Thành tựu của Văn Hóa Trung Hoa thời kỳ Trung đại - Pdf 28

Tiểu luận: Thành tựu của Văn Hóa Trung Hoa
thời kỳ Trung đại
THÀNH TỰU CỦA VĂN HÓA TRUNG HOA THỜI KỲ TRUNG ĐẠI
MỞ ĐẦU
Trong thế giới cổ đại phương Đông xuất hiện bốn nền văn hóa lớn gồm Ai Cập,
Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Hoa. Sự xuất hiện của bốn trung tâm văn hóa lớn và
những thành tựu văn hóa và các quốc gia cổ đại này đạt được đã đánh dấu một
bước tiến dài của xã hội loài người trong tiến trình phát triển của văn minh nhân
loại.
Một trong bốn trung tâm văn hóa lớn đó là Trung Hoa. Mặc dù văn minh Trung
Hoa được xem là nền văn minh xuất hiện sớm trên thế giới nhưng so với các trung
tâm văn minh khác ở phương Đông thì xuất hiện muộn hơn (khoảng cuối thiên niên
kỉ thứ III TCN). Tuy vậy, không trầm mặc, cổ kính như Ấn Độ, huyền bí như Ai
Cập mà văn hóa của Trung Hoa thời cổ - trung đại này mang những sắc thái riêng
và đậm màu sắc Trung Hoa (cổ - trung đại).
Một nền văn hóa phát triển rực rỡ và những thành tựu văn hóa mà Trung Hoa đem
lại không những có giá trị to lớn ở thời kì cổ trung đại mà còn có giá trị ở cả thời kì
sau này. Điều này được thể hiện rõ khi nghiên cứu và làm rõ những giá trị của
những thành tựu văn hóa cũng như sức ảnh hưởng của nó đến văn hoá của các quốc
gia khá
NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở hình thành nền văn minh Trung Hoa và những thành tựu
văn hóa Trung Hoa thời cổ - trung đại
1.1. Khái quát về cơ sở hình thành nền văn minh Trung Hoa
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Lãnh thổ Trung Hoa thời cổ đại nhỏ hơn bây giờ nhiều. Địa hình Trung Hoa đa
dạng, phía Tây có nhiều núi và cao nguyên, khí hậu khô hanh, phía đông có các
bình nguyên châu thổ phì nhiêu, thuận lợi cho việc làm nông nghiệp.Trung Hoa có
rất nhiều sông trong đó có hai con sông quan trọng nhất là Hoàng Hà và Trường
Giang (hay sông Dương Tử). Hai con sông này đều chảy theo hướng tây- đông.
Những con sông này chảy qua đồng bằng làm cho đất đai phì nhiêu, tạo cơ sở cho

Trung Hoa là một trong những nơi xuất hiện nền văn minh sớm thời cổ - trung đại.
Văn minh Trung Hoa thời cổ - trung đại có ảnh hưởng rất lớn tới các nước phương
đông.
1.2.1. Về chữ viết:
Chữ viết ở Trung Hoa cũng phát triển qua các thời kì :
Theo truyền thuyết, từ thời hoàng đế, sử quan Thương Hiệt đã sang tạo ra chữ viết.
Sự thực, đến đời Thương, chữ viết của Trung Hoa mới ra đời. Loại chữ viết đầu
tiên này khắc trên mai Rùa và xương thú, được phát hiện lần đầu tiên năm 1899 và
được gọi là chữ giáp cốt.
Sở dĩ chữ đời Thương được khắc trên mai Rùa và xương thú (chủ yếu là xương
quạt của bò) vì đó là những quẻ bói. Người Trung Hoa lúc bấy giờ mỗi khi muốn
bói việc gì thì khắc nhưng điều muốn bói lên vai giờ hoặc xương thú, đục lỗ lở giữa
rồi nung, sau đó theo những đường rạn nứt để đoán ý của trời đất qủy thần.
Phương pháp cấu tạo chữ giáp cốt chủ yếu là phương pháp tượng hình. Ví dụ:
Chữ “nhật” (mặt trời) thì vẽ một vòng tròn nhỏ, ở giữa có một chấm.
Chữ “ sơn” (núi) vẽ ba đỉnh núi.
Chữ “ thủy” ( nước) thì vẽ ba lần sóng.
Dần dần do yêu cầu ghi chép các động tác và các khái niệm trừu tượng trên cơ sở
phương pháp tượng hình đã phát triển thành các loại chữ biểu ý và âm thanh.
Cho đến nay đã phát hiện được hơn 100.000 mảnh mai Rùa Và xương thú có khắc
chữ giáp cốt. Tổng số chữ giáp cốt đã phát hiện được có khoảng 4500 chữ, trong đó
đã đọc được 1700 chữ. Chữ giáp cốt đã ghép được những đoạn văn tương đối dài,
có đoạn dài trên 100 chữ.
Đến thời Tây Chu số lượng chữ càng nhiều và cách viết càng đơn giản. Chữ viết
tiêu biểu thời kì này là kim văn cũng gọi là chung đỉnh văn (chữ viết trên chuông
đỉnh). Ngoài đồ đồng chữ viết thời Tây Chu còn được viết trên trống đá thẻ tre.
Các loại chữ viết đầu tiên này được gọi chung là đại Triện cũng gọi là cổ văn thời
Xuân thu - Chiên quốc do đất nước không thống nhất nên chữ viết cũng không
thống nhất. Đến thời Tần, Lí Tư đã dựa vào chữ nước Tần kết hợp với chữ của
nước khác, cải tiến cách viết tạo thành một loại chữ thống nhất gọi là chữ tiểu

