Luận văn: KHẢO SÁT NHANH CÁC LOẠI HÌNH CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH VÀ SẢN PHẨM GIAO DỊCH MỚI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM potx - Pdf 12


KHẢO SÁT NHANH CÁC LOẠI HÌNH CHỨNG
KHOÁN PHÁI SINH VÀ SẢN PHẨM GIAO DỊCH
MỚI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM

Báo cáo chuyên đề số 3/2011 27/6/ 2011
Phòng Phân tích và Dự báo thị trường
Trung tâm NCKH-ĐTCK (UBCKNN) 2
NỘI DUNG
1. Khảo sát nhanh các loại hình CKPS và sản phẩm giao dịch mới 3
2. Các ý kiến từ các bên liên quan 16
3. Các biện pháp quản lý 18
4. Kết luận 19
1.1 Các loại hình CKPS
Thứ nhất, hợp đồng quyền chọn (Options)
Tại Việt Nam, hợp đồng quyền chọn mới chỉ được đưa vào thực hiện thử nghiệm cho
các giao dịch tiền tệ. Tuy nhiên, việc thử nghiệm này đã tạm thời dừng lại từ cuối tháng
9/2009. Cho đến nay, vẫn chưa có những văn bản chính thức cho phép và hướng dẫn thực
hiện nghiệp vụ quyền chọn trên bất kỳ thị trường nào.
4

Giai đoạn cuối năm 2010, trên TTCK nổi lên một sự kiện liên quan tới hoạt động giao
dịch quyền chọn là việc CTCK Vndirect (VNDS) đưa vào thực hiện sản phẩm quyền chọn
với mục đích tăng thêm cơ hội kinh doanh thông qua việc giúp nhà đầu tư có thể giao dịch
quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán cổ phiếu tùy theo xu hướng biến động của giá thị
trường cổ phiếu trên TTCK chính thức. Nếu dự đoán giá cổ phiếu xuống, nhà đầu tư mua
quyền chọn bán cổ phiếu với giá đã xác định trước (gọi là giá thực hiện) và trả phí cho
CTCK. Từ khi mua quyền chọn bán đến khi đáo hạn, nếu thấy giá cổ phiếu giảm xuống dưới
mức giá đã thỏa thuận trong hợp đồng thì nhà đầu tư có quyền mua cổ phiếu đó trên thị
trường bán cho CTCK với mức giá đã quy định trong hợp đồng. Ngược lại, nếu dự đoán cổ
phiếu lên thì nhà đầu tư mua quyền chọn mua cổ phiếu ở mức giá thực hiện và trả phí cho
CTCK. Trong khoảng thời gian mua quyền chọn tính đến khi đáo hạn, nếu thấy giá cổ phiếu
ngoài thị trường tăng, nhà đầu tư có quyền yêu cầu CTCK phải bán cho mình cổ phiếu đó với
mức giá đã quy định.
Hộp 1: Định nghĩa về quyền chọn
Hợp đồng quyền chọn (option): Là quyền mua hoặc bán tài sản theo mức giá thoả thuận trước. Nếu
quyền không được thực hiện trong thời gian đã ấn định trước hoặc tại một thời điểm đã ấn định trước
thì quyền này hết hiệu lực và người sở hữu quyền sẽ bị mất số tiền mua quyền.
Quyền chọn mua (call option): Mang đến cho người mua quyền được mua 100 cổ phần của loại
chứng khoán cơ sở với mức giá ấn định trước trong một khoảng thời gian xác định trong tương lai,
thường là ba, sáu hoặc chín tháng. Đối với loại quyền này, người mua phải trả cho người bán (call
option seller/writer) một khoản phí mua quyền (premium) và sẽ phải chịu mất khoản tiền này nếu
không thực hiện quyền trước thời điểm hết hạn đã thoả thuận. Chính vì vậy, người mua hợp đồng


Trong trường hợp VNDS, danh mục cổ phiếu được VNDS sử dụng cho dịch vụ quyền
chọn bao gồm khoảng 20 cổ phiếu có tính thanh khoản cao trên cả hai sàn giao dịch. Thời
gian tối thiểu cho một hợp đồng là 1 tháng và tối đa là 3 tháng. Mức phí khi ký hợp đồng sẽ
được VNDS thu trước là 7%/giá trị hợp đồng/tháng hoặc 10 - 12%/3 tháng (tùy mã cổ phiếu).
Hợp đồng quyền chọn có khối lượng tối thiểu là 10.000 CP trở lên.
Ví dụ, nhà đầu tư chọn mã chứng khoán là X với giá chốt ở thời điểm chọn là 20.000
VND/1 cổ phiếu. Nếu nhà đầu tư dự báo sau 01 tháng giá cổ phiếu này sẽ giảm xuống thì ký
hợp đồng mua quyền chọn bán X với mức phí phải trả cho VNDS là 7% x 20.000 x 10.000 =
14 triệu VND. Đến ngày thực hiện hợp đồng, nếu giá giao dịch thực tế của X đạt 15.000
6

