữ.
Đến thời Tây Chu số lượng chữ càng nhiều và cách viết càng đơn giản. Chữ viết tiêu biểu
thời kì này là kim văn cũng gọi là chung đỉnh văn (chữ viết trên chuông đỉnh). Ngoài đồ đồng
chữ viết thời Tây Chu còn được viết trên trống đá thẻ tre.
Các loại chữ viết đầu tiên này được gọi chung là đại Triện cũng gọi là cổ văn thời Xuân
thu - Chiên quốc do đất nước không thống nhất nên chữ viết cũng không thống nhất. Đến thời
Tần, Lí Tư đã dựa vào chữ nước Tần kết hợp với chữ của nước khác, cải tiến cách viết tạo thành
một loại chữ thống nhất gọi là chữ tiểu Triện.
Cuối thời Tần Thủy Hoàng (221- 206 TCN) đến thời Hán Tuyên Đế (73- 49 TCN) xuất
hiện một kiểu chữ mới gọi là chữ lệ. Chữ lệ khác với chữ triện (còn giữ lại nhiều yếu tố tượng
hình, do đó có nhiều nét cong, nét tròn ) còn chữ lệ thì biến những nét đó thành : ngang, bằng, sổ,
thẳng, vuông khúc ngay ngắn. Thời gian sử dụng chữ lệ không lâu nhưng có ý nghĩa rất quan
trọng vì đó là giai đoạn quá độ để phát triển thành chữ Chân tức là chữ Hán ngày nay.
1.2.2. Về văn học
Văn học Trung Hoa là một nền văn học rất phong phú và đa dạng, phát triển linh hoạt qua
lớn: Lý Bạch, Đỗ Phủ, và Bạch Cư Dị
+ Những kiệt tác của thơ đường tiêu biểu: “Trường hận ca” và “Tỳ Bà Hành”.
- Tiểu thuyết: đặc biệt phát triển vào thế kỉ XIV-XVIII. Thời kì này thuộc hai triều đại
Minh (1368-1644) và Thanh (1644-1911) bởi vậy còn gọi là tiểu thuyết Minh Thanh, hay tiểu
thuyết chương hồi, vì thể loại của nó là chương hồi, mỗi hồi ứng với một buổi kể, nhiều hồi
thành một chương, ứng với một câu chuyện. Từ đời Tống (thế kỉ 12, 13) đã xuất hiện các chuyện
kể. Thời này kinh tế thương nghiệp phát triển, nhiều đô thị lớn hình thành. Trong các hội hè
thường xuất hiện các nghệ nhân kể chuyện. Họ kể đủ thứ chuyện nhưng nhiều hơn cả là chuyện
lịch sử xa xưa, chuyện các hảo hán anh hùng đã đi vào truyền thuyết, chuyện các nhà sư đến Ân
Độ Mang kinh Phật về dịch và truyền bá, chuyện tình duyên của các tài tử giai nhân…Các nhà
văn thời Minh và Thanh đã sưu tầm các chuyện kể ấy gia công thêm bất trâu văn chương, hình
thành hàng rong hơn loạt bộ tiểu thuyết có giá trị. Trong hơn 300 bộ tiểu thuyết thời bấy giờ, có
các tác phẩm lớn và nổi tiếng:
+ Thủy Hử (Thi Nại Am): truyện kể về một số nhân vật anh hùng cuối thời Bắc Tống,
vạch trần tội ác của xã hội phong kiến; Biểu hiện lòng bất mãn và ý chí phản kháng của quần
chúng nhân dân lao động.
+ Tam quốc chí diễn nghĩa (La Quán Trung): Tác phẩm được sáng tác trên cơ sở tiếp thu
thành quả kể chuyện dân gian và nghệ nhân kể chuyện, cùng những căn cứ sự thật lịch sử. Tất
nhiên, tác phẩm cũng không thiếu chỗ hư cấu, song hư cấu nhưng về cơ bản là hợp tình, hợp lí,
và đậm đà tính nghệ thuật chân thực. Cho nên, có ý kiến cho rằng, trong Tam quốc chí diễn
nghĩa “bảy phần sự thực, ba phần hư cấu”.
Tác phẩm kể lại lịch sử gần một thế kỷ- từ năm 184- 280 SCN, chủ yếu khắc họa cuộc đấu tranh
giữa ba tập đoàn chính trị: Ngụy, Thục, Ngô.
+ Tây Du Ký (Ngô Thừa Ân): tác phẩm được sáng tác trên cơ sở câu truyện dân gian, với
trí tưởng tượng phong phú, lạ lùng.
Nội dung Tây Du Ký kể chuyện về Tôn Ngộ Không đại náo thiên cung và thầy trò Đường Tăng,
trải qua nghìn vạn khó khăn , hiểm trở đến Tây Thiên lấy kinh.
+ Hồng Lâu Mộng (Tào Tuyết Cần).
1.2.3. Sử học
Đến thời Tây Hán sử học mới trở thành một lĩnh vực độc lập mà người đặt nền móng là
Âm và dương theo khái niệm cổ sơ không phải là vật chất cụ thể, không gian cụ thể mà là
thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn vũ trụ cũng như trong từng tế bào, từng chi
tiết. Âm và dương là hai mặt đối lập, mâu thuẫn thống nhất, trong Âm có Dương và trong Dương
có Âm.
Căn cứ nhận xét lâu đời về giới thiệu tự nhiên, người xưa đã nhận xét thấy sự biến hoá
không ngừng của sự vật (thái cực sinh lưỡng nghi, lương nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát
quái. Lưỡng nghi là âm và dương, tứ tượng là thái âm, thái dương, thiếu âm và thiếu dương. Bát
quái là càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn và đoài).
Người ta còn nhận xét thấy rằng cơ cấu của sự biến hoá không ngừng đó là ức chế lẫn nhau,
giúp đỡ, ảnh hưởng lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau và thúc đẩy lẫn nhau.
Để biểu thị sự biến hoá không ngừng và qui luật của sự biến hoá đó, người xưa đặt ra "thuyết
âm dương".
Âm dương không phải là thứ vật chất cụ thể nào mà thuộc tính mâu thuẫn nằm trong tất cả
mọi sự vật, nó giải thích hiện tượng mâu thuẫn chi phối mọi sự biến hoá và phát triển của sự vật.
Nói chung, cái gì có tính chất hoạt động, hưng phấn, tỏ rõ, ở ngoài, hướng lên, vô hình, nóng
rực, sáng chói, rắn chắc, tích cực đều thuộc dương.
