I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xã hội loài người phát triển từ thuở hoang dã cho đến ngày nay, có thể
ước chừng 10.000 năm trong một không gian rộng lớn của Trái Đất và được
các nhà khoa học chia ra nhiều thời đại: Cổ Đại, Trung Cổ, Cận Đại và Hiện
Đại. trong mỗi thời đại, xã hội loài người nổi lên một số vùng, mà ở đó xã
hội cư dân ở điểm tập hợp được các giá trị tiên tiến vượt trội trong nhiều lĩnh
vực – hình thành nền văn minh. Riêng thời Cổ Đại có tám nền văn minh lớn
được thống kê (các học giả vẫn tranh cãi về số lượng) gồm: nền văn minh Ai
Cập Cổ Đại, nền văn minh Hy Lạp, nền văn minh La Mã, nền văn minh Tây
Á, nền văn minh Ấn Độ, nền văn minh Trung Hoa, nền văn minh Maya và
nền văn minh Andes.
Trong đó, nền văn minh Ấn Độ nổi tiếng về những nền văn minh cổ
nhất thế giới. Trải qua một giai đọan lịch sử dài từ thời Cổ Đại cho đến
Trung Đại, văn minh Ấn Độ đã phát triển và đạt được những thành tựu rực
rỡ trên tất cả các mặt : chữ viết, khoa học, tư tưởng, tôn giáo, đặc biệt là các
lĩnh vực nghệ thuật. Tìm hiểu về nền văn minh Ấn Độ Cổ Trung Đại sẽ giúp
chúng ta hiểu nhiều hơn về nền văn minh này không chỉ đối với đất nước Ấn
Độ nói riêng mà còn ảnh hưởng đến thế giới, trong đó có Việt Nam. Nghiên
cứu về vấn đề này, em xin chọn đề tài cho bài tập của minh như sau: “Vai
trò và ý nghĩa của những thành tựu chủ yếu của văn minh Ấn Độ thời Cổ
Trung Đại.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nền văn minh cổ xưa trên lưu vực sông Ấn (3.000-1.800 TCN)
Trang 1
Các nhà khảo cổ đã tìm ra cái nôi đầu tiên của Ấn Độ tại lưu vực sông
Ấn. Tại đây người ta tìm thấy những pho tượng một người đàn ông trong tư
thế suy tưởng gợi đến môn phái yoga. Rất nhiều hiện vật được tìm thấy ở
khu vực Harappa và Mohenjo có niên đại từ 3.000 đến 1.800 TCN. Những
tìm tòi gần đây hé mở phần nào về sự lan tỏa của nền văn minh lưu vực sông
Ấn rộng lớn về miền Bắc và miền Tây xa xôi cùng với cư dân lưu vực sông
và ý nghĩa của những phát minh ấy.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài : Ấn Độ thời kì cổ trung đại.
- Ngoài còn đề xuất một số ý kiến về việc lưu giữ và bảo tồn các nền
văn minh ấy.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp xã hội học: quan sát và tiếp cận.
- Phương pháp điều tra khảo sát.
- Phương pháp lịch sử.
- Phương pháp phân tích – tổng hợp.
5. Những đóng góp của đề tài
Qua quá trình học tập, tìm hiểu và nghiên cứu về những thành tựu chủ
yếu của nền văn minh Ấn Độ thời cổ trung đại em đã một phần hiểu được
những giá trị lịch sử của các thành tựu này và được biết thêm về những vai
trò và ý nghĩa lớn lao của những thành tựu đó đối với nền văn minh nhân
Trang 3
loại nói chung và đất nước Ấn Độ nói riêng. Trên cơ sở đó đề xuất
những ý kiến về việc khắc phục và bảo tồn các di sản văn hóa thế giới.
Đề tài còn cung cấp thêm tư liệu cho những ai muốn tìm hiểu về nền
văn minh cổ đại này.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung đề
tài còn được triển khai theo hai chương:
Chương một: Những cơ sở tạo nên nền văn minh Ấn Độ.
