1
Tiểu luận
Thành tựu nền văn minh Ai Cập
2
LỜI MỞ ĐẦU
Ai Cập là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại
1.Địa lý dân cư:
a.Địa lý của Ai Cập cổ đại:
-Ai Cập nằm ở Đông Bắc Châu Phi,nằm dọc theo vùng hạ lưu của lưu vực
sông Nin.Phía Tây giáp sa mạc Xahara ,phía Đông giáp Biển Đỏ,phía Bắc giáp
Địa Trung Hải ,phía Nam giáp Nubi.
-Sông Nin là một trong những con sông dài nhất thế giới khoảng 6500 km,bắt
nguồn từ vùng xích đạo của Châu Phi,nhưng vùng chảy qua Ai Cập chỉ dài
700km .Hằng năm,từ tháng 6 đến tháng 11 , nước sông Nin dâng cao đem theo
một lượng phù sa bồi đắp cho những cánh đồng ở hạ lưu sông Nin.Đất đai
màu mỡ ,cây cối tốt tươi,các loài động thực vật và tài nguyên thiên nhiên
phong phú ,nên ngay từ thời nguyên thủy con người đã tập trung sinh sống ở
đây đông hơn ở các khu vực xung quanh. Chính vì vậy ,nhà sử học Hy Lạp
Hêrôđôt nói rằng:Ai Cập là tặng phẩm của sông Nin”.
-Ai Cập chia làm hai miền rõ rệt theo dòng chảy của sông Nin từ Nam lên
Bắc:miền Thượng Ai Cập (miền Nam) là một dải lưu vực hẹp ,miền hạ Ai
Cập(miền Bắc)là một đồng bằng hình tam giác.
-Con người ở đây đã sớm biết sử dụng những công cụ,vũ khí bằng đồng.Từ
đó,con người ở đâychuyển sang sống chủ yếu nhờ nghề nông ,thoát khỏi cuộc
sống săn bắn ,hái lượm và sớm bước vào xã hội văn minh.
b.Dân cư:
- Ở lưu vực sông Nin từ thời đồ đá cũ đã có con người sinh sống .Người Ai
Cập thời cổ là những thổ dân Châu Phi,hình thành trên cơ sở hỗn hợp rất nhiều
bộ lạc.Do đi lại săn bắn trên lục địa,khi đến vùng thung lũng sông Nin,họ định
cư ở đây và phát triển nghề nông và nghề chăn nuôi từ rất sớm .
4
- Về sau,một chi của bộ tộc Hamites từ Tây Á xâm nhập vào vùng hạ lưu sông
Nin,chinh phục thổ dân người Châu Phi ở đây.Trải qua quá trình hỗn hợp lâu
dài ,người Hamites và thổ dân đã đồng hóa lẫn nhau,hình thành ra một bộ tộc
mới,đó là người Ai Cập cổ đại.
và hoàn toàn đương nhiên ngôn ngữ đó phải biến đổi. Các tác phẩm thành văn
đã minh chứng rằng sau ba mươi lăm thế kỷ tồn tại, tiếng Ai Cập đã trải qua
một số giai đoạn phát triển, gắn liền với truyền thống bắt nguồn từ thời cổ đại
5
và gắn với sự phân kỳ lịch sử của bản thân đất nước Ai Cập đã được khoa học
thiết lập. Những giai đoạn đó là:
I. Ngôn ngữ cổ Ai Cập thời đại Cổ vương quốc (thế kỷ XXX – XXII trước
công nguyên);
II. Ngôn ngữ cổ điển (trung Ai Cập) thời đại Trung vương quốc (thế kỷ XXII
– XVI trước công nguyên);
III. Ngôn ngữ tân Ai Cập thời đại Tân vương quốc (thế kỷ XVI – VIII trước
công nguyên);
IV. Ngôn ngữ demotic (bình dân) (thế kỷ VIII trước công nguyên – thế kỷ III
sau công nguyên);