Hoa. Li tao đã trở thành biểu tượng của thơ ca Trung Hoa.
* Thời kì trung đại:
Văn học Trung Hoa phát triển đến đỉnh cao là ở thời kì này, với các thể loại nổi
bật: Phú (Hán), thơ (Đường), Từ (Tống), Kịch (Nguyên), Tiểu thuyết (Minh-
Thanh).
Thơ Đường: chiếm vị trí nổi bật trong các thành tựu văn hóa Đường, là đỉnh cao
của văn hóa Trung Hoa và nhân loại thời bấy giờ (VII-IX),với 50000 bài thơ của
2300 thi sĩ thể hiện bằng những quy phạm chặt chẽ. Trong hằng hà sa số các nhà
thơ đó, nổi tiếng nhất là 3 nhà thơ lớn: Lý Bạch, Đỗ Phủ, và Bạch Cư Dị
+ Những kiệt tác của thơ đường tiêu biểu: “Trường hận ca” và “Tỳ Bà Hành”.
- Tiểu thuyết: đặc biệt phát triển vào thế kỉ XIV-XVIII. Thời kì này thuộc hai triều
đại Minh (1368-1644) và Thanh (1644-1911) bởi vậy còn gọi là tiểu thuyết Minh
Thanh, hay tiểu thuyết chương hồi, vì thể loại của nó là chương hồi, mỗi hồi ứng
với một buổi kể, nhiều hồi thành một chương, ứng với một câu chuyện. Từ đời
Tống (thế kỉ 12, 13) đã xuất hiện các chuyện kể. Thời này kinh tế thương nghiệp
phát triển, nhiều đô thị lớn hình thành. Trong các hội hè thường xuất hiện các nghệ
nhân kể chuyện. Họ kể đủ thứ chuyện nhưng nhiều hơn cả là chuyện lịch sử xa
xưa, chuyện các hảo hán anh hùng đã đi vào truyền thuyết, chuyện các nhà sư đến
Ân Độ Mang kinh Phật về dịch và truyền bá, chuyện tình duyên của các tài tử giai
nhân…Các nhà văn thời Minh và Thanh đã sưu tầm các chuyện kể ấy gia công
thêm bất trâu văn chương, hình thành hàng rong hơn loạt bộ tiểu thuyết có giá trị.
Trong hơn 300 bộ tiểu thuyết thời bấy giờ, có các tác phẩm lớn và nổi tiếng:
+ Thủy Hử (Thi Nại Am): truyện kể về một số nhân vật anh hùng cuối thời Bắc
Tống, vạch trần tội ác của xã hội phong kiến; Biểu hiện lòng bất mãn và ý chí phản
kháng của quần chúng nhân dân lao động.
+ Tam quốc chí diễn nghĩa (La Quán Trung): Tác phẩm được sáng tác trên cơ sở
tiếp thu thành quả kể chuyện dân gian và nghệ nhân kể chuyện, cùng những căn cứ
sự thật lịch sử. Tất nhiên, tác phẩm cũng không thiếu chỗ hư cấu, song hư cấu
nhưng về cơ bản là hợp tình, hợp lí, và đậm đà tính nghệ thuật chân thực. Cho nên,
có ý kiến cho rằng, trong Tam quốc chí diễn nghĩa “bảy phần sự thực, ba phần hư

Thanh nhất thống chí,…
Ngoài ra, những tác phẩm sử học do các sử gia khác viết theo các thể biên niên, kỉ
sự bản mạt, tạp sự, bút kí…cũng rất nhiều.
Những bộ sách trên là những di sản văn hoá vô cùng quý báu của Trung Hoa và có
giá trị lịch sử rất lớn.
1.2.4. Về Tư tưởng - Triết học
1.2.4.1. Một số học thuyết tiêu biểu của Triết học Trung Hoa cổ- trung đại
a. Thuyết Âm - Dương :
Âm và dương theo khái niệm cổ sơ không phải là vật chất cụ thể, không gian cụ thể
mà là thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn vũ trụ cũng như trong
từng tế bào, từng chi tiết. Âm và dương là hai mặt đối lập, mâu thuẫn thống nhất,
trong Âm có Dương và trong Dương có Âm.
Căn cứ nhận xét lâu đời về giới thiệu tự nhiên, người xưa đã nhận xét thấy sự biến
hoá không ngừng của sự vật (thái cực sinh lưỡng nghi, lương nghi sinh tứ tượng, tứ
tượng sinh bát quái. Lưỡng nghi là âm và dương, tứ tượng là thái âm, thái dương,
thiếu âm và thiếu dương. Bát quái là càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn và đoài).
Người ta còn nhận xét thấy rằng cơ cấu của sự biến hoá không ngừng đó là ức chế
lẫn nhau, giúp đỡ, ảnh hưởng lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau và thúc đẩy lẫn nhau.
Để biểu thị sự biến hoá không ngừng và qui luật của sự biến hoá đó, người xưa đặt
ra "thuyết âm dương".
Âm dương không phải là thứ vật chất cụ thể nào mà thuộc tính mâu thuẫn nằm
trong tất cả mọi sự vật, nó giải thích hiện tượng mâu thuẫn chi phối mọi sự biến
hoá và phát triển của sự vật.
Nói chung, cái gì có tính chất hoạt động, hưng phấn, tỏ rõ, ở ngoài, hướng lên, vô
hình, nóng rực, sáng chói, rắn chắc, tích cực đều thuộc dương.
Tất cả những cái gì trầm tĩnh, ức chế, mờ tối, ở trong, hướng xuống, lùi lại, hữu
hình, lạnh lẽo, đen tối, nhu nhược, tiêu cực đều thuộc âm.
Từ cái lớn như trời, đất, mặt trời, mặt trăng, đến cái nhỏ như con sâu, con bọ, cây
cỏ, đều được qui vào âm dương.
+ Ví dụ : về thiên nhiên thuộc dương ta có thể kể: Mặt trời, ban ngày, mùa xuân,