Tất cả những cái gì trầm tĩnh, ức chế, mờ tối, ở trong, hướng xuống, lùi lại, hữu hình, lạnh lẽo,
đen tối, nhu nhược, tiêu cực đều thuộc âm.
Từ cái lớn như trời, đất, mặt trời, mặt trăng, đến cái nhỏ như con sâu, con bọ, cây cỏ, đều được
qui vào âm dương.
+ Ví dụ : về thiên nhiên thuộc dương ta có thể kể: Mặt trời, ban ngày, mùa xuân, hè, đông,
nam, phía trên, phía ngoài, nóng, lửa, sáng. Thuộc âm ta có: Mặt trăng, ban đêm, thu, đông, tây,
bắc, phía dưới, phía trong, lạnh nước, tối.
Trong con người, dương là mé ngoài, sau lưng, phần trên, lục phủ, khí, vệ; Âm là mé trong,
trước ngực và bụng, phần dưới ngũ tạng, huyết, vinh.
Âm dương tuy bao hàm ý nghĩa đối lập mâu thuẫn nhưng còn bao hàm cả ý nghĩa nguồn
gốc ở nhau mà ra, hỗ trợ, chế ước nhau mà tồn tại. Trong âm có mầm mống của dương, trong
dương lại có mầm mống của âm.
6
Mộc là gỗ, là cây thì mọc lên cong hay thẳng.
Kim là kim loại, thuận chiều hay đổi thay.
Thổ là đất thì để trồng trọt, gây giống được.
Tinh thần cơ bản của thuyết ngũ hành bao gồm hai phương diện giúp đỡ nhau gọi là tương sinh
và chống lại nhau gọi là tương khắc. Trên cơ sở sinh và khắc lại thêm hiện tượng chế hoá, tương
thừa, tương vũ.
Tương sinh, tương khắc, chế hoá, tương thừa, tương vũ biểu thị mọi sự biến hoá phức tạp
của sự vật.
- Luật tương sinh: Tương sinh có nghĩa là giúp đỡ nhau để sinh trưởng. Đem ngũ hành
liên hệ với nhau thì thấy 5 hành có quan hệ xúc tiến lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau.
Theo luật tương sinh thì thuỷ sinh mộc, mộc sinh hoả, hoả sinh thổ, thổ sinh kim, kim
sinh thuỷ, thuỷ lại sinh mộc và cứ như vậy tiếp diễn mãi. Thúc đẩy sự phát triển không bao giờ
ngừng. Trong luật tương sinh của ngũ hành còn bao hàm ý nữa là hành nào cũng có quan hệ vệ
hai phương diện: Cái sinh ra nó và cái nó sinh ra, tức là quan hệ mẫu tử. Ví dụ kim sinh thuỷ thì
kim là mẹ của thuỷ, thuỷ lại sinh ra mộc vậy mộc là con của Thuỷ.
Trong quan hệ tương sinh lại có quan hệ tương khắc để biều hiện cái ý thăng bằng, giữ
gìn lẫn nhau.
- Luật tương khắc: Tương khắc có nghĩa là ức chế và thắng nhau. Trong qui luật tương
khắc thì mộc khắc thổ, thổ lại khắc thuỷ, thuỷ lại khắc hoả, hoả lại khắc kim, kim khắc mộc, và
mộc khắc thổ và cứ như vậu lại tiếp diễn mái.
Trong tình trạng bình thường, sự tưong khắc có tác dụng duy trì sự thăng bằng, nhưng
nếu tương khắc thái quá thì làm cho sự biến hoá trở lại khác thường.
7
Trong tương khắc, môĩ hành cũng lại có hai quan hệ:Giữa cái thắng nó và cái nó thắng. Ví dụ
mộc thì nó khắc thổ, nhưng lại bị kim khắc nó.
Hiện tượng tương khắc không tồn tại đơn độc; trong tương khắc đã có ngụ ý tương sinh,
do đó vạn vật tồn tại và phát triển.
- Luật chế hóa: Chế hoá là chế ức và sinh hoá phối hợp với nhau. Trong chế hoá bao
Sử dụng vạch đứt đoạn, tức vạch Chẳn, gọi là Ngẫu để tượng trưng cho phân Âm.
Lưỡng Nghi (Âm Dương) được tượng trưng bằng 2 vạch Dương và Âm gọi là Dương
Nghi và Âm Nghi.
+ Tứ Tượng : Đặt một vạch Dương lên trên Dương Nghi thì thành Toàn Dương nên gọi là
Thái Dương (Thái có nghĩa là đã lớn). Đặt một vạch Âm lên trên Dương Nghi thì ta có một
Dương làm chủ ở dưới, nên gọi là Thiếu Dương (Thiếu có nghĩa là còn nhỏ). Đặt một vạch Âm
lên trên Âm Nghi thì thành Toàn Âm gọi là Thái Âm. Đặt một vạch Dương lên trên Âm Nghi thì
ta có một Âm làm chủ ở bên dưới gọi là Thiếu Âm.
Tứ Tượng theo đúng thứ tự là Thiếu Dương, Thái Dương, Thiếu Âm, Thái Âm. Thiếu
Dương đi trước Thái Âm và Thiếu Âm đi trước Thái Dương thể hiện Âm trung hữu Dương căn,
Dương trung hữu Âm căn, nghĩa là trong Âm có mầm Dương. Dương sinh ở dưới thành ra Thiếu
Dương có một vạch Dương mới sinh ở dưới làm chủ. Dương trưởng ở trên thành ra Thái Dương
với hai gạch Dương là Dương đã toàn thịnh. Âm sinh ở trên cho nên Thiếu Âm có một Âm mới
sinh ở dưới làm chủ. Âm trưởng ở dưới cho nên Thái Âm với hai gạch Âm là Âm đã toàn thịnh.
Bát Quái là 8 Quẻ mỗi Quẻ gồm có 3 vạch (mỗi vạch còn gọi là Hào), còn được gọi là
Quẻ Đơn hay Đơn Quái, dùng để diễn tả 8 hiện tượng chính của hoạt động Âm Dương trong Vũ
8
Trụ. Việc xếp đặt các vạch để tạo thành Bát Quái được thực hiện theo thứ tự hoàn toàn theo tự
nhiên : Dương trước, Âm sau, tay mặt trước, tay trái sau. Thứ tự và tên gọi của Bát Quái như sau
: Càn, Đoài, Li, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn.