V. Ngôn ngữ Coptic (từ thế kỷ III sau công nguyên).
Văn học Ai Cập là một phần của văn hóa Ai Cập và cùng mất đi với nó, đã trải
qua một cuộc sống lâu hơn nhà nước độc lập Ai Cập. Ai Cập vào năm 332
trước công nguyên đã thần phục Alexander Macedonia và đến năm 30 trước
công nguyên trở thành một tỉnh của đế quốc La Mã. Văn hóa đặc sắc của Ai
Cập tiếp tục sống và phát triển trong những điều kiện chính trị mới. Nhưng,
mặc dù như vậy và mặc dù từ lâu việc nghiên cứu văn học Ai Cập đã trở thành
một lĩnh vực độc lập trong bộ môn Ai Cập học, các chuyên gia khi phân kỳ
lịch sử của nó vẫn thích dựa vào những đặc điểm bên ngoài và phát xuất từ sự
phân kỳ lịch sử ngôn ngữ và lịch sử đất nước mà chúng ta đã làm quen để
phân biệt các nền văn học Cổ vương quốc, Trung vương quốc, Tân vương
quốc và văn học demotic. Sự phân kỳ văn học Ai Cập được thừa nhận như vậy
là bất đắc dĩ, chủ yếu do tình hình tư liệu và việc không thể theo dõi liên tục
từng bước sự phát triển của bản thân tiến trình văn học.
Văn học cổ đại Ai Cập, cũng như mọi nền văn học khác, gắn liền với đời sống
biến rất rộng rãi, nhưng những tác phẩm còn truyền lại đến nay rõ ràng không
phải là sản phẩm của sáng tác dân gian trong nghĩa nghiêm ngặt của từ này,
thậm chí nếu như chúng là bản ghi lại những câu chuyện truyền miệng. Tuy
nhiên, trong phần lớn các văn bản đó không có một chỉ dẫn nào, dù là nhỏ
nhất, hay một lời ám chỉ nào về tác giả.
3.Tôn giáo:
Người Ai Cập cổ đại theo đa thần giáo, họ thờ rất nhiều thần. Ban đầu, mỗi
vùng thờ mỗi vị thần riêng của mình, chủ yếu là những vị thần tự nhiên. Đến
thời kì thống nhất quốc gia, bên cạnh những vị thần riêng của mỗi địa phương
còn có các vị thần chung như thần Mặt trời ( Ra ), thần sông Nin (Osiris ).
Người Ai Cập cổ tin rằng con người có hai phần : hồn và xác. Khi con người
chết đi, linh hồn thoát ra ngoài nhưng có thể một lúc nào đó lại tìm về nơi xác
( Họ tin rằng như khi bị ngất , hồn thoát ra ngoài tạm thời ). Vì vậy những
người giàu có tìm mọi cách để giữ gìn thể xác. Kĩ thuật ướp xác vì vậy cũng
rất phát triển.
Tôn giáo Ai Cập cổ đại bao gồm các niềm tin tôn giáo và nghi thức khác nhau
tại Ai Cập cổ đại qua hơn 3.000 năm, từ thời kỳ Tiền Triều Đại cho đến khi du
nhập Kitô giáo trong những thế kỷ đầu Công nguyên. Những niềm tin này tập
trung vào thờ cúng các vị thần đại diện cho nhiều khía cạnh, ý tưởng và chức
năng quyền lực khác nhau của thiên nhiên, thể hiện qua các nguyên mẫu phức
tạp và đa dạng. Vào thời kỳ của triều đại thứ 18, người Ai Cập đã có nâng vị
7
thế một số đơn vị thần như Amun lên hàng đấng sáng tạo vũ trụt với nhiều
biểu hiện, tương tự như khái niệm kinh tế cũng được tìm thấy trong đạo Ki-tô:
niềm tin rằng một Thượng đế có thể tồn tại trong nhiều hơn một người.
Những vị thần được tôn thờ với các nghi lễ và cầu nguyện, trong các ngôi đền
địa phương và đền thờ gia đình cũng như trong ngôi đền chính thức quản lý
bởi các giáo sĩ. Các vị thần khác nhau đã được nổi bật ở giai đoạn khác nhau
của lịch sử Ai Cập, và các huyền thoại liên quan đến họ thay đổi theo thời
8
cho nhân loại, cải tạo nông nghiệp, dạy dân trồng nho, làm rượu, trồng ngũ
cốc và chăn gia súc. Osiris cũng dạy con người cách xây đền thờ, xây kim tự
tháp nguy nga, tráng lệ. Osiris đi đâu cũng được mọi người kính trọng và yêu
quý. Tuy nhiên, thần Seth, em trai của thần Osiris, lại ghẻ lạnh và căm ghét
Osiris chỉ vì anh được nối ngôi, được mọi người kính trọng. Rồi Seth đã nghĩ
ra kế hiểm độc đó là giết chết anh trai bằng cách dụ Orisis nằm vào quan tài
rồi đóng đinh và thả xuống biển. Sau đó, Seth chiếm đoạt ngôi vị của anh trai
và làm bao điều bạo tàn, ác độc khiến cho dân chúng và các vị thần khác bất
bình. Isis biết chuyện, đau khổ vô cùng và tìm mọi cách để tìm thân thể Osiris.