của sự chú giải, bao hàm những tư tưởng triết học hết sức phong phú và sâu sắc.
b. Thuyết Ngũ hành :
Thuyết ngũ hành về căn bản cũng là một cách biểu thị luật mâu thuẫn đã giới thiệu
trong thuyết âm dương, nhưng bổ xung và làm cho thuyết âm dương hoàn bị hơn.
Ngũ hành là : Kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ.
Người xưa cho rằng mọi vật trong vũ trụ đều chỉ cho 5 chất phối hợp nhau mà tạo
nên.
Theo tính chất thì thuỷ là lỏng, là nước thì đi xuống, thấm xuống. Hoả là lửa thì
bùng cháy, bốc lên.
Mộc là gỗ, là cây thì mọc lên cong hay thẳng.
Kim là kim loại, thuận chiều hay đổi thay.
Thổ là đất thì để trồng trọt, gây giống được.
Tinh thần cơ bản của thuyết ngũ hành bao gồm hai phương diện giúp đỡ nhau gọi
là tương sinh và chống lại nhau gọi là tương khắc. Trên cơ sở sinh và khắc lại thêm
hiện tượng chế hoá, tương thừa, tương vũ.
Tương sinh, tương khắc, chế hoá, tương thừa, tương vũ biểu thị mọi sự biến hoá
phức tạp của sự vật.
- Luật tương sinh: Tương sinh có nghĩa là giúp đỡ nhau để sinh trưởng. Đem ngũ
hành liên hệ với nhau thì thấy 5 hành có quan hệ xúc tiến lẫn nhau, nương tựa lẫn
nhau.
Theo luật tương sinh thì thuỷ sinh mộc, mộc sinh hoả, hoả sinh thổ, thổ sinh kim,
kim sinh thuỷ, thuỷ lại sinh mộc và cứ như vậy tiếp diễn mãi. Thúc đẩy sự phát
triển không bao giờ ngừng. Trong luật tương sinh của ngũ hành còn bao hàm ý nữa
là hành nào cũng có quan hệ vệ hai phương diện: Cái sinh ra nó và cái nó sinh ra,
tức là quan hệ mẫu tử. Ví dụ kim sinh thuỷ thì kim là mẹ của thuỷ, thuỷ lại sinh ra
mộc vậy mộc là con của Thuỷ.
Trong quan hệ tương sinh lại có quan hệ tương khắc để biều hiện cái ý thăng bằng,
giữ gìn lẫn nhau.
- Luật tương khắc: Tương khắc có nghĩa là ức chế và thắng nhau. Trong qui luật
tương khắc thì mộc khắc thổ, thổ lại khắc thuỷ, thuỷ lại khắc hoả, hoả lại khắc kim,

Cũng trong bảng quan hệ chế hoá, chúng ta thấy mộc sinh hoả; nếu chỉ nhìn hành
mộc không thôi, thì như mộc gánh trọng trách gây dựng cho con là hoả, nhưng nhờ
có hoả mạnh, hạn chế bớt được sức của kim là một hành khắc mộc. Như vậy mộc
sinh con là hoả, nhưng nhờ có con là hoả mạnh mà hạn chế bớt kim làm hại mộc do
đó mộc giữ vững cương vị.
c. Thuyết Bát quái :
Là lý thuyết triết học giải thích thế giới được tạo thành bởi 8 nhóm sự vật, hiện
tượng khác nhau.
Tiên thiên Bát quái là 8 quẻ thuộc về Trời, chỉ về Thiên Lý hay Lẽ Trời.
Vì lúc đó chưa có chữ viết, vua Phục Hi sử dụng các vạch để diễn tả.
Sử dụng vạch liền, vạch liên tục, tức vạch Lẽ, gọi là Cơ để tượng trưng cho phần
Dương.
Sử dụng vạch đứt đoạn, tức vạch Chẳn, gọi là Ngẫu để tượng trưng cho phân Âm.
Lưỡng Nghi (Âm Dương) được tượng trưng bằng 2 vạch Dương và Âm gọi là
Dương Nghi và Âm Nghi.
+ Tứ Tượng : Đặt một vạch Dương lên trên Dương Nghi thì thành Toàn Dương nên
gọi là Thái Dương (Thái có nghĩa là đã lớn). Đặt một vạch Âm lên trên Dương
Nghi thì ta có một Dương làm chủ ở dưới, nên gọi là Thiếu Dương (Thiếu có nghĩa
là còn nhỏ). Đặt một vạch Âm lên trên Âm Nghi thì thành Toàn Âm gọi là Thái
Âm. Đặt một vạch Dương lên trên Âm Nghi thì ta có một Âm làm chủ ở bên dưới
gọi là Thiếu Âm.
Tứ Tượng theo đúng thứ tự là Thiếu Dương, Thái Dương, Thiếu Âm, Thái Âm.
Thiếu Dương đi trước Thái Âm và Thiếu Âm đi trước Thái Dương thể hiện Âm
trung hữu Dương căn, Dương trung hữu Âm căn, nghĩa là trong Âm có mầm
Dương. Dương sinh ở dưới thành ra Thiếu Dương có một vạch Dương mới sinh ở
dưới làm chủ. Dương trưởng ở trên thành ra Thái Dương với hai gạch Dương là
Dương đã toàn thịnh. Âm sinh ở trên cho nên Thiếu Âm có một Âm mới sinh ở
dưới làm chủ. Âm trưởng ở dưới cho nên Thái Âm với hai gạch Âm là Âm đã toàn
thịnh.
Bát Quái là 8 Quẻ mỗi Quẻ gồm có 3 vạch (mỗi vạch còn gọi là Hào), còn được gọi