Càn : Trời, Thiên. Càn vi Thiên. Dương đã thinh và Âm đã hủy.
Đoài : Đầm, ao. Đoài vi Trạch. Dương đã lớn và Âm sắp tàn.
Li : Lửa, hơi nóng. Li vi Hỏa. Dương đã lớn và Âm sắp tàn.
Chấn : Sấm, sét. Chấn vi Lôi. Dương mới sinh và Âm bắt đầu suy.
Tốn : Gió. Tốn vi Phong. Âm mới sinh và Dương bắt đầu suy.
Khảm : Nước, chất lỏng. Khảm vi Thuỷ. Âm đã lớn và Dương sắp tàn.
Cấn : Núi non. Cấn vi Sơn. Âm đã lớn và Dương sắp tàn.
Khôn : Đất, Địa. Khôn vi Địa. Âm đã thịnh và Dương đã hủy.
quan điểm về vấn đề này, nhưng nổi bật là quan điểm của Mạnh Tử. Theo ông, "bản tính con
người vốn là thiện" (Nhân chi sơ, tính bản thiện). Thiện là tổng hợp những đức tính vốn có của
con người từ khi mới sinh ra như: Nhân, Nghĩa, Lễ .v.v.
Mạnh Tử đã thần bí hóa những giá trị chính trị - đạo đức đến mức coi chúng là tiên thiên,
bẩm sinh. Do quan niệm tính thiện nên Nho gia (dòng Khổng - Mạnh) đề cao sự giáo dục con
người để con người trở về đường thiện với những chuẩn mực đạo đức có sẵn.
Đối lập với Mạnh Tử coi tính người là Thiện, Tuân Tử lại coi bản tính con người vốn là
ác (Nhân chi sơ, tính bản ác). Mặc dù vậy, nhưng có thể giáo hóa trở thành thiện (Nhân, Nghĩa,
Lễ, Trí ). Xuất phát từ quan niệm đó về tính người, Tuân Tử chủ trương đường lối trị nước kết
9
hợp giữa Nho gia và Pháp gia.
Người sáng lập ra Nho gia là Khổng Tử (551 - 479 tr.CN)
Trong quan niệm về thế giới, tư tưởng của Khổng Tử luôn có những mâu thuẫn. Một mặt,
khi chống lại chủ nghĩa thần bí, tôn giáo đương thời, ông thừa nhận sự vật, hiện tượng trong tự
nhiên luôn luôn tự vận động,biến hóa không phụ thuộc vào mệnh lệnh của Trời. “ Trời có nói gì
đâu mà bốn mùa vận hành, vạn vật sinh hóa mãi mãi” (Luận ngữ, Dương Hóa, 18); hay “ cũng
như dòng nước chảy, mọi vật đều trôi đi, ngày đêm không ngừng, không nghỉ” (Luận ngữ, Tử
Hãn, 16). Đó là yếu tố duy vật chất phác và tư tưởng biện chứng tự phát của ông. Mặt khác, ông
lại cho rằng Trời có ý chí và có thể chi phối vận mệnh của con người (Thiên mệnh). Đó là yếu tố
duy tâm khách qua trong quan điểm của ông. Ông nói: “Đạo của ta thi hành ra được cũng do
mệnh Trời, mà bị bỏ phế cũng là do mệnh Trời” (Luận ngữ, Hiến vấn, 38); “làm sao có thể cải
được mệnh Trời”. Hiểu biết mệnh Trời là một điều kiện tất yếu để trở thành con người hoàn
thiện là người quân tử. Cũng như thế, một mặt Khổng Tử tuyên truyền sức mạnh của quỷ thần;
nhưng mặt khác ông lại nhấn mạnh vai trò quan trọng của hoạt động con người trong đời sống.
Quan niệm về nhận thức trong học thuyết của Khổng Tử không phát triển, không đặt ra
vấn đề chân lý mà chỉ dừng lại ở vấn đề “tri thức luận” (tri thức do đâu mà có). Theo ông, tri
thức có hai loại là “thượng trí” (không học cũng biết) và “hạ ngu”(học cũng không biết). Nghĩa
là ông đã thừa nhận có tri thức tiên thiên, có trước sự nhận thức của con người. Đối tượng để dạy
Chu.
Để thực hiện mục đích của mình, Khổng Tử chống việc duy trì ngôi vua theo huyết thống
và chủ trương “thượng hiền”, dùng người không phân biệt đẳng cấp xuất thân của họ. Trong việc
10
chính trị, vua phải biết “trọng dụng người hiền đức, tài cán và rộng lượng với những kẻ cộng sự”
(Luận ngữ, Tử Lộ). Việc ông mở trường dạy học chính là nhằm mục đích đào tạo ra những người
có tài, đức tham gia vào công cuộc cai trị.
Toàn bộ học thuyết về nhân, lễ, chính danh của Khổng Tử là nhằm phục vụ mục đích
chính trị là “Đức trị”. Ông phản đối việc dùng hình phạt để trị dân vì làm như vậy, dân sợ mà
phải theo chứ không phục. Theo ông, làm chính trị mà dùng đức cảm hóa người thì giống như
sao Bắc Đẩu ở một nơi mà các sao khác đều chầu đến.
*Tóm lại:
So với các học thuyết khác, Nho gia có nội dung phong phú và mang tính hệ thống hơn
cả; hơn thế nữa, nó còn là hệ tư tưởng chính thống của giai cấp thống trị Trung Hoa suốt hơn hai
ngàn năm của xã hội phong kiến. Để trở thành hệ tư tưởng chính thống, Nho gia đã được bổ sung
và hoàn thiện qua nhiều giai đoạn lịch sử trung đại: Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh, nhưng tiêu
biểu hơn cả là dưới triều đại nhà Hán và nhà Tống, gắn liền với tên tuổi của các bậc danh Nho
như Đổng Trọng Thư (thời Hán), Chu Đôn Di, Trương Tải, Trình Hạo, Trình Di, Chu Hy (thời
Tống). Quá trình bổ sung và hoàn thiện Nho gia thời trung đại được tiến hành theo hai xu hướng
cơ bản:
Một là, hệ thống hóa kinh điển và chuẩn mực hóa các quan điểm triết học của Nho gia
theo mục đích ứng dụng vào đời sống xã hội, phục vụ lợi ích thống trị của giai cấp phong kiến;
vì thế Đổng Trọng Thư đã làm nghèo nàn đi nhiều giá trị nhân bản và biện chứng của Nho gia cổ
đại. Tính duy tâm thần bí của Nho gia trong các quan điểm về xã hội cũng được đề cao. Tính
khắc nghiệt một chiều trong các quan hệ Tam cương, Ngũ thường thường được nhấn mạnh.