Sau khi tìm thấy thân thể chồng, Isis kể lại cho con trai Horus nghe. Từ đó,
Horus nung nấu ý định giết Seth, trả thù cha.
Câu chuyện về âm phủ và thế giới bên kia:
Người Ai Cập tin rằng ở thế giới bên kia, các vị thần chờ những người đã mất
ở đó để đón lên thiên đàng hoặc đày xuống địa ngục. Khi qua thiên đường,
phải gặp thần Anubis, Anubis dẫn người chết đi đến chiếc cân trái tim, để cân
xem người đó ác hay tốt. Nếu anh ta nói dối, chứng tỏ anh ta là người xấu, sẽ
bị Ammit, con quái vật hình cá sấu ăn trái tim và bị đày đi địa ngục. Còn nếu
trả lời đúng, anh ta sẽ được tiếp đón hậu hĩnh bởi thần Osiris, thần âm phủ.
Người Ai Cập rất mê tín nên họ chả dám làm gì sai trái vì câu chuyện trên.
Nhưng không phải tất cả đều làm điều tốt. Và tất nhiên là xã hội bao giờ mả
chả thế!
4.Kiến trúc và điêu khắc:
Người Ai Cập cổ đại đã xây dựng rất nhiều đền đài, cung điện, nhưng nổi bật
nhất phải kể đến là các kim tự tháp hùng vĩ, vĩnh cửu. Người thiết kế ra Kim
tự tháp đầu tiên để làm nơi yên nghỉ cho các pharaon là Imhotép. Người ta đã
phát hiện ra khoảng 70 Kim tự tháp lớn nhỏ khác nhau trong đó có 3 Kim tự
tháp nổi tiếng nằm ở gần thủ đô Cairo. Lớn nhất là Kim tự tháp Kêôp (
Kheops ) cao tới 146m, đáy hinh vuông , mỗi cạnh tới 230m. Đã mấy ngàn
cho số ngày trong một nămđã thu được một đơn vị đo chiều dài bằng 0,635 m
và họ đặt tên là thước đo kim tự tháp ,đơn vị độ dài đung1 bằng 1/10 triệu bán
kinh trái đất ,đúng bằng 1/tỉ khoảng cách giữa trái đất và mặt trời
+Phương pháp xây dựng kim tự tháp là ghép những tảng đá mài nhẵn với nhau
chứ không dùng vữa,thế mà các mạch ghép kín đến mức một lá kim loại mỏng
cũng không thể lách qua được.
+Kim tự tháp không phải là khối đá đặc mà bên bên trong có những đường
hầm ,lăng mộ ,phòng chứa quan tài…Cửa vào hướng về phía Bắc.Phòng chứa
quan tài của pharaong Kêôp trên độ cao 42,28 m so với mặt nền ,chiều dài
10,47 m,chiều ngang 5,23 m… Giữa phòng có một quan tài bằng đá hoa trang
trí rất đẹp nhưng đã bị mất nắp có chiều dài 2,29 m,chiều ngang 0,99m ,chiều
cao không kể nắp là 1,05m.
+Ở phía Bắc của kim tự tháp cách mặt đất 13 m có một cái cửa thông với hầm
mộ,kim tự tháp Kêôp có hai hầm mộ:một hầm mộ ở sâu 30 m dưới lòng đất và
một hầm mộ nằm ở giửa kim tự tháp cách mặt đất 40 m.Người ta cho rằng
theo thiết kế ban đầu ,hầm mộ ở sâu dưới đất,nhưng khi đã làm xong Kêôp
thay đổi ý kiến bắt phải xây ở trên cao.
+Các nhà Ai Cập đã làm một thí nghiệm nhỏ là:đem những đồng tiền bằng
kim loại đã bị hoen rỉ vào trong tháp ;sau hơn một tháng ,những đồng tiền đó
trở nên sáng loáng.Hai cốc sữa tươi,một cốc để ở bên ngoài,một cốc đem vào
trong tháp.Sau một thời gian,cốc sữa bên ngoài bị biến chất ,còn cốc sữa bên
10
trong vẫn không thay đổi mùi vị ,màu sắc.Có hai cây cà chua ,một cây trồng ở
ngoài trời ,một cây đem trồng ở trong tháp,cây bên ngoài chưa ra hoa kết trái
thì cây bên trong đã ra hoa kết trái.