Chương hai: Vai trò và ý nghĩa của những thành tựu chủ yếu của văn
minh Ấn Độ thời cổ trung đại.
II. NỘI DUNG
Chương 1: Những cơ sở tạo nên nền văn minh Ấn Độ.
1.1. Khái niệm chung về văn minh Ấn Độ
Văn minh là trạng thái tiến bộ về cả hai mặt vật chất và tinh thần của xã
hội loài người, tức là trạng thái phát triển cao của nền văn hóa.
cổ ở Harappa và Môhenjô Đarô người ta mới biết về nó. Ở đây, qua các di
vật khảo cổ người ta có thể suy ra phần nào sự phát triển kinh tế, văn hóa, và
Trang 5
đây là thời kì đã xuất hiện bộ máy nhà nước. Còn về lịch sử tương đối cụ thể
của nó thì chưa biết. Người ta tạm đặt cho nó cái tên là nền văn hóa Harappa
– Môhenjô Đarô. Có người gọi đây là nền văn minh sông Ấn
Thời kì Vêđa (khoảng 1500 năm TCN đến thế kỉ VI TCN):
Đây là thời kì những bộ lạc du mục người Aria từ Trung Á tràn vào
xâm nhập Bắc Ấn. Thời kì này được phản ánh trong bộ kinh Vêđa cho nên
được gọi là thời kì Vêđa. Đây là thời kì có hai vấn quan trọng ảnh hưởng lâu
dài đến lịch sử Ấn Độ sau này: đó là vấn đề đẳng cấp (Vacna) và đạo
Bàlamôn.
Giai đoạn từ thế kỉ VI TCN đến hết thế kỉ XII:
Từ thế kỉ VI TCN Ấn Độ mới có sử sách ghi chép. Lúc đó, ở miền Bắc
Ấn có tới 16 nước trong đó vương quốc Mađaga ở hạ lưu sông Hằng là nước
hùng mạnh nhất. Năm 327 TCN, Ấn Độ bị quân đội của Alếchxănđrơ xâm
lược trong một thời gian ngắn.
Ấn Độ từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XIX:
Trong giai đoạn này, Ấn Độ bị người Apganixtan theo đạo Hồi xâm
nhập, sau đó, thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII lại bị người Mông Cổ xâm lược.
Người Mông Cổ đã lập ra ở đây triều Môgôn. Đến giữa thế kỉ XĨ, Ấn Độ bị
Anh xâm lược tới năm 1950 mới giành độc lập.
Chương2: Vai trò và ý nghĩa của những thành tựu chủ yếu của
văn minh Ấn Độ thời Cổ trung đại.
2.1. Thành tựu chính của văn minh Ấn Độ
2.1.1. Chữ viết
Thời đại Harappa-Môhenjô Đarô, ở miền Bắc Ấn đã xuất hiện một loại
Trang 6
chữ cổ mà ngày nay người ta còn lưu giữ được khoảng 3000 con dấu có
khắc những kí hiệu đồ họa.
bức tượng
Phật và
nhiều bích
hoạ rất đẹp.
Tháp Sanchi
Các công trình kiến trúc Ấn Độ giáo được xây dựng nhiều nơi trên đất
Ấn Độ và được xây dựng nhiều vào khoảng thế kỉ VII - XI. Tiêu biểu cho
các công trình Ấn Độ giáo là cụm đền tháp Khajuraho ở Trung Ấn, gồm tất
cả 85 đền xen giữa những hồ nước và những cánh đồng.
Trang 8
Quần thể kiến trúc đền đài ở Khajuraho
Những công trình kiến trúc Hồi giáo nổi bật ở Ấn Độ là tháp Mina,
được xây dựng vào khoảng thế kỉ XIII và lăng Taj Mahan được xây dựng
vào khoảng thế kỉ XVII.
Toàn cảnh Tháp Qutb Minar
Trang 9
Lăng Taj Mahan
Về nghệ thuật tạo hình, vì đạo Phật trong thời kì đầu phản đối việc thờ thần
tượng và hình ảnh, nên nghệ thuật tạc tượng bị hạn chế trong thời gian dài.