Hai là, hoàn thiện các quan điểm triết học về xã hội của Nho gia trên cơ sở bổ sung bằng
các quan điểm triết học của thuyết Âm Dương - Ngũ hành, những quan niệm về bản thể của Đạo
gia, tư tưởng về pháp trị của Pháp gia v.v. Vì vậy, có thể nói: Nho gia thời trung đại là tập đại
Do nhấn mạnh nguyên tắc "bình quân" và "phản phục" trong biến dịch nên Đạo gia không
nhấn mạnh tư tưởng đấu tranh với tư cách là phương thức giải quyết mâu thuẫn nhằm thực hiện
sự phát triển; trái lại, đã đề cao tư tưởng điều hòa mâu thuẫn, coi đó là trạng thái lý tưởng. Bởi
vậy triết học Đạo gia không bao hàm tư tưởng về sự phát triển.
Học thuyết chính trị - xã hội với cốt lõi là luận điểm "Vô vi". Vô vi không phải là cái thụ
động, bất động hay không hành động mà có nghĩa là hành động theo bản tính tự nhiên của
"Đạo".
c. Mặc gia
Phái Mặc gia do Mặc Tử, tức Mặc Địch (khoảng từ 479 -381 tr.CN) sáng lập thời Xuân Thu.
Sang thời Chiến Quốc dã phát triển thành phái Hậu Mặc. Đây là một trong ba học thuyết lớn nhất
đương thời (Nho - Đạo - Mặc).
Tư tưởng triết học trung tâm của Mặc gia thể hiện ở quan niệm về "Phi thiên mệnh". Theo quan
niệm này thì sự giàu, nghèo, thọ, yểu không phải là do định mệnh của Trời mà là do người. Nếu
người ta nỗ lực làm việc, tiết kiệm tiền của thì ắt giàu có, tránh được nghèo đói. Đây là quan
niệm khác với quan niệm Thiên mệnh có tính chất thần bí của Nho giáo dòng Khổng - Mạnh.
Học thuyết "Tam biểu" của Mặc gia mang tính cách là một học thuyết về nhận thức, có xu
hướng duy vật và cảm giác luận, đề cao vai trò của kinh nghiệm, coi đó là bằng chứng xác thực
của nhận thức.
Thuyết "Kiêm ái" là một chủ thuyết chính trị - xã hội mang đậm tư tưởng tiểu nông. Mặc Địch
phản đối quan điểm của Khổng Tử về sự phân biệt thứ bậc, thân sơ trong học thuyết "Nhân".
Ông chủ trương mọi người yêu thương nhau, không phân biệt thân sơ, đẳng cấp
Phái Hậu Mặc đã phát triển tư tưởng của Mặc gia sơ kỳ chủ yếu trên phương diện nhận thức
luận.
d. Pháp gia
Là một trường phái triết học lớn của Trung Hoa cổ đại, chủ trương dùng những luật lệ,
hình pháp của nhà nước là tiêu chuẩn để điều chỉnh hành vi đạo đức của con người và củng cố
chế độ chuyên chế thời Chiến quốc.
Là tiếng nói đại diện cho tầng lớp quý tộc mới, đấu tranh kiên quyết chống lại tàn dư của chế độ
công xã gia trưởng truyền thống và tư tưởng bảo thủ, mê tín tôn giáo đương thời.
Đại diện của phái Pháp gia là Hàn Phi Tử (280 - 233 tr. CN). Tư tưởng Pháp trị của Hàn Phi Tử
phương tiện để thực hiện chính sách đó.
- "Pháp" là một phạm trù của triết học Trung Hoa cổ đại. Theo nghĩa hẹp, là quy định, luật lệ
có tính chất khuôn mẫu mà mọi người trong xã hội phải tuân thủ; theo nghĩa rộng, pháp được coi
là một thể chế, chế độ chính trị và xã hội. Vì vậy, pháp được coi là tiêu chuẩn, căn cứ khách quan
để định rõ danh phận, giúp cho mọi người thấy rõ được bổn phận, trách nhiệm của mình.
- "Thế" là địa vị, thế lực, quyền uy của người cầm đầu chính thể.
- "Thuật" cũng là chính danh, là phương sách trong thuật lãnh đạo của nhà vua nhằm lấy danh
mà tránh thực
1.2.5. Về khoa học tự nhiên
Cách ngày nay trên 4000 năm, khoa học tự nhiên của Trung Hoa đã có những thành tựu
rực rỡ:
* Thời cổ đại:
Thiên văn học:
Ra đời từ rất sớm và đạt được nhiều tiến bộ ở thời Xuân thu - Chiến quốc (770 – 221
TCN). Đó là sự ghi chép lại các lần nhật thực (37 lần trong vòng 242 năm ( nay đã chứng minh
được 33 lần hoàn toàn chính xác)), các vì tinh tú ( 800 vì tinh tú, trong đó có 120 vì tinh tú được
xác định). Bảng ghi chép các hành tinh của người Trung Hoa - “Cam Thạch Tinh” có từ thời
Xuân Thu, được coi là bảng ghi chép các vì sao xưa nhất thế giới.
Thế kỉ VII TCN, người Trung Hoa đã biết dung một cái “cọc” đứng để đo bóng mặt trời (gọi là
Thổ khuê), qua đó đã xác định được ngày hạ chí và đông chí, làm cho cách tính lịch ngày càng
chính xác.
Lịch:
Yêu cầu của hoạt động sản xuất nông nghiệp đã làm cho người Trung Hoa biết làm lịch
từ rất sớm. Đến đời Thương, họ đã phát minh ra lịch- âm lịch( lịch kết hợp với vòng quay của
mặt trăng xung quanh quả đất với vòng quay của quả đất xung quanh mặt trời. Để tính năm,
tháng, tháng thiếu, tháng đủ, họ lấy tuần trăng tròn và trăng khuyết để tính.
Theo đó một năm được chia làm 12 tháng, tháng đủ có 30 ngày, tháng thiếu có 29 ngày.
Người đời Thương đã biết thêm tháng nhuận để cho khớp với vòng quay của quả đất xung quanh
mặt trời. Lịch pháp âm lịch, cho đến nay, vẫn còn đang được sử dụng song song với dương lịch
ở Trung Hoa( kể cả ở Việt Nam và một số nước khác ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa).