+Để giải thích những hiên tượng kì lạ trên,các nhà bác học đã cho rằng các
cửa và lỗ thông hơi của kim tự tháp đều hướng về phía Bắc,đã hấp thụ được
các loại ‘‘sóng vũ trụ”nào đó ,do đó đã ảnh hưởng đến các đồ vật ,cây cỏ,cơ
thể và cả tinh thần của con người trong kim tự tháp.
+Lịch Ai Cập được đăt ra dựa trên kết quả quan sát tinh tú và quy luật dâng
nước của sông Nin.Họ nhận thấy rằng buổi sáng sớm khi sao Lang bắt đầu
mọc cũng là lúc nước sông Nin bắt đầu dâng.Hơn nữa,khoảng cách giữa hai
lần mọc của sao Lang là 365 ngày.Họ lấy khoảng thời gian ấy là một
năm.Một năm được chia làm 12 tháng ,mỗi tháng có 30 ngày,5 ngày còn thừa
để cuồi năm ăn tết.Năm mới của Ai Cập bắt đầu từ ngày nước sông Nin bắt
đầu dâng(bắt đầu tháng 7 dương lịch).Một năm được chia là 3 mùa,mỗi mùa 4
tháng.Đó là mùa nước dâng,mùa Ngũ cốc và mùa thu hoạch.
Như vậy,lịch của Ai Cập cổ đại là một thứ lịch được phát minh rất sớm(vào
khoảng thiên niên kỷ VI TCN) và tương đối chính xác và thuận tiện.Tuy
nhiên,lịch sử Ai Cập cổ đại so với lịch mặt trời còn thiếu mất ¼ ngày.nhưng
lúc bấy giờ,họ chưa biết đặt ra năm nhuận.
b.Toán học:
Nhu cầu đo đạc lại ruộng đất ,làm thủy lợi,xây dựng đền miếu,kim tự tháp,tính
toán thu nhập …là những nhu cầu thúc đẩy toán học ra đời.
-Thiên niên kỉ thứ III là thời kì xuất hiện từng bước quan niệm trừu tượng về
số của Ai Cập .Sang đầu thiên niên kỉ thứ II ,TCN ,người Ai Cập đã phát triển
thành công hệ đếm của mình.
Người Ai Cập đã biết dùng hệ thập phân .Nhờ có hệ đếm,người Ai Cập đã biết
làm các phép cộng ,trừ còn nhân và chia thì thực hiện bằng cách cộng hoặc trừ
nhiều lần .Tri thức đại số của người Ai Cập đã đạt tới việc giải phương trình
bậc nhất .
-Về hình học:họ biết tính diện tích hình tam giác ,tứ giác ,biết rằng bình
phương cạnh huyền bằng tổng bình phương hai cạnh góc vuông.Người Ai Cập
đã biết tìm được số Pi=3,14
c.Y học:
Người Ai Cập cổ đã chia ra các chuyên khoa như khoa nội, ngoại , mắt, răng,
dạ dày Họ đã biết giải phẫu và chữa bệnh bằng thảo mộc.
B .AI CẬP HIỆN NAY
mở rộng nhằm nâng cao uy tín của Ai Cập trong khu vực và trên thế giới.
Năm 2008, lạm phát ở Ai Cập đang ở mức cao kỷ lục. Theo Cơ quan Thống
kê quốc gia (CAPMAS) của Ai Cập, lạm phát ở nước này đã tăng lên mức cao
kỷ lục 23,1% trong tháng 7/2008, do giá lương thực tăng mạnh. Việc chỉ số
giá tiêu dùng trong nước tăng mạnh chủ yếu là do giá lương thực tăng 32,5%
so với cùng kỳ năm ngoái. Con số lạm phát chính thức được công bố hai tháng
một lần, với lạm phát trong tháng 5/08 ở mức 21,1% và tháng 3/08 ở mức
15,8%. Lạm phát của Ai Cập dường như đã được kiểm soát cho tới đầu năm
nay, nhưng bắt đầu tăng mạnh trong tháng 3/08 do giá lương thực tăng mạnh
trên thị trường thế giới, đặc biệt là lúa mì - mặt hàng mà Ai Cập là nước nhập
khẩu chủ yếu. Trong báo cáo về tình hình lạm phát trong tháng 7/08,
CAPMAS đã nêu giá tăng đáng kể nhất là giá bơ (tăng 71,1%), giá các sản
phẩm bơ sữa (tăng 38,5%), gia cầm (tăng 39,1%) và mì ống (tăng 32,8%). Để
kìm chế lạm phát, Ngân hàng Trung ương Ai Cập tăng lãi suất tiền gửi thêm
0,5% lên 11% và lãi suất cho vay lên 13%. Tuy nhiên biện pháp này cũng có
thể gây ảnh hưởng tiêu cực lên tăng trưởng kinh tế của Ai Cập - dự báo sẽ tăng
trưởng 7% trong năm 2008.