VND/CP thì nhà đầu tư sẽ thu được lợi nhuận được 5.000 VND/1 cổ phiếu, tương đương
mức lời 50 triệu VND. Nếu như trừ phí đã trả cho VNDS, phí giao dịch và thuế thu nhập cá
nhân thì thực tế nhà đầu tư có lợi nhuận khoảng hơn 30 triệu VND. Trong trường hợp giá cổ
phiếu tăng lên so với giá chốt trên hợp đồng thì nhà đầu tư có quyền bỏ không thực hiệp hợp
đồng và mất khoản phí 7% đã đóng trước cho VNDS. Ngược lại, nếu nhà đầu tư dự báo cổ
phiếu X sẽ tăng lên cao hơn sau 1 tháng thì mua quyền chọn mua. Cách giao dịch đến ngày
thực hiện cũng tương tự như mua quyền chọn bán.
Để hợp pháp hóa hoạt động này VNDS đã hình thành các bản “Hợp đồng hợp tác đầu
tư”. Tuy nhiên, có thể thấy bản chất của các thỏa thuận này không khác so với các thỏa thuận
cơ bản của một hợp đồng quyền chọn. Nói cách khác, những “Hợp đồng hợp tác đầu tư” như
trên đã bao hàm những đặc trưng đầy đủ của “hợp đồng quyền chọn”; trong khi đó, chưa có
văn bản pháp quy nào quy định về quyền chọn. Vì vậy, sau một thời gian ngắn thực hiện

hóa và giá trị giao dịch lớn. Tỷ lệ % của các blue-chip này sẽ được tính theo công thức toán
học nhằm giúp cho sản phẩm VTG-VN-Index đạt được tỷ suất lợi nhuận và độ rủi ro bằng
với Index. Khi nhà đầu tư muốn thanh lý hợp đồng, sau 3 ngày (T+3) sẽ nhận được số tiền là
Số đơn vị nhân với chỉ số Vn-Index đóng cửa nhân với 10.000 đ; 3) Sản phẩm loại bỏ
được những rủi ro cục bộ (rủi ro không hệ thống): rủi ro cục bộ là những rủi ro do ngành/
công ty gây ra khi nhà đầu tư đầu tư vào một hoặc một số cổ phiếu. Rủi ro này làm cho tỷ
suất lợi nhuận của cổ phiếu cao thấp thất thường, khó quản lý. Sản phẩm VTG-Index theo sát
chỉ số của thị trường nên loại bỏ được những rủi ro nêu trên; và 4) Có cơ chế hỗ trợ chuyển
nhượng sản phẩm giữa các nhà đầu tư, giúp các nhà đầu tư có thể nhận ngay tiền mặt sau khi
chuyển nhượng (T+0).
Hộp 2: Định nghĩa về hợp đồng tương lai chỉ số
Hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu (stock index futures): Là một loại chứng khoán kết hợp các
đặc tính của hợp đồng tương lai hàng hóa thông thường và giao dịch chứng khoán có sử dụng những
chỉ số cổ phiếu tổng hợp. Nhà đầu tư có thể đầu cơ trên biến động của thị trường hoặc mua một hợp
đồng tương lai chỉ số để phòng hộ cho một vị thế mua (long position) bởi vì rõ ràng không thể chuyển
giao chỉ số cổ phiếu cho những người mua hợp đồng tương lai. Những hợp đồng tương lai phổ biến
nhất được giao dịch điện tử là E-mini S&P 500 và Nasdaq 100, hoặc Dow Jones tổng hợp. Cũng có
thể mua quyền chọn trên hợp đồng tương lai chỉ số chứng khoán.
Nguồn: Barron’s financial studies, Từ điển thuật ngữ tài chính và đầu tư (trang 678)
Hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu (stock index futures contract): Là một hợp đồng được chuẩn
hóa giữa hai bên mà theo đó một bên (người bán) đồng ý giao cho bên kia (người mua) tại một thời
điểm trong tương lai (ngày đáo hạn, hoặc ngày giao hàng) một khối lượng cố định (quy mô hợp đồng)
của một chỉ số cổ phiếu với mức giá đã thỏa thuận (giá hợp đồng tương lai) sẽ được thanh toán vào
ngày đáo hạn (nhưng được thiết lập từ ngày hai bên tham gia vào hợp đồng).
Nguồn: Giáo trình CIIA phần CKPS, Azek (Thụy Sỹ).
8