Mãi đến khi phái Phật giáo Đại thừa ra đời, chủ trương đó mới thay đổi, do
vậy từ thế kỉ I về sau, tượng Phật mới được tạo nên ngày một nhiều, trong đó
tiêu biểu nhất là pho tượng bằng đá ở Ganđara.
Trang 10
Tượng Phật bằng đá ở Ganđara.
2.1.4. Khoa học tự nhiên
Về thiên văn và lịch pháp
Ần Độ là quê hương của các tôn giáo và tôn giáo đã chi phối rất lớn đến
tư tưởng, hành động của người dân Ấn Độ. Họ tin vào các vị thần linh, tin
vào trời, họ thờ phụng các vì tinh tú nên đã quan sát bầu trời, quan sát các vì
sao để cúng tế…Từ đó dần dần họ có các kiến thức về thiên văn.Như vậy,
số tuỳ theo vị trí của nó. Ý đó tế nhị mà quan trọng, ngay nay chúng ta cho
Trang 12
là đơn giản quá nên không thấy được công lao của người Ấn Độ. Mà chính
nhờ nó đơn giản mà làm toán hoá ra hết sức dễ dàng và hệ thống số học
đáng được kể là sang kiến ích lợi nhất. Nếu có nghĩ rằng hai vị thiên tài bậc
nhất thời cổ đại là Achimede và Apollonius mà cũng không tìm ra được hệ
thống đó thì mới nhận định nổi sang kiến của người Ấn Độ tài tình đến thế
nào”.
Về đại số: người Ấn Độ đã có ý niệm về số âm, đặt ra các quy tắc về hoán
vị, tổ hợp, tính được căn bậc hai của số 2, họ còn sáng tạo nên các bài toán
về đại số rất hay…
Về hình học, người Ấn Độ tính được số pi (π = 3,1416), tính được diện tích
hình vuông, hình chữ nhật, tam giác, đa giác; biết được mối quan hệ các
cạnh của tam giác vuông…
Về vật lí
Bên cạnh các thành tựu về thiên văn và toán học, người Ấn Độ còn đạt
được một số thành tựu rất quý giá trên lĩnh vực vật lí học.
Các nhà khoa học kiêm triết học Ấn Độ đã sớm nêu ra thuyết nguyên
tử.Kanada, người sáng lập triết lí Vaisheshika cho rằng vạn vật do các
nguyên tử tạo nên, mỗi hành (như ngũ hành của Trung Hoa: nước, lửa,
đất…) có một thứ nguyên tử khác nhau, tạo nên sự khác nhau của vật chất.
Còn các nhà triết học đạo Jain cho rằng nguyên tử nào cũng như nhau, chỉ có
cách tổ hợp là khác nhau nên tác động khác nhau.
Người Ấn Độ cũng sớm có hiểu biết về quang, nhiệt học: Kanada cho rằng
ánh sáng và nhiệt là một biến thể của một bản thể. Udayana thì cho rằng mọi
sức nóng đều do Mặt trời phát ra. Vachaspati lại cho rằng ánh sáng gồm
những phần tử li ti từ các vật phát ra và đập vào mắt ta. Đây là một sự hiểu
Trang 13
biết rất tiến bộ, giống với ngày nay.Người Ấn Độ còn sớm có ý niệm về
sóng cơ học (các dao động cơ học của sợi dây đàn): Trong các sách âm nhạc
của đạo Bàlamôn là thuyết luân hồi mà sau này nhiều tôn giáo khác chịu ảnh
hưởng. Trong quá trình phát triển, đạo Bàlamôn có thể chia làm 3 giai đoạn:
giai đoạn Vêđa (thế kỉ XV TCN – thế kỉ V TCN), giai đoạn Bàlamôn (thế kỉ
V TCN – đầu CN), giai đọan Hinđu (đầu CN – nay).