13
1.2 Các ngành kinh tế trọng điểm
Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP của Ai Cập đã giảm từ 20% vào cuối thập kỷ
80 xuống 13,8% vào năm 2007. Các chương trình nông nghiệp của Chính phủ
như đẩy mạnh khai hoang, phát triển tưới tiêu đã làm tăng sản lượng nông
nghiệp với tốc độ bình quân 4%/năm trong những năm gần đây.
Công nghiệp Ai Cập tăng trưởng bình quân 4,9%/năm trong thập kỷ 90, chiếm
tỷ trọng 41,1% GDP năm 2007. Công nghiệp khai khoáng của Ai Cập rất phát
triển. Khai thác và xuất khẩu dầu mỏ giữ vai trò then chốt trong nền kinh tế Ai
Cập suốt hơn 20 năm qua. Tuy nhiên, do trữ lượng ngày càng sụt giảm, Ai
Cập đã bắt đầu giảm dần nhịp độ khai thác dầu.
Ngành dệt may của Ai Cập cũng khá phát triển và là lĩnh vực công nghiệp sử
Kim ngạch xuất khẩu: 24,45 tỷ USD
Các mặt hàng xuất khẩu chính: dầu thô và các sản phẩm dầu, hàng dệt, bông,
kim loại, hoá chất.
Đối tác xuất khẩu: Mỹ (11,7%), Ý (9,7 %), Tây Ban Nha (7,8 %), Syria
(5,7%), Ả Rập (5%), Anh (4,3%)
Kim ngạch nhập khẩu: 44,95 tỷ USD
Các mặt hàng nhập khẩu chính: máy móc thiết bị, hoá chất, thực phẩm, sản
phẩm gỗ
Đối tác nhập khẩu: Mỹ (11,7 %); Trung Quốc ( 9,7%); Ý (6,5 %) Đức (
6,4%), Ả Rập (4,8%).
3. Đầu tư
Thu hút đầu tư nước ngoài luôn được Chính phủ Ai Cập quan tâm. Luật Đầu
tư năm 1997 có nhiều ưu đãi như: cho phép chủ đầu tư nước ngoài sở hữu
100% vốn; bảo đảm quyền chuyển thu nhập và vốn về nước; bảo đảm vốn đầu
tư không bị sung công, tịch thu và quốc hữu hóa; bảo đảm quyền sở hữu đất
(lên đến 4000 m
2
), quyền mở tài khoản ngoại tệ tại ngân hàng, quyền được đối
xử bình đẳng
Luật đầu tư ban hành các chính sách khuyến khích khác nhau đối với cá dự án
đầu tư trong nước và đầu tư vào các khu kinh tế tự do. Các cơ hội đầu tư tại Ai
Cập rất rộng, từ ngành công nghiệp gas, dầu mỏ, du lịch, công nghệ truyền
thông, bất động sản, giao thông vận tải đến các ngành công nghiệp định
hướng xuất khẩu.
Trong các năm 1997-2000, vốn FDI vào Ai Cập đạt trên 1 tỷ USD/năm. Do
những khó khăn kinh tế trong nước cũng như tình hình khu vực và thế giới bất
lợi, vốn FDI năm 2001 chỉ còn 509 triệu USD. Mỹ là nước đầu tư lớn nhất,
15
tiếp theo là Anh, Đức, Pháp, Nhật Bản. Đầu tư ra nước ngoài tập trung vào các
Theo bản báo cáo chính sách đầu tư năm 2007 của Ai Cập, luồng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài vào Cập trong giai đoạn 2001-2006 đã tăng gấp 12 lần.