Về mặt lý thuyết, hợp đồng tương lai là một hợp đồng được chuẩn hóa để giao dịch
mua hay bán một số lượng hàng hóa nhất định tại một mức giá nhất định vào một ngày xác
định trong tương lai. Đến ngày giao hàng, hàng sẽ được chuyển từ người bán cho người mua


Trên thị trường phi chính thức, bên các hai loại CKPS đã được các trung gian tài
chính thực hiện còn phải kể tới các sản phẩm có tính chất như chứng khoán phái sinh (đều
trao cho người nắm giữ quyền hoặc nghĩa vụ mua hoặc bán một loại chứng khoán trong
tương lai) đó là: Thỏa thuận mua lại (Repo), giao dịch ký quỹ (Margin), bán khống (Short
sales)
Thứ nhất, thỏa thuận mua lại (Repo)
Trên TTCK Việt Nam, hoạt động Repo chứng khoán bắt đầu phát triển vào năm
2006-2007. Tuy nhiên, trước bối cảnh khó khăn của TTCK Việt Nam, sự giảm điểm liên tục
của VN-Index trong nửa cuối năm 2008 và nửa đầu năm 2009 đã khiến hoạt động Repo giảm
sút và ngưng trệ.
1

Giai đoạn hiện tại khi TTCK tự do OTC đang ở giai đoạn trầm lặng thì Repo đang nổi
lên như một cơ chế linh hoạt để tăng tính thanh khoản cho cổ phiếu. “…cuối năm 2010 giới
đầu tư Hà Nội rộ lên việc tìm mua cổ phiếu CTCP Đầu tư phát triển đa quốc gia (IDI), sau
khi có thông tin công ty này sẽ chào sàn trong quý III trên HoSE, với giá 36.000 VND/1 cổ
phiếu. Trên thị trường, giá cổ phiếu này giao dịch ở mức 23.000 VND/1 cổ phiếu, được repo
với giá 13.000 VND/1 cổ phiếu. Cổ phiếu CTCP Bất động sản Eximbank giao dịch ở mức
15.000 VND/1 cổ phiếu, được repo với giá 12.000 VND/1 cổ phiếu. Cổ phiếu CTCP Đầu tư
PVIF giao dịch ở mức 14.300 VND/1 cổ phiếu, được repo với giá 10.000 VND/1 cổ phiếu.
Trước khi niêm yết, cổ phiếu QCG của CTCP Quốc Cường Gia Lai được CTCK VNDirect
repo với mức giá khá cao. Khi đó, giá cổ phiếu này giao dịch trên thị trường tự do ở mức
50.000 VND/1 cổ phiếu thì nhà đầu tư chỉ phải bỏ ra 15.000 VND/CP để mua, vì được
CTCK hỗ trợ vốn 35.000 VND/1 cổ phiếu”
2
.
Hỗ trợ cho nghiệp vụ repo cổ phiếu OTC thường là các CTCK có được sự hậu thuẫn
từ phía các ngân hàng lớn như CTCK Sài Gòn - Hà Nội (SHS), CTCK An Bình, CTCK
Sacombank (SBS), CTCK Sài Gòn (SSI)… Tùy mỗi CTCK, nhưng tiêu chí hàng đầu cho