Đạo Phật ra đời vào khoảng giữa thiên niên kỉ I TCN do thái tử
Xitđacta Gôtama, hiệu là Sakya muni (Thích Ca Mâu Ni) khởi xướng. Các
tín đồ Phật giáo lấy năm 544 TCN là năm thứ nhất theo Lịch Phật, họ cho
đây là năm Đức Phật nhập niết bàn. (Vì vậy, những người châu Á theo Phật
trước kia vẫn để ý đến ngày qua đời hơn ngày ra đời, khác hẳn những người
theo đạo Thiên Chúa).
Giáo lí cơ bản của đạo Phật là Tứ diệu đế ( bốn điền suy xét kì diệu):
• Khổ đế (suy xét về sự khổ cực, luân hồi, nghiệp báo)
• Nhân đế - Tập đế (nguyên nhân của sự khổ là dục – lòng ham muốn)
• Diệt đế (con đường tiết dục, diệt dục để trừ nghiệp báo)
• Đạo đế (con đường để giải thoát khỏi sự luân hồi, nghiệp báo)
Đức Phật còn đề ra tám con đường chính trực để tu hành – Bát chánh:
• Chánh kiến: Phải có tín ngưỡng đúng đắn.
• Chánh tư duy: Phải có suy nghĩ đúng đắn.
• Chánh ngữ: Phải có lời nói đúng đắn.
Trang 15
• Chánh nghiệp: Phải có hành động đúng đắn.
• Chánh mệnh: Phải có cuộc sống đúng đắn.
• Chánh tinh tiến: Phải có những ước mơ đúng đắn.
• Chánh niệm: Phải có những điều tưởng nhớ đúng đắn.
• Chánh định: Phải tập trung tư tưởng mà suy nghĩ.
Đạo Phật còn đề ra Ngũ giới:
• Bất sát sinh: Không giết hại các động vật.
• Bất đạo tặc: Không trộm cướp.
• Bất vọng ngữ: Không nói dối.
• Bất tà dâm: Không tham vợ hay chồng của người khác.
văn hoá mới như Arập, Nhật Bản, Korea, v.v. Bức tranh văn hoá Ấn Độ, do
vậy càng phong phú, đa dạng, nhiều sắc vẻ. Thêm nữa, vừa đấu tranh chống
lại sự đô hộ của chủ nghĩa tư bản phương Tây, Ấn Độ vừa tiếp thu những
yếu tố văn hoá mới, tiến bộ từ phương Tây để làm giàu cho vườn hoa văn
hoá của dân tộc mình. Bức tranh văn hoá Ấn Độ từ đây càng ngày càng rực
rỡ sắc màu. Trong giai đoạn hiện nay, những giá trị của văn minh Ấn Độ vẫn
còn đang lan tỏa rộng khắp. Những giá trị ấy như một liều thuốc tinh thần để
con người Ấn Độ quay về với cội nguồn, quay về tìm hiểu quá khứ rực rỡ
của ông cha, cũng như làm cơ sở cho việc tiếp thu những giá trị mới của nền
văn minh nhân loại.
2.2.2. Ý nghĩa của những thành tựu văn minh Ấn Độ
Trang 17
Nền văn minh Ấn Độ đã đạt được những thành tựu hết sức rực rỡ, đa
dạng trên tất cả các lĩnh vực. Các thành tựu về chữ viết, văn học, nghệ thuật,
khoa học tự nhiên và các tư tưởng, tôn giáo…đã góp phần làm nên nền văn
minh Ấn Độ, đưa văn minh Ấn Độ lên đỉnh cao của văn minh nhân loại.
Việc tìm hiểu về nền văn minh Ấn Độ cổ đại có một ý nghĩa to lớn,
giúp chúng ta hiểu rõ bản sắc văn hóa truyền thống cũng như sự phát triển
của lịch sử của đất nước này. Ngoài ra, nó còn mang một ý nghĩa vô cùng
quan trọng trong tiến trình hội nhập của khu vực nói chung và đất nước nói
riêng trong thời đại ngày nay.