Thứ hai, xuất hiện trong bối cảnh lịch sử quá độ sang xã hội phong kiến, một xã hội
đầy những biến động loạn lạc và chiến tranh nên lý tưởng của Nho gia là xây dựng
một "xã hội đại đồng". Đó là một xã hội có trật tự trên - dưới, có vua sáng - tôi
hiền, cha từ - con thảo, trong ấm - ngoài êm trên cơ sở địa vị và thân phận của mỗi
thành viên từ vua chúa, quan lại đến thứ dân. Có thể nói đó là lý tưởng của tầng lớp
quý tộc cũ cũng như của giai cấp địa chủ phong kiến đang lên.
Thứ ba, Nho gia lấy giáo dục làm phương thức chủ yếu để đạt tới xã hội lý tưởng
"đại đồng". Do không coi trọng cơ sở kinh tế và kỹ thuật của xã hội nên nền giáo
dục của Nho gia chủ yếu hướng vào việc rèn luyện đạo đức con người. Trong bảng
giá trị đạo đức của Nho gia thì chuẩn mực gốc là "Nhân". Những chuẩn mực khác
như Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Trung, Hiếu.v .v. đều là những biểu hiện cụ thể của Nhân.
Thứ tư, Nho gia quan tâm đến vấn đề bản tính con người. Việc giải quyết những
vấn đề chính trị -xã hội đòi hỏi Nho gia cũng như nhiều học thuyết khác của Trung
Hoa thời cổ phải đặt ra và giải quyết vấn đề bản tính con người. Trong học thuyết
Nho gia không có sự thống nhất quan điểm về vấn đề này, nhưng nổi bật là quan
điểm của Mạnh Tử. Theo ông, "bản tính con người vốn là thiện" (Nhân chi sơ, tính
bản thiện). Thiện là tổng hợp những đức tính vốn có của con người từ khi mới sinh
ra như: Nhân, Nghĩa, Lễ .v.v.
Mạnh Tử đã thần bí hóa những giá trị chính trị - đạo đức đến mức coi chúng là tiên
thiên, bẩm sinh. Do quan niệm tính thiện nên Nho gia (dòng Khổng - Mạnh) đề cao
sự giáo dục con người để con người trở về đường thiện với những chuẩn mực đạo
đức có sẵn.
Đối lập với Mạnh Tử coi tính người là Thiện, Tuân Tử lại coi bản tính con người
vốn là ác (Nhân chi sơ, tính bản ác). Mặc dù vậy, nhưng có thể giáo hóa trở thành
thiện (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí....). Xuất phát từ quan niệm đó về tính người, Tuân Tử
chủ trương đường lối trị nước kết hợp giữa Nho gia và Pháp gia.
Người sáng lập ra Nho gia là Khổng Tử (551 - 479 tr.CN)
Trong quan niệm về thế giới, tư tưởng của Khổng Tử luôn có những mâu thuẫn.
Một mặt, khi chống lại chủ nghĩa thần bí, tôn giáo đương thời, ông thừa nhận sự
vật, hiện tượng trong tự nhiên luôn luôn tự vận động,biến hóa không phụ thuộc vào