Thời Nguyên: La bàn đã hoàn chỉnh ( được Crixtop Colombo sử dụng ) sau đó truyền bá
sang châu Âu, và chính nhờ hệ thống La bàn này mà người châu Âu mới thực hiện được những
phát kiến địa lí.
Thuốc súng
Phát minh rất tình cờ, ngẫu nhiên. Người Trung Hoa quan niệm con người có thể trưởng
sinh bất tử. thời Nam Bắc triều có rất nhiều đạo sĩ tìm cách chế tạo thuốc trường sinh bất tử ( từ
diêm sinh, lưu huỳnh, than củi…, họ tình cờ để lửa bén vào gây nổ ).
Đến thời Đường, thuốc nổ mới chỉ được sử dụng để làm pháo. Đến thời Tống mới dùng
để làm đạn lửa, cầu lửa.
Người châu Âu đã nhanh chống tiếp thu và sử dụng phát minh này của người Trung Hoa một
cách hữu hiệu để làm súng trường, hỏa mai…Thứ vũ khí này đã góp phần phá vỡ nền tảng
phonmg kiến ở châu Âu đẩy nhanh quan hệ TBCN (vì chỉ có dùng thuốc nổ mới có thể phá được
lâu đài của phong kiến. Thuốc súng còn đóng vai trò quan trọng trong các cuộc phát kiến địa lí
của châu Âu.
*Không kể bốn phát minh quan trọng, đóng góp cho nền văn minh nhân loại đã nói ở
trên, thời trung đại, trên cơ ở kế thừa những thành tựu rực rỡ của thời cổ đại, Trung Hoa đã có
những cống hiến xuất sắc cho nền văn minh của nhân loại ở các lĩnh vực toán học, thiên văn học
và y dược.
* Toán học
Từ thời hán truyền lại có quyển Cửu chương toán thuật trong đó nêu ra các phương pháp
tính ruộng tích ruộng đất theo các hình thức khác nhau, tính khối lượng đất đắp thành đào hào,
tính toán tiền khi mua bán gia súc, lương thực….Trong khi tính toán các vấn đề nói trên, sách
này đã đề cập đến một số mặt của đại số học, như phương pháp giải phương trình bậc một có
chứa nhiều ẩn số …
Đến thời Nam- Bắc triều, Tổ Xung Chi (429- 500) lại có một cống hiến lớn về toán học. Ông đã
tìm được số Pi chính xác có 7 số lẻ nằm giữa hai số 3,1415926 và 3,1415927. Phát minh này của
Tổ Xung Chi sớm hơn những nhà toán học các nước khác trên 1000 năm. Vì vậy, có học giả
Nhật Bản đề nghị gọi số Pi là “số Tổ”.
*Thiên văn học
Trung Hoa vốn có nhiều hiểu biết từ rất sớm. Từ thời Tần Hán, người Trung Hoa đã phát
Những công trình kiến trúc của Trung Hoa cổ trung đại có những đặc điểm :
- Sử dụng nhiều nguyên vật liệu khác nhau và chủ yếu là vật liệu bằng gỗ
- Kiến trúc bao giờ cũng có nhiều mái, thường theo lối mái cong.
- Từng quần thể kiến trúc có hình thức độc đáo .
- Hình tượng kiến trúc và trang trí kiến trúc đại để, rung động lòng người.
- Phong cách dân tộc và phong cách địa phương muôn màu muôn sắc.
- Bố cục đạt tính nghiêm chỉnh và linh hoạt
- Phong cách độc đáo và trình độ nghệ thuật cao
- Kĩ thuật thi công và phương pháp thiết kế tiên tiến của thời cổ đại
- Gắn liền với kiến trúc là điêu khắc. trên các công trình kiến trúc có nhiều tác phẩm điêu
khắc
- Nhìn chung thời Tần Hán, thời Ngụy Tấn, Nam – Bắc triều, thời Đường, Thời Tống và
thời Minh Thanh là những thời kì có nhiều công trinh kiến trúc tiêu biểu nhất
* Những công trình kiến trúc tiêu biểu
+ Vạn lí trường thành: do 3 nước Tần, Yên, Triệu thời Chiến quốc xây dựng nhằm ngăn
chặn thời hung Nô từ phương Bắc tràn xuống. Khi Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Hoa đã
cho nổ 3 đoạn thành lại dài hơn 5000 km, cao từ 6- 12m rộng 5- 10m, cứ 360 m có một tháp
canh.
+ Cố đô Bắc Kinh (Tử Cấm Thành ): Xây dựng khoảng 1406- 1420 ( đời vua Vĩnh Lạc)
Cố Kinh từ đó trở thành nơi ở của 24 triều vua Minh Thanh. Hiện nay vẫn còn 100 toà cung điện,
và 8600 gian. Trong quần thể kiến trúc này lớn nhất là điện Thái Hoà ( nơi tổ chức thi đình, yến
tiệc, đón khách) và điện Trung Hoà (nơi vua và các quan chuẩn bị cho buổi thuyết triều).
+ Di Hoà Viên: một vườn hoa xây dựng cách thành phố Bắc Kinh 18km về phía tây bắc
xây dựng vào thời Minh Thanh.
+ Định Lăng: ngôi mô của vua Vạn Lịch được xây dựng trong khu thập tam lăng, ở phía
tây bắc thủ đô Bắc Kinh. Đặc điểm cách 14km/1km tường bao quanh. Khu thập tam lăng có
nhiều kiến trúc như nhà thờ nhà để bia.
* Điêu khắc
Nghệ thuật điêu khắc Trung Hoa gắn bó chặt chẽ với tập tục tôn giáo. Về chất liệu phần lớn các
tác phẩm điêu khắc Trung Hoa tạc bằng đá hoa cương. Nhiều bức bộ tượng nhỏ được tìm thấy
Kĩ thuật in ấn của Trug Hoa cũng dần được truyền sang các nước láng giềng như Triều Tiên,
Nhật Bản sau đó truyền sang A Rập và Châu Âu.
Vào thế kỉ XIII thuôc súng và vã khí mang thuốc súng của Trung Hoa đã lần lượt đưa vào Ấn
Độ, A Rập và vào cuối thế kỉ XIII, đầu thế kỉ XIV được truỳên sang châu Âu.