Trên thị trường thế giới, một loại hình giao dịch cũng khá gần với giao dịch repo là
giao dịch Bán/Mua lại. Đây là hình thức kết hợp giữa một giao dịch bán ngay và một giao
dịch mua lại có kỳ hạn (trong tương lai) đối với một chứng khoán. Động lực chủ yếu của giao
dịch Bán/Mua lại nhìn chung giống như với hình thức repo truyền thống, tức là cố gắng kiếm
lợi nhuận từ lãi suất phải trả thấp hơn áp dụng cho các khoản thế chấp so với đi vay mà
không có đảm bảo. Tính kinh tế của giao dịch này cũng tương tự như với repo truyền thống
bởi vì lãi suất tính trên khoản tiền vay thông qua giao dịch bán/mua lại được mặc định đã bao
gồm trong chênh lệch giữa giá bán ra và giá mua lại.
Tuy nhiên, có một số khác nhau giữa repo và giao dịch bán/mua lại. Một repo về mặt
kỹ thuật là một giao dịch đơn nhất trong khi giao dịch bán/mua lại là một cặp gồm hai giao
dịch (giao dịch bán/giao dịch mua). Hơn nữa, một giao dịch bán/mua lại không đòi hỏi bất kỳ
văn bản pháp lý đặc biệt nào trong khi repo nhìn chung cần có một thỏa thuận khung giữa hai
bên. Thanh toán lãi coupon của trái phiếu trong một giao dịch bán/mua lại cũng được chuyển
lại người bán chứng khoán dưới hình thức điều chỉnh khoản tiền phải trả khi giao dịch đáo
hạn. Trong khi đó, khoản coupon này sẽ được chuyển trả lại ngay cho người bán chứng
khoán trong giao dịch repo.
Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, có nhiều công ty chứng khoán đã thực hiện
loại hình giao dịch repo với nhà đầu tư với những cách giải thích không thống nhất và cách
hiểu khác nhau về điều kiện hợp đồng. Tuy nhiên về bản chất, có thể nhận thấy đây là giao
dịch cho vay tiền thông qua hợp đồng mua bán kỳ hạn cổ phiếu. Phương thức thực hiện có
một số điểm chung như sau:
11

- Hai bên hợp đồng là nhà đầu tư và CTCK . Nhà đầu tư ký hợp đồng mua bán có kỳ hạn với
một CTCK với điều khoản bán cổ phiếu cho CTCK theo giá thỏa thuận, thông thường từ 30-
65% so với giá thị trường của cổ phiếu.
- Khi đến hạn, nhà đầu tư mua lại số cổ phiếu này với giá bằng giá bán đã cộng với một khoản
phí gọi là “lãi suất repo” tính trên tổng giá trị khoản mua bán và thông thường tương đương
với lãi suất cho vay của ngân hàng (có công ty tính với một cách khác là giá mua lại với giá
cao hơn giá bán ban đầu: và chênh lệch giữa hai giá này được coi là lãi suất repo)

Thực tế trên giấy tờ, các gói sản phẩm giao dịch ký quỹ được thể hiện như một dịch vụ
tư vấn đầu tư, hợp tác giữa hai bên CTCK và nhà đầu tư theo một danh mục cổ phiếu quy
định, với tỷ lệ đòn bẩy phổ biến từ 50:50 đến 20:80 thậm chí còn cao hơn, tùy theo loại cổ
phiếu và khả năng của CTCK. Tuy nhiên về bản chất, CTCK đang cung cấp tín dụng cho nhà
đầu tư đòn bẩy tài chính và được hưởng lãi suất
5
.
Khảo sát trên các website của các CTCK hiện nay (đặc biệt là các CTCK nằm trong top
10 của hai SGDCK quí I/2011) có thể thấy khá nhiều các công ty thực hiện hoạt động giao
dịch ký quỹ như: CTCK Bảo Việt (BVSC), CTCK Ngân hàng Đông Á (DAS), CTCK
(FPTS), CTCK Sài Gòn (SSI), CTCK Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (SBS), CTCK Thăng
Long (TLS), CTCK VNDirect (VNDS), CTCK VNS (VNS)…
Tuy nhiên, thực tế cho thấy bên cạnh lợi nhuận ban đầu thu được từ hoạt động giao dịch
ký quỹ, nhiều CTCK đã gặp phải những thất bại do chưa có một khung pháp lý hoàn thiện
dẫn đến những mâu thuẫn pháp lý với nhà đầu tư. Đồng thời, việc cho phép nhà đầu tư ký
quỹ với một khối lượng tiền lớn mà không có hoạt động quản trị rủi ro đã dẫn đến sự thua lỗ
nặng nề cho các bên tham gia.
Hiện tượng này có thể được minh họa điển hình qua vụ việc về giao dịch cổ phiếu của
CTCP nhựa An Phát (AAA) niêm yết trên HNX. “Cổ phiếu AAA đã tăng mạnh từ mức giá
47.000 VND/CP ngày 19/8/2010 lên mức cao nhất là 91.600 VND/CP (bình quân) ngày
16/09/2010 với thanh khoản tốt, trong bối cảnh TTCK chỉ dao động rất hẹp. Khoảng 4,4 triệu
CP được giao dịch trong khoảng giá trên 90.000 VND. Tuy nhiên, sau 5 ngày giao dịch, giá
AAA đã giảm về mức 63.400 VND (bình quân) tính đến hết ngày 24/09/2010, với khối lượng
đặt mua khiêm tốn và dư bán lên tới hàng triệu CP”
6
. Có nhiều giả thiết giải thích cho hiện
tượng bất thường trong giao dịch CP AAA, nhưng có một nhận định hợp lý cho rằng đã có sự
làm giá cổ phiếu này của một nhóm nhà đầu tư. Lợi dụng việc được ưu đãi trong hoạt động
ký quỹ tại một số CTCK, nhóm nhà đầu tư này đã liên kết với nhau thực hiện việc “làm giá”
cổ phiếu AAA, sau đó sử dụng vốn ký quỹ từ các CTCK để mua ở giá cao. Sau cùng, sau khi