2.3. Vấn đề khắc phục và bảo tồn những thành tựu văn minh Ấn Độ và thế
giới
Nói đến Di sản văn hoá là đề cập đến một lĩnh vực rộng lớn, đó là tất
cả những thành quả lao động tiêu biểu của con người qua các thời kỳ xây
dựng lên (còn tồn tại hoặc đã biến mất), nó còn bao gồm cả những danh lam
thắng cảnh do bàn tay của tạo hoá nhào nặn ra. Ta thấy Thạch Đàn
Stonehenge ở Vương quốc Anh, được xây dựng khoảng năm 1.900 trước
công nguyên, với rất nhiều khối đá nặng trên 40 tấn, lại cách xa hơn 20 km,
làm cách nào con người thời đó có thể vận chuyển về để xây dựng lên một
tốt việc tuyên truyền phổ biến pháp luật về di sản văn hoá để khai thác mọi
Trang 19
nguồn lực cả vật chất và tinh thần từ các cá nhân, các tổ chức xã hội. Phối
hợp chặt chẽ với các ban ngành, nhất là với chính quyền địa phương các cấp,
quản lý và kịp thời xử lý các hành vi xâm hại di tích, giữ gìn vốn di sản văn
hoá vô giá cho các thế hệ mai sau.
Trang 20
III. Kết luận
Những trang lịch sử của đất nước Ấn Độ thời cổ trung đại đã cho ta
thấy được một thời kì hào hùng, đẫm máu và nước mắt của các cuộc đấu
tranh giành quyền lực, mở mang bờ cõi và các cuộc chiến chống lại các thế
lực xâm lăng. Một thời kì bi thương nhưng rất đổi hào hùng và trong giai
đoạn khó khăn đó ta vẫn thấy ngời lên một nền văn minh rực rỡ - văn minh
sông Ấn đặc sắc với rất nhiều thành tựu để lại đến muôn đời. Và đó cũng
chính là một trong những ngọn nguồn của văn minh nhân loại. Nhân dân Ấn
Độ sớm đạt được những thành tựu to lớn về chữ viết, văn học, nghệ thuật,
khoa học tự nhiên, tư tưởng tôn giáo…tất cả những thành tựu đó mang một
giá trị lớn lao về lịch sử và ít nhiều cũng ảnh hưởng đến đời sống và văn hóa
Ấn Độ nói riêng và thế giới nói chung, trong đó có Việt Nam. Việc phát hiện
ra những thành tựu văn hóa đó giúp chúng ta hiểu thêm về đất nước Ấn Độ
và có những hiểu biết về những bước tiến của xã hội loài người. Chính
những thành tựu như thế đã khẳng định sự tồn tại và phát triển của loài
người từ buổi sơ khai cho đến nay.
Ông cha ta ngày xưa đã làm nên những thành tựu, nhiệm vụ của chúng
ta ngày nay là phải biết trân trọng, lưu giữ để những thành tựu ấy mãi được
lưu truyền và không bị mai mọt theo thời gian. Trên cơ sở đó chúng ta cũng
phải biết phát huy những giá trị lịch sử ấy để tạo ra những thành tựu mới
góp phần làm phong phú thêm cho kho tàng văn minh của nhận loại.
Trang 21
Tài liệu tham khảo:
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
(Bài tiểu luận kết thúc học phần)
Đề tài: Vai trò và ý nghĩa của những thành tựu chủ yếu
của văn minh Ấn Độ thời cổ trung đại.
Giảng viên hướng dẫn : Th.s. Hoàng Hoài Thương.
Sinh viên thực hiện :…………………………… .
Mã phách :……………………………
Đà Nẵng, 12/2011
Họ và tên sinh viên : Ngô Thị Hồng Phương. Phách:……….
Ngày sinh : 14/1/1992.
Lớp : 11CVH1.
Tên tiểu luận : VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA NHỮNG THÀNH
TỰU CHỦ YẾU CỦA VĂN MINH ẤN ĐỘ THỜI CỔ TRUNG ĐẠI.
Học phần : Lịch sử văn minh thế giới.
Giảng viên phụ trách: Th.s Hoàng Hoài Thương.
Sinh viên kí tên