Ngoài bốn phát minh trên một số thành tựu khoa học kĩ thuật khác của Trung Hoa cũng
có ảnh hưởng nhất định đối với văn minh nhân loại. Thuật luyện đơn (bào chế thuốc) của Trung
Hoa sau khi truyền vào A Rập, đã góp phần thúc đẩy kĩ thuật chế biến thuốc của nước này phát
triển, sau đó kĩ thuật chế biến thuốc của Châu Âu lại chịu ảnh hưởng của A Rập và nền khoa học
hiện đại sau này chính là được phát triển trên cơ sở kĩ thuật chế biến thuốc ở Châu Âu thời Trung
Cổ.
Đồ sứ tinh sảo của Trung Hoa từ lâu đã nổi tiếng trên thế giới. Vào nửa cuối thế kỉ XV, kĩ thuật
làm đồ sứ của Trung Hoa đã được truyền sang Italia, mở ra một kỉ nguyên mớ cho lịch sử ché tạo
đồ sứ của Châu Âu và còn ảnh hưởng cho tới ngày nay.
Nền văn học rực rỡ và đồ sộ của Trung Hoa cũng ảnh hưởng rất lớn đến thế giới những
tác phẩm văn học nổi tiếng ( Tam quóc diễn nghĩa, Tây du kí, Hồng lâu mộng, Thuỷ Hử, Liêu
trai chí dị, Kim bình mai), đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng và được học giả nước ngoài đánh
giá cao.
Nền nghệ thuật phong phú và thần bí của Trung Hoa đã khiến bao nhiêu triết gia và nghệ
thuật gia của Châu Âu thán phục. ở Thế kỉ XVIII. Nhà Khải mông tư tương Pháp Voltaire đã gọi
Trung Hoa của phương Đông là “cái nôi của nền nghệ thuật”.
Triết học Trung Hoa cung có ảnh hưởng sâu sắc ở châu Âu vào thế kỉXVII – XVIII. Triết
gia, Gottfdied Von Lebniz, người tiên phong của triết học cổ điển Đức là triết gia đầu tiên nhìn
ra tầm quan trọng của văn hoá Trung Hoa đối với sự phát triển của châu Âu.
Ở Đức, trào lưu lấy “tôn giáo triết học” thay thế tôn giáo thần học cũng chịu ảnh hưởng
của văn hoá Trung Hoa.
2.2. Ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa đối với Đông Bắc Á và Việt Nam
2.2.1.Ảnh hưởng của chữ viết
16
không có nghĩa là họ sử dụng chữ Hán một cách bê nguyên xi mà biến đổi thành các loại chữ
phù hợp với ngôn ngữ và văn hóa nước mình.
Hán ngữ được du nhập vào bán đảo Triều Tiên khá sớm từ thiên niên kỷ thứ hai TCN
(nhưng cũng có nhiều học giả cho rằng từ thiên niên kỉ thứ IV-V) xuất hiện các văn bản viết tay
của người Hán. Các bản viết tay được sử dụng chữ Hán. Tiếng Hán là thứ ngôn ngữ khó, dùng
chữ Hán để viết tiền Triều Tiên trở nên phức tạp cho nên các học giả người Hán đã tìm cách cải
biến chữ Hán để phù hợp với âm đọc của tiếng Triều Tiên.
Vào khoảng thế kỷ XV, ở Triều Tiên xuất hiện chữ kí âm, được gọi là Hangul hay
Chosŏngŭl, chữ này trải qua nhiều thế kỷ phát triển thăng trầm, cuối cùng chính thức được dùng
thay thế cho chữ Hán. Cho tới ngày nay Chosŏngŭl lúc ban đầu gồm 28 kí tự, sau đó còn 24 kí tự
giống như bảy chữ cái Latinh, và được dùng để kí âm tiếng Triều Tiên. Tuy Chosŏngŭl đã xuất
hiện nhưng chữ Hán vẫn còn được giảng dạy trong trường học.
Tóm lại, từ việc sử dụng chữ Hán, người Triều Tiên đã sáng tạo ra chữ viết cho riêng
mình. “ngôn ngữ, văn tự là ngưng kết lao động sáng tạo của dân tộc trong thời gian dài”. Còn đối
với người Triều Tiên thì đó là thành tựu quan trọng không gì sánh được trong lịch sử, văn hóa,
một minh chứng xác thực nhất cho sự ảnh hưởng và tiếp biến văn hóa Trunng Hoa.
2.2.1.3. Đối với Nhật Bản
Chữ Hán du nhập vào Nhật Bản thông qua con đường Triều Tiên được gọi là Kanji và
được du nhập vào Nhật theo con đường giao lưu buôn bán giữa Nhật Bản và Triều Tiên vào
khoảng thế kỷ IV, V. Tiếng Nhật cổ đại vốn không có chữ viết, nên khi chữ Hán du nhập vào
Nhật người Nhật dùng chữ Hán để viết tiềng nói của họ. Dạng chữ đầu tiên của người Nhật sáng
17
tạo từ chữ Hán để viết tiếng Nhật là chữ Man – yogana. Hệ thống chữ viết này khá phức tạp.
Man – yogana được đơn giản hóa thành Hiragana và Katahana. Cả hai loại chữ này trải qua
nhiều chỉnh lí và hoàn thiện mới trở thành chữ viết ngày nay của Nhật. Tiếng Nhật hiện đại được
viết bằng bốn loại kí tự chữ hán (Kanji) chữ mềm (Hiragana) chữ cứng (Katakara) chữ Latinh
(hay Rômaji).
Chữ Hán trong tiếng Nhật thường có ít nhất hai cách đọc, cách đọc theo âm hán cổ, được
Tuy nhiên, những thể loại văn hoc Trung Hoa không đủ để truyền tải những cảm xúc tinh tế nên
người Triều Tiên đã sáng tạo ra nhiều thể loại mới. Đặc biệt tới thời kì vương triều Cao ly,
vương triều Lý các thi sĩ Triều Tiên đã sáng tao ra thể thơ Sijo và Kasa.
Tóm lại, để đánh giá vấn đề này, xin dẫn lời nhận xét của giáo sư ngữ văn Kimyulkyu
(dại học tổng hợp Hàn Quốc): “Người Triều Tiên đã sử dụng chữ Trung Hoa và các kĩ thuâth thơ
Trung Hoa điêu luyện hơn bất cứ dân tộc không phải Trung Hoa nào khác, và đã phát triển được
một truyền thống đặc văn chương, do đó tạo nên một sự hình thành lịch sử thơ ca Hàn – Trung
lâu đời”.
+ Tiếp biến về mặt nội dung
Cũng như văn học Trung Hoa, văn học Triều Tiên phản ánh hai đề tài thơ chủ đạo là lịch
sử và cảnh thiên nhiên.