nội dung khác nhau. “Sửa mình theo lẽ là nhân”, “ Điều gì mình không muốn, đừng
đem nó làm cho người khác là nhân”, “yêu thương người là nhân”...Tư tưởng bao
trùm của Nhân là yêu thương con người, là đạo làm người.
Để điều nhân có thể thực hiện được thì phải bằng “lễ”. Lễ ở Khổng Tử là những
phong tục, tập quán, những quy tắc, quy định trật tự xã hội và cả thể chế pháp luật
Nhà nước như: sinh, tử, tang, hôn tế lễ, triều sính, luật lệ, hình pháp...Lễ được coi
là hình thức biểu hiện của nhân. Mặc dù kiên trì bảo vệ lễ của nhà Chu , nhưng
Khổng Tử cũng đưa thêm những nội dung mới và phát triển nó lên, biến lễ thành
một phạm trù có ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc.
Mục đích của Khổng Tử là xây dựng một xã hội có tôn ty trật tự, kỷ cương. Để làm
đươc điều đó cần phải có “lễ” và “chính danh”. “Chính danh là làm mọi việc cho
ngay thẳng”(Luận ngữ, Nhan Uyên ); “Chính danh thì người nào có địa vị, bổn
phận chính đángcủa người ấy, trên dưới, vua tôi, cha con trật tự phân minh, vua lấy
lễ mà khiến tôi, tôi lấy trung mà thờ vua”(Luận ngữ, Bát Dật, 19)...Theo Khổng Tử,
muốn trị nước trước tiên phải sửa mình cho chính danh, vì “danh không chính thì
lời nói không thuận; lời nói không thuận thì sự việc không thành công; sự việc
không thành công thì lễ nhạc không hưng thịnh; lễ nhạc không hưng thịnh thì hình
phạt không đúng; hình phạt không đúng thì dân không biết theo ai?” (Luận ngữ, Tử
Lộ, 3). Xuất phát từ tình hình loạn lạc của xã hội Trung Hoa thời Xuân Thu, Khổng
Tử đã nêu lên thuyết “chính danh”, nhưng trên thực tế, học thuyết này mang tính
bảo thủ, bảo vệ cho lợi ích của quý tộc nhà Chu.
Để thực hiện mục đích của mình, Khổng Tử chống việc duy trì ngôi vua theo huyết
thống và chủ trương “thượng hiền”, dùng người không phân biệt đẳng cấp xuất
thân của họ. Trong việc chính trị, vua phải biết “trọng dụng người hiền đức, tài cán
và rộng lượng với những kẻ cộng sự” (Luận ngữ, Tử Lộ). Việc ông mở trường dạy
học chính là nhằm mục đích đào tạo ra những người có tài, đức tham gia vào công
cuộc cai trị.
Toàn bộ học thuyết về nhân, lễ, chính danh... của Khổng Tử là nhằm phục vụ mục
đích chính trị là “Đức trị”. Ông phản đối việc dùng hình phạt để trị dân vì làm như
vậy, dân sợ mà phải theo chứ không phục. Theo ông, làm chính trị mà dùng đức

chủ yếu qua Đạo đức kinh và Nam hoa kinh.
Tư tưởng cốt lõi của Đạo gia là học thuyết về "Đạo" với những tư tưởng biện
chứng, cùng với học thuyết "Vô vi" về lĩnh vực chính trị - xã hội.
Về bản thể luận, tư tưởng về Đạo là nội dung cốt lõi trong bản thể luận của Đạo
gia. Phạm trù Đạo bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- "Đạo" là bản nguyên của vạn vật. Tất cả từ Đạo mà sinh ra và trở về với cội
nguồn của Đạo.
- "Đạo" là cái vô hình, hiện hữu là cái "có"; song Đạo và hiện hữu không thể tách
rời nhau. Trái lại, Đạo là cái bản chất, hiện hữu là cái biểu hiện của Đạo. Bởi vậy,
có thể nói: Đạo là nguyên lý thống nhất của mọi tồn tại.
"Đạo" là nguyên lý vận hành của mọi hiện hữu. Nguyên lý ấy là "đạo pháp tự
nhiên".
Chính trong quan niệm về "Đạo" đã thể hiện một trình độ tư duy khái quát cao về
những vấn đề bản nguyên thế giới, nhìn nhận thế giới trong tính chỉnh thể thống
nhất của nó.
Quan niệm về tính biện chứng của thế giới không tách rời những quan niệm về
"Đạo", trong đó bao hàm những tư tưởng chủ yếu sau:
Mọi hiện hữu đều biến dịch theo nguyên tắc "bình quân" và "phản phục" (cân bằng
và quay trở lại cái ban đầu).
- Các mặt đối lập trong thể thống nhất, quy định lẫn nhau, là điều kiện tồn tại của
nhau, trong cái này đã có cái kia.
Do nhấn mạnh nguyên tắc "bình quân" và "phản phục" trong biến dịch nên Đạo gia
không nhấn mạnh tư tưởng đấu tranh với tư cách là phương thức giải quyết mâu
thuẫn nhằm thực hiện sự phát triển; trái lại, đã đề cao tư tưởng điều hòa mâu thuẫn,
coi đó là trạng thái lý tưởng. Bởi vậy triết học Đạo gia không bao hàm tư tưởng về
sự phát triển.
Học thuyết chính trị - xã hội với cốt lõi là luận điểm "Vô vi". Vô vi không phải là
cái thụ động, bất động hay không hành động mà có nghĩa là hành động theo bản
tính tự nhiên của "Đạo".
c. Mặc gia