Trong 9 tháng đầu năm 2007, đầu tư nước ngoài vào Ai Cập đạt 9 tỷ USD, từ
mức 0,5 tỷ trong năm 2001, 0,7 tỷ USD vào năm 2002, tăng hơn cả mức 6,1 tỷ
USD của cả năm 2006. Ước tính trong năm 2007, đầu tư trực tiếp nước ngoài
16
vào Ai Cập đạt trên 10 tỷ USD. Tính đến năm 2007, tổng vốn đầu tư nước
ngoài hiện có tại Ai Cập là 48,46 tỷ USD.
Tình hình đầu tư nước ngoài vào Ai Cập giai đoạn 2000-2006 và Quý I
năm 2007 (Nguồn: Cơ quan Xúc tiến Đầu tư nước ngoài của Ai Cập - GAFI)
Trong số các nhà đầu tư EU, Anh là đối tác đầu tư lớn nhất ở Ai Cập. Trong
năm 2006-2007, Anh vẫn tiếp tục đầu tư mạnh vào Ai Cập. Một số công ty lớn
ở Anh đã có mặt tại Ai Cập bao gồm British Gas, British Petroleum (BP)
Dự kiến đầu tư nước ngoài vào Ai Cập sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới khi
các doanh nghiệp nhà nước ở Ai Cập dần được tư nhân hóa, chủ yếu trong các
lĩnh vực như bảo hiểm, giao nhận hàng hóa bằng container và bốc dỡ hàng
hóa.
Năm 2001, Ai Cập đầu tư ra nước ngoài 27,3 triệu USD, tập trung ở một số
nước láng giềng như Các tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất (UAE), Kenya
Tính đến cuối năm 2007, tổng vốn đầu tư của Ai Cập ra nước ngoài hiện là
1,295 tỷ USD
4. Cơ sở hạ tầng kinh tế
(Số liệu năm 2007) (Nguồn: CIA Factbook - www.cia.gov)
Truyền thông - thông tin
Số thuê bao điện thoại: 11.229 triệu
Dự trữ ngoại hối và vàng: 31,37 tỷ USD
Tổng số vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Ai Cập hiện thời: 48,46 tỷ
USD
Tổng số vốn đầu tư trực tiếp từ Ai Cập ra nước ngoài hiện thời: 1,295 tỷ
USD.
6.Quan hệ quốc tế
Những năm qua, Chính phủ Ai Cập đã có nhiều nỗ lực hợp tác với các nước
và khu vực trên thế giới.
Tháng 6/2001, Ai Cập đã ký Hiệp định hợp tác song phương với EU, trong
khuôn khổ chương trình hợp tác EU - Địa Trung Hải (MEDA). Tháng 6/004,
Thỏa thuận hợp tác EU-Ai Cập bắt đầu có hiệu lực. Thỏa thuận bao gồm
những điều khoản tạo thuận lợi cho thương mại tự do giữa EU và Ai Cập.
Thỏa thuận cũng bao gồm hợp tác trên nhiều lĩnh vực như đối thoại chính trị
18
định kỳ đều đặn về những vấn đề liên quan đến quyền con người, các quy định
của luật dân chủ. EU đã hoàn tất đàm phán với Ai Cập về Kế hoạch Hành
động về Chính sách Láng giềng EU, đây là bước tiếp theo trong việc phát triển
quan hệ giữa EU với Ai Cập.
Ai Cập luôn chủ trương đẩy mạnh quan hệ trên mọi lĩnh vực với Mỹ. Ai Cập
đã tranh thủ được từ Mỹ nguồn viện trợ, vốn vay và đầu tư quan trọng. Mỹ
hiện là đối tác thương mại hàng đầu của Ai Cập, với thị phần xuất nhập khẩu
chiếm trên 11% trong năm 2007.
Ai Cập có quan hệ gần gũi với các nước Ả rập, và có tiếng nói quan trọng
trong cộng đồng các quốc gia Ả rập. Tháng 1/1998, Ai Cập cùng các nước
thành viên của Liên đoàn Ả rập nhất trí giảm dần tiến tới loại bỏ hoàn toàn
thuế quan trong buôn bán giữa các nước thành viên trong giai đoạn 10 năm.
Với Châu Phi, quan hệ kinh tế thương mại chủ yếu tập trung vào Khối thị
trường chung Đông Nam Phi (COMESA) mà Ai Cập chính thức gia nhập từ
tháng 6/1998. Ai Cập đã giảm thuế suất với các thành viên COMESA tới 90%