Đặc điểm độc đáo nhất trong văn học Triều Tiên là không dừng lại ở khuôn mẫu hình
tượng văn học Trung Hoa, người Triều Tiên dám mạnh dạn nói lên ước vọng, khát khao đến trần
tục của con người mà văn hoc đại lục không bao giờ dám đề cập.
18
Hay tiến xa hơn nữ, văn học Triều Tiên phản ánh đậm nét nhân tình thế thái, phản ảnh
tình yêu mang tính dục vọng mãnh liệt.
Từ sự tiếp nhận văn học Trung Hoa, Triều Tiên đã tiếp biến sáng tạo để hình thành nền văn học
độc đáo của dân tộc mình. Ở đó, những cung bậc tình cảm được trân trọng, mạnh dạn đề cập chứ
không bị gò bó kì thị như ở Trung Hoa. Do vậy, văn học ở Triều Tiên không chỉ đọc, ngâm mà
được nâng lên thành những bài hát chữ tình sâu đậm.
2.2.2.2. Đối với Việt Nam
Hai dạng ảnh hưởng trực tiếp là ảnh hưởng gián tiếp của văn học Trung Hoa với thơ ca
dân gian người Việt
+ Ảnh hưởng trực tiếp
Thơ ca dân gian người Việt (còn gọi là ca dao) được sáng tác từ rất sớm, song việc ghi
chép lại mới chỉ được tiến hành từ cuối thế kỉ XVIII trở lại đây. Căn cứ vào những tài liệu đã
được sưu tầm, hiện có khoảng 13.000 bài ca dao. Ca dao người Việt có khi chịu ảnh hưởng của
đạt đến đỉnh cao. Nhiều nhà thơ Nhật Bản đã góp mặt trong nền văn minh Trung Hoa
Xét về quan điểm, văn học Nhật Bản chịu ảnh hưởng rất lớn từ nền văn minh Trung
Hoa. Đặc biệt là quan điểm văn học phải gắn liền với đạo đức.
Xét về nội dung và hình thức. Nhiều tác phẩm văn học Nhật Bản sử dụng nhiều đề tài, điển tích
Trung Hoa, thấm nhuần tư tưởng triết lí nho giáo…Ví dụ bài thơ “Hà Dương Hoa”của Thiên
Hoàng Saga (Tha Nga), vào thế kỉ thứ IX.
Từ thế kỉ trở đi, nền văn học chữ Hán ở Nhật Bản từng bước cách tân hoá và phải rẽ bước
đi theo con đường của riêng mình.
19
2.2.3. Ảnh hưởng của Nghệ thuật
2.2.3.1. Đối với Triều Tiên
* Hội hoạ
Hội hoạ Triều Tiên chịu ảnh hưởng của hội hoạ Trung Hoa từ rất sớm.Từ thế kỉ thứ IV
đã xuất hiện các bức bích hoạ theo phong cảnh Trung Hoa trên các vách lăng mộ ở phía Bắc bắc
đảo.
Đến thế kỉ thứ VII, hội hoạ Trung Hoa lại càng tác động mạnh mẽ vào Triều Tiên làm
xuất hiện dòng tranh phong cảnh.
Cũng thời gian đó phong cách tranh Phật giáo cũng được thâm nhập.
Vẫn sử dụng những kĩ thuật và lí thuyết hội hoạ Trung Hoa, song nội dung biểu hiện các bức
tranh ở Triều Tiên mang tính “tả thực cao”, nhất là tranh ở cuối thời Choson.
Các bức tranh Phật ở đây mang vẻ duyên dáng thanh tú chứ không mang vẻ huyền bí
kinh sợ như ở Trung Hoa.
* Điêu khắc
Cũng như hội họa, điêu khắc Triều Tiên chịu ảnh hưởng mạnh mẽ các kĩ thuật điêu khắc
của Trung Hoa. Song trên nề tảng lí thuyết đó điêu khắc Triều Tiên tạo dựng của riêng mình.
Nghệ thuật điêu khắc Triều Tiên gắn liền với hinh ảnh Đức Phật
Về phong cách, từ thế kỉ VIII trở đi tượng Phật Trung Hoa có xu hướng béo, mập thậm
dâu. Do đó, nó được người nước ngoài ưa chuộng và được xuất khẩu sang Trung Hoa, Nhật Bản.
20
Với kĩ thuật in, từ kĩ thuật in ván gỗ, người Trung Hoa đã sang tạo ra cachs in chữ rời bằng đất
sét nung, nhưng khi in ra chữ hay mòn khó khô mực, chữ không sắc nêt. Trên cơ sở đó năm
1234, người Triều Tiên đã phát minh ra kiểu mẫu chữ kim loại di động chứ rời đầu tiên trên thế
giới, và phổ biến trên khắp thế giới.
* Lịch pháp
Lịch Trung Hoa truyền sang Triều Tiên vào khoảng thế kỉ I. từ việc xem xét bầu trời và
khí hậu bán đảo, Triều Tiên đã chỉnh sửa một số điểm trong lịch pháp cảu Trung Hoa thành lịch
Triều Tiên.
2.2.5. Ảnh hưởng của Tư tưởng - Triết học
2.2.5.1. Đối với Việt Nam
a. Ảnh hưởng của nho giáo Trung Hoa đến nền văn hóa truyền thống’
Nho giáo thống lĩnh tư tưởng văn hóa Việt Nam từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19, suốt hai triều
đại Lê Nguyễn. Nho giáo Việt Nam về cơ bản là sự tiếp thu Nho giáo Trung Hoa, nhưng không
còn giữ nguyên trạng thái nguyên sơ của nó nữa mà có những biến đổi nhất định. Quá trình du
nhập và tiến tới xác lập vị trí Nho giáo trong đời sống xã hội Việt Nam cũng là quá trình tiếp
biến văn hóa hết sức sáng tạo của người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ
nước, góp phần tạo nên tính đa dạng, nhưng thống nhất và độc đáo của văn hóa Việt Nam.
* Ảnh hưởng của Nho giáo đến sự phát triển của xã hội cổ đại Việt Nam có những tích cực
và tiêu cực
+ Tích cực :
Nho giáo với hệ thống tư tưởng chính trị của mình đã góp phần xây dựng các nhà nước
phong kiến trung ương, tập quyền vững mạnh, góp phần xây dựng một hệ thống quản lý thống trị
xã hội chặt chẽ, nâng cao sức mạnh quân sự và kinh tế quốc gia.