của Đạo trong mỗi sự vật cụ thể và là cái luôn luôn biến hóa và phát triển. Từ đó,
ông yêu cầu mọi hành động của con người không chỉ dựa trên quy luật khách quan,
mà còn phải thay đổi theo sự biến hóa của "Lý", chống thái độ cố chấp và bảo thủ.
+ Về lịch sử:
Ông thừa nhận sự biến đổi của đời sống xã hội, khẳng định rằng không thể có chế
độ xã hội nào là không thay đổi. Do đó không thể có khuôn mẫu chung cho mọi xã
hội. Ông đã phân chia sự tiến triển của xã hội làm 3 giai đoạn chính, mỗi giai đoạn
đó xã hội có những đặc điểm và tập quán riêng ứng với trình độ nhất định của sản
xuất và văn minh. Đó là:
- Thời Thượng cổ: Con người biết lấy cây làm nhà và phát minh ra lửa để nấu chín
thức ăn.
- Thời Trung cổ: Con người đã biết trị thủy, khắc phục thiên tai.
- Thời Cận cổ: Bắt đầu xuất hiện giai cấp và xảy ra các cuộc chinh phạt lẫn nhau.
Động lực căn bản của sự thay đổi xã hội được ông quy về sự thay đổi của dân số và
của cải xã hội.
+ Về thuyết "Tính người":
Ông theo quan niệm của Tuân Tử coi tính người là ác, đưa ra học thuyết luân lý cá
nhân vị lợi, luôn có xu hướng lợi mình hại người, tránh hại cầu lợi...Kẻ thống trị
phải nương theo tâm lý vị lợi của con người để đặt ra pháp luật, trọng thưởng,
nghiêm phạt để duy trì trật tự xã hội.
+ Tư tưởng về pháp trị.
Trên cơ sở những luận điểm triết học cơ bản ấy, Hàn Phi Tử đã đề ra học thuyết
Pháp trị, nhấn mạnh sự cần thiết phải cai trị xã hội bằng luật pháp. Ông cũng phản
đối thuyết nhân trị, đức trị của Nho giáo, phép "vô vi trị" của Đạo gia. Phép trị
quốc của Hàn Phi Tử bao gồm 3 yếu tố tổng hợp là pháp, thế và thuật, trong đó
pháp là nội dung của chính sách cai trị, thế và thuật là phương tiện để thực hiện
chính sách đó.
- "Pháp" là một phạm trù của triết học Trung Hoa cổ đại. Theo nghĩa hẹp, là quy
định, luật lệ có tính chất khuôn mẫu mà mọi người trong xã hội phải tuân thủ; theo
nghĩa rộng, pháp được coi là một thể chế, chế độ chính trị và xã hội. Vì vậy, pháp

Y học :
Từ thời Chiến Quốc các thầy thuốc Trung Hoa đã biết giải phẫu cơ thể người biết
nội tạng và bộ máy tuần hoàn của người; chuẩn đoán bệnh qua bắt mạch; châm
cứu, sắc thuốc để chữa bệnh. Đặc biệt, thời kì này đã xuất hiện nhiều cuốn sách có
tính chất tổng kết về Y học và dược học, như: “ Hoàng đế nội kinh”, “ Sơn hải
kinh”…
Ngoài các lĩnh vực khoa học trên, những tri thức về toán học, lý học, nông học,
sinh vật học cũng đạt tới trình độ cao.
* Thời trung đại
+ Bốn phát minh lớn
Giấy: do Do Thái Luân phát minh ra vào thời Đông Hán ( thế kỉ VIII SCN )
Đến thời Đường, kĩ thuật làm giấy đã hoàn chỉnh: pha thêm hồ bột với nhựa cây,
tạo ra giấy chắc hơn và dễ thấm mực. Giấy làm được nhiều màu khác nhau (trong
khi đến thế kỉ 13 ở châu Âu vẫn viết trên da cừu).
Nghề in
Bắt nguồn từ thói quen kí tên bằng con dấu
Lúc đầu là in chữ liền: khắc chữ lên bảng gỗ, cứ một bảng là một tờ giấy nên rất
tốn kém
Thời Tống chuyển sang kĩ thuật in chữ, khắc trên đất sét rồi đem nung ( trong khi
châu Âu đến thế kỉ 15 kĩ thuật in chữ mới ra đời)
Kĩ thuật in này có hạn chế là chữ xấu, không rõ màu. Kĩ thuật này sau đó được
truyền bá sang Triều Tiên. Người triều đã cải tiến, thay chữ rời bằng đất sét nung
rồi đến chữ rời bằng đồng. Thứ chữ này lại được truyền bá trở lại Trung Hoa.
La Bàn
Có từ rất sớm, khoảng thời Tây Chu
Thời Chiến quốc ( cuối thời Đông Chu), Người Trung Hoa đã tìm ra nam châm ( từ
thạch). Cửa ra vào của cung A Phòng của Tần Thủy Hoàng có gắn một thanh nam
châm rất lớn, ai mang vũ khí đi qua sẽ bị hút lại )
Đến thời Đường thì La bàn đã khá hoàn chỉnh ( phát hiện ra thêm tính chất sắt
nhiễm từ).

Trung Hoa vốn có nhiều hiểu biết từ rất sớm. Từ thời Tần Hán, người Trung Hoa
đã phát minh ra nông lịch, tức là chia một năm thành 24 tiết để căn cứ vào đó nông
dân biết các thời vụ sản xúât. Đồng thời phép làm lịch ngày càng tiến bộ , do vậy từ
thời Tây Hán về sau, các triều đại đã nhiều lần điều chỉnh lịch, nên ngày một chính
xác.
Nhà Thiên văn học nổi tiếng thời Đông Hán là Truơng Hành (78- 139). Ông đã biết
ánh sang của mặt trăng là nhận từ mặt trời. Ông cho rằng thiên thể hình cầu như vỏ
trứng mà quả đất thì như lòng đỏ, một vòng của bầu trời là 365◦ ¼ một nửa ở trên
quả đất, một nửa ở dưới quả đất. Căn cứ theo suy nghĩ ấy của mình, ông làm một
mô hình thiên thể gọi là “ hồn thiên nghi ”. Khi mô hình này chuyển động thì các vì
sao trên đó cũng di chuyển giống như tình hình thực ngoài bầu trời.
Trương Hành còn có nhiều hiểu biết về địa lí- địa chất học. Ông chế được một
dụng cụ đo động đất gọi là “ địa động nghi”, có thể đo một cách chính xác phương
hướng của động đất.
*Y dược
Từ thời Hán đã xuất hiện nhiều thầy thuốc giỏi và nhiều sách thuốc. Thương hàn
luận nói về cách chữa bệnh thương hàn của Trương Trọng Cảnh cho đến nay vẫn là
liệu tham khảo có giá trị trong ngành đông y của Trung Hoa. Thầy thuốc nổi tiếng
nhất cuối thời Đông Hán là Hoa Đào ông là người đầu tiên ở Trung Hoa đã biết
dung phẫu thuật để chữa bệnh. Ông còn chủ chương phải luyện tập than thể cho
huyết mạnh được lưu thong và chính ông đã soạn ra bài thể dục “ ngũ cầm hí” tức
là động tác bắt trước năm loài động vật là Hổ, Hươu, Gấu, Vượn và Chim
Đến thời Minh nhà Y học nổi tiếng là Lý Thời Trân. Tác phẩm Bản thảo cương
mục của ông là một quyển sách thuốc rất có giá trị tác phẩm giới thiệu 1.558 vị
thuốc do người đời trước tìm ra, và them vào 374 viên thuốc mới. Tác giả đã phan
loại một cách khoa học, đặt tên, giới thiệu tính chất, công dụng và vẽ hình các cây
thuốc đó. Vì thế, sách này không chỉ là một tác phẩm dược học có giá trị mà còn là
một tác phẩm thực vật học quan trọng. Sự ra đời của quyển Bản thảo cương mục đã
đẩy ngành y dược của Trung Hoa phát triển trên một bước rất lớn
.1.2.6. Về nghệ thuật.

thập tam lăng có nhiều kiến trúc như nhà thờ nhà để bia.
* Điêu khắc
Nghệ thuật điêu khắc Trung Hoa gắn bó chặt chẽ với tập tục tôn giáo. Về chất liệu
phần lớn các tác phẩm điêu khắc Trung Hoa tạc bằng đá hoa cương. Nhiều bức bộ
tượng nhỏ được tìm thấy trong bức tượng người chết đời Đường. Nhiều di tích điêu
khắc phật giáo cổ được giữ gìn trong các đền thờ trong hang đá. Tìm thấy các bức
tượng Phật tạc trên đá tảng. Khác với phật của Ấn Độ siêu thoát khỏi trần tục, Phật
của Trung Hoa người hơn trần thế hơn.
Ở Trung Hoa cũng phân thành các ngành riêng như: Ngọc điêu, thạch điêu, mộc
điêu. Những tác phẩm nổi tiếng như cặp tượng Tần ngẫu đời Tần, tượng Lạc sơn
đại Phật đời Tây Hán ( pho tượng cao nhất thế giới ), tượng Phật nghìn mắt nghìn
tay.
1.2.6.2. Hội hoạ
Hội hoạ Trung Hoa có lịch sử 5000 - 6000 năm với các loại hình: bạch hoạ, bản
hoạ, bích hoạ. Đặc biệt là nghệ thuật vẽ tranh thuỷ mạc, có ảnh hưởng nhiều tới các
nước ở Châu Á. Cuốn Lục pháp luận của Tạ Hách đã tổng kết những kinh nghiệm
hội hoạ từ đời Hán đến đời Tuỳ.
Các hang đá còn lưu lại những hình vẽ trên vách về chủ đề các lời răn của phật.
Bức hoạ Trung Hoa đặc sắc với các gam màu vàng tranh
Chương 2: Những ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa đến thế giới, chủ yếu ở
Đông Bắc Á và Việt Nam.
2.1. Ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa đối với thế giới
Trong suốt 3500 phát triển, nền văn hóa vĩ đại của Trung Hoa đã có nhiều lần vượt
lên trên nền văn hóa các nước khác. Chính người Trung Hoa đã cống hiến cho nhân
loại cách sản xuất ra giấy, kĩ thuật in ấn, chế ra thuốc nổ và la bàn. Xuyên suốt lịch
sử phát triển văn hóa Trung Hoa là khát vọng trường kì hoàn thiện tư duy của nhân
loại. Nhà nước xuất hiện sớm cùng với những thành tựu lớn lao của nền văn hóa,
văn hóa Trung Hoa thời cổ trung đại đã làm cho Trung Hoa trở thành một trung
tâm văn hóa quan trọng trên thế giới, có ảnh hưởng rất lớn đến khu vực Đông Bắc
Á và Đông Nam Á (Việt Nam)Từ cuối thế kỉ XII đến thế kỉ XIII La bàn được