Nho giáo rất coi trọng trí thức, coi trọng học hành. Khổng Tử là người “học nhi bất yếm,
hối nhân bất nguyện”. Hàng nghìn năm qua, nhà nước Việt Nam đều lấy Nho học - Nho giáo làm
nền tảng lý luận để tổ chức nhà nước, pháp luật và đặc biệt là giáo dục. Nội dung giáo dục của
nước không thể phát triển.
- Nho giáo quá bảo thủ không tiếp thu những cái mới ưu việt hơn dẫn đến bị cái mới ưu
việt hơn tiêu diệt.
- Nho giáo đưa con người quá hướng nội, chuyên chú suy xét trong tâm mà không hướng
dẫn con người hướng ra bên ngoài, thực hành những điều tìm được, chinh phục thiên nhiên, vạn
vật xung quanh. Điều này làm cho nền văn minh, khoa học tư nhiên, kỷ thuật sau một thời gian
phát triển đã bị chựng lại so với nền văn minh phương Tây vốn xuất hiện sau.
Nho giáo được Việt Nam hóa, trí thức Nho giáo đã có những đóng góp đáng kể vào việc
củng cố những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nâng nó lên thành những tư tưởng ổn định thúc
đẩy sự phát triển của đất nước, tạo nên một sức mạnh to lớn để suốt một ngàn năm giữ vững độc
lập và chiến thắng mọi kẻ xâm lược.
Bước sang thế kỷ thứ 19, Việt Nam và các nước phương Đông phải đối đầu với sự xâm lược
của chủ nghĩa đế quốc có trình độ kỷ thuật, tiềm năng kinh tế, tổ chức quân đội và chất lượng vũ
khí. Nho giáo lúc bấy giờ tỏ ra bất lực cả về tư tưởng và hành động.
Trên con đường cách mạng của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã sáng suốt không thể
không gạt đi cái cốt lõi lạc hậu của Nho giáo và giữ gìn, phát huy những nhân tố hợp lý của nó
nhằm phục vụ cho sự nghiệp cách mạng.
- Nhà Nho tôn thờ nhất chính là cái mà cách mạng lên án và đánh đổ. Hồ Chí Minh không
thể chấp nhận cái chữ Trung của Nho giáo, không thể chấp nhận lòng trung thành tuyệt đối của
nhân dân bị áp bức đối với chính kẻ áp bức mình. Chữ Trung ở Nho giáo là trung thành tuyệt đối
với nhà vua và chế độ phong kiến, còn ở Hồ Chí Minh, Trung là trung thành với sự nghiệp cách
mạng của nhân dân, lên án chế độ phong kiến và lật đổ nhà vua.
- Nho giáo vốn coi nhân dân là những người nghèo hèn cần được bề trên chăn dắt và sai
khiến, Hồ Chí Minh đòi hỏi người cán bộ phải là “đày tớ của dân”, phải học hỏi nhân dân, và yêu
quý nhân dân. Với tinh thần ấy, cách mạng đã xây dựng được khối đại đoàn kết toàn dân, biến
nhân dân thành sức mạnh vô địch để giành độc lập và xây dựng tổ quốc.
- Nho giáo đã nuôi dưỡng hàng ngàn năm tinh thần “trọng nam khinh nữ”, từ chổ khinh rẽ
phụ nữ đến chổ áp bức họ, trói buộc họ trong bếp núc gia đình. Cách mạng Việt Nam đã sớm xóa
bỏ những tử tưởng lạc hậu ấy để cho phụ nữ cùng bình đẳng với nam giới trên mọi lĩnh vực
người và xã hội thế tục, với trách nhiệm xã hội trong bối cảnh thế tục, và đã phá vỡ Việt từ uy
quyền đạo đức của các tu viện Phật giáo lớn mạnh.
Hầu hết các học giả hiện đại xem xét Neo-Nho giáo được các triết lý phát biểu quan trọng
của Tokugawa Nhật Bản, một trong đó có nguồn gốc với Zhu Xi (+1130-1200; Chu Hsi), một
học giả Trung Hoa trong thời gian Song phía Nam của Trung Hoa. Lời dạy của ông đã được đưa
đến Nhật Bản bằng tiếng Nhật Zen nhà sư người đã viếng thăm Trung Hoa trong lần thứ 15 và
thế kỷ thứ 16. Zhu Xi nhấn mạnh sự thống nhất "của ba creeds," sự thống nhất của ba triết lý
tuyệt vời của Phật giáo, Khổng giáo, và Đạo giáo, vốn đã cho đến khi đó được coi là loại trừ lẫn
nhau và mâu thuẫn. Điều này ba cách thống nhất đã được gọi là Sankio tại Nhật Bản (Chn. =
San Jiao), và có nghĩa là "Ba tôn giáo" Ở Trung Hoa và Nhật Bản. Tác phẩm nghệ thuật, nó đẻ ra
chủ đề ảnh được gọi là Ba Patriarchs, cùng với hai khác liên quan chủ đề (xem phần kế tiếp),
mỗi nhấn mạnh ý niệm rằng "ba creeds là một trong những" Tại Nhật Bản., một số thích một bộ
ba khác bao gồm Shinto, Khổng giáo, và Phật giáo
KẾT LUẬN
Như vậy, suất thời kỳ cổ trung đại nền văn hóa Trung Hoa phát triển rự rỡ (đặc biệt là bắt
đầu từ thời Xuân thu - Chiến quốc). Những thành tựu lớn lao trên lĩnh vực này đã làm cho Trung
Hoa Trở thành một trung tâm văn minh quan trọng ở vùng Viễn Đông và trên thế giới.
Những thành tựu văn hóa Trung Hoa cổ trung đại là nền tảng của văn hóa khoa học ngày
nay. Đó là niềm tự hào của con người Trung Hoa nói riêng và đối với thế giới nói chung. Có thể
nói ngay từ khi xuất hiện con người Trung Hoa đã có một trí tuệ, một trí óc sáng tạo tuyệt vời.
Văn hóa Trung Hoa với những tinh hoa đáng được các thế hệ sau gìn giữ và truyền bá ra thế giới.
Các nước đã tiếp thu văn hóa Trung Hoa một cách có chọn lọc dựa trên nền tảng văn hóa
vốn có của dân tộc mình tạo ra sự phong phú đa dạng nhưng vẫn giữ được bản sắc riêng, đồng
thời tô điểm thêm cho nền văn hóa Trung Hoa.