triển của châu Âu.
Ở Đức, trào lưu lấy “tôn giáo triết học” thay thế tôn giáo thần học cũng chịu ảnh
hưởng của văn hoá Trung Hoa.
2.2. Ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa đối với Đông Bắc Á và Việt Nam
2.2.1.Ảnh hưởng của chữ viết
2.2.1.1. Đối với Việt Nam
Có nhiều tác giả cho rằng chữ Hán du nhập vào Việt Nam khoảng thế kỉ thứ I TCN,
ngay sau khi Trung Hoa chiếm xong Việt Nam. Trong suốt một nghìn năm, từ thế
kỷ thứ I TCN đến năm 938, tiếng việt bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi chữ Hán (hay còn
gọi là chữ Nho). Trong suốt thời gian bắc thuộc với chính sách hán hóa của nhà
hán, tiếng Hán đã được giảng dạy ở Việt Nam và người Việt Nam đã chấp nhận
ngôn ngữ mới đó song song với ngôn ngữ tiếng Việt.
Việt Nam trước khi chữ Hán du nhập một số học giả cho rằng người Việt cho chữ
viết kiểu nút gọi là “chữ khoa đậu”. Theo các nhà nghiên cứu thì không phải người
Việt dùng kiểu thắt nút để trị quốc như các nhà sử học của Trung Hoa mà người
Việt có văn tự riêng của mình; bằng chứng là các văn tự được tìm thấy ở các văn
bia miền núi phía bắc có chữ viết ngoằn ngoèo như lửa nên goi là chứ Hỏa tự. Tiến
việt cổ đại cũng là một ngôn ngữ thuộc họ Mường- Khmer của Nam Á, khác hẳn
với hệ ngôn ngữ của tiếng Hán. Nhiều tác giả cho rằng chữ Hán du nhập vào Việt
Nam vào khoảng thế kỷ I TCN, ngay sau khi Trung Hoa chiếm xong Việt Nam.
Tuy người Việt Nam tiếp thu tiếng Hán và chữ Hán nhưng cũng đã Việt hóa nhiều
từ của tiếng Hán thành từ Hán - Việt. Từ đó đã có nhiều từ Hán – Việt đi vào trong
từ vựng của tiếng Việt. Sự phát triển của tiếng hán của Việt Nam trong thời kỳ bắc
thuộc song song với sự phát triển của tiếng Hán ở chính Trung Hoa thời đó. Tuy
nhiên, năm 938, sau chiến thắng Bạch Đằng củn Ngô Quyền, Việt Nam đã độc lập
và không phụ thuộc vào phương Bắc nữa, nhưng ngôn ngữ vẫn còn ảnh hưởng
nặng nề của tiếng Hán. Sau ngày giành được độc lập, mặc dù tiếng Hán là ngôn
ngữ được sử dụng chính thức nhưng đã phát triển theo hướng khác với sự phát triển
tiếng Hán ở Trung Hoa. Tiếng Hán vẫn tiếp tục được dùng và phát triển nhưng
cách phát âm các chữ Hán lại theo cách phát âm của người Việt, hay âm Hán –

2.2.1.3. Đối với Nhật Bản
Chữ Hán du nhập vào Nhật Bản thông qua con đường Triều Tiên được gọi là Kanji
và được du nhập vào Nhật theo con đường giao lưu buôn bán giữa Nhật Bản và
Triều Tiên vào khoảng thế kỷ IV, V. Tiếng Nhật cổ đại vốn không có chữ viết, nên
khi chữ Hán du nhập vào Nhật người Nhật dùng chữ Hán để viết tiềng nói của họ.
Dạng chữ đầu tiên của người Nhật sáng tạo từ chữ Hán để viết tiếng Nhật là chữ
Man – yogana. Hệ thống chữ viết này khá phức tạp. Man – yogana được đơn giản
hóa thành Hiragana và Katahana. Cả hai loại chữ này trải qua nhiều chỉnh lí và
hoàn thiện mới trở thành chữ viết ngày nay của Nhật. Tiếng Nhật hiện đại được
viết bằng bốn loại kí tự chữ hán (Kanji) chữ mềm (Hiragana) chữ cứng (Katakara)
chữ Latinh (hay Rômaji).
Chữ Hán trong tiếng Nhật thường có ít nhất hai cách đọc, cách đọc theo âm hán cổ,
được gọi là On – yomi và cách đọc theo âm tiếng Nhật được gọi là Kun – yomi.
Trong quá trình phát triển chữ viết cho tiếng Nhật, người Nhật còn sáng tạo ra một
số chữ ( khoảng vài trăm chữ ) và mỗi chữ này chỉ có một cách đọc theo âm tiếng
Nhật; các chữ này được gọi là Kôkuji.
Tháng 11 năm 1946, Bộ Giáo Dục Nhật đã đề nghị đưa vào giảng dạy 1850 chữ
Hán cơ bản trong trường học và được Quốc Hội thông qua năm 1947. Đến năm
1981 thì lượng chữ Hán thông dụng được điều chỉnh lại gồm 1945 chữ thường
dùng, khoảng 300 chữ thông dụng khác, dùng để viết tên người. Đến năm 2000,
các chữ Hán dùng đẻ viết tên người được điều chỉnh thêm, số lượng tăng lên 400
chữ các chữ Hán này được lập thành bảng gọi là Bảng chữ Hán thường dùng và
Bảng chữ Hán dùng để viết tên người.
2.2.2. Ảnh hưởng của Văn học
2.2.2.1. Đối với Triều Tiên
Cũng như chữ viết văn học Triền Tiên chịu ảnh hưởng trực tiếp từ văn học Trung
Hoa song không vì thế mà nó bị xem là “ một phụ lục của văn hoc Trung Hoa”.
Ngược lại người Triều Tiên đã tạo ra một nền văn học phong phú, đa dạng mang
phong cách rất riêng và “đáng để các đất nước trong vùng Đông Á nể trọng”.
+ Tiếp biến về mặt hình thức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status