giao dịch xuống rất thấp. Đối với các nhà đầu tư, do thị trường giảm sâu, cùng với lãi suất đối
với lĩnh vực phi sản xuất tăng lên sẽ khiến nhiều NĐT bán ra để trả nợ gốc và lãi cho các
NHTM. Vì không có dòng tiền mới vào thị trường nên bất chấp giá đã giảm mạnh, khối
lượng giao dịch vẫn ở mức rất thấp. Nhiều tài khoản vô chủ xuất hiện để mặc cho CTCK tự
xử lý. Đây là lý do khiến cho không ít công ty chứng khoán đang ở bên bờ vực đổ vỡ tài
chính.
Thực tiễn thị trường các nước cho thấy, việc
, tạo tính thanh khoản
cho thị trường. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế vĩ mô và thị trường Việt Nam như hiện nay,
hình thức đầu tư này có độ rủi ro cao, càng sử dụng margin nhiều thì số tiền thua lỗ càng
nhanh. Do chưa có quy định cụ thể, nên nhiều khoản vay không được thể hiện trên sổ sách kế
toán như bản chất của nó, mà nằm ở khoản phải thu hay tài khoản tự doanh tùy thuộc cách
ghi nhận của CTCK
8
. CTCK không thể thu hồi lại khoản hỗ trợ tài chính do đó phải tiến hành
khoanh nợ cho NĐT. Nhiều công ty không thể xử lý vì nếu xử lý sẽ phải hạch toán tổn thất
này thì kết quả kinh doanh sẽ xấu đi, chưa kể phải xử lý trách nhiệm người bảo lãnh, của

7

8

14

nhân viên môi giới, điều này dẫn đến sự thiếu minh bạch trong các CTCK, gây khó khăn cho
việc quản lý của các cơ quan quản lý.
Ngày 1/06/2011, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 74 về hướng dẫn giao dịch
chứng khoán, trong đó có việc cho phép NĐT mở một tài khoản tại mỗi công ty chứng khoán,
được cùng mua và bán cổ phiếu trong cùng ngày giao dịch, được thực hiện nghiệp vụ ký quỹ
(margin) và giao cho UBCKNN hướng dẫn thực hiện nghiệp vụ này. Nhìn chung sau khi

29/10/2010
15

Ví dụ 3: Danh sách và khối lượng CP nhà đầu tư có thể vay của một CTCK

Khối lượng (CP)

Khối lượng (CP)
HLG
99,490
V15
70,600
TBC
97,330
CCM
37,400
SRC
91,220
DPM
35,000
DAC
88,500
VCS
31,800 TLH
22,240
Nguồn: Nguyễn Quang, “Lách luật lập chợ đen tín dụng chứng khoán”, Báo đầu tư chứng
khoán, số 130 ngày 29/10/2010


định rõ ràng về hành vi “bán khống” của cơ quan quản lý là cần thiết, bởi vì thực tiễn trên thị
trường các nước cho thấy, việc cho vay chứng khoán để bán hoặc bán trước ngày chứng
khoán về tài khoản trên thị trường hiện nay đã chính là hoạt động bán khống.
2. Các ý kiến từ các bên liên quan
2.1 Ý kiến của nhà đầu tư
Các ý kiến của nhà đầu tư trên các phương tiên thông tin như báo chí, Internet rất đa
dạng, song về cơ bản đều tập trung vào việc ủng hộ việc cho phép thực hiện các giao dịch về
CKPS và các sản phẩm giao dịch mới.
Hương Giang – Hà Nội: Hy vọng, quy định về bán khống cũng như đầu mối kết nối
nhu cầu vay mượn cổ phiếu nêu trên sớm ra đời để các cổ phiếu "nhàn rỗi" tạo thêm thu nhập
cho người sở hữu bằng cách cho vay để hưởng phí. Còn nhà đầu tư có công cụ để giảm thiểu
rủi ro, nhà đầu tư ít vốn có thể vay cổ phiếu để kinh doanh và kiếm lời ngay cả trong trường
hợp thị trường đi xuống. TTCK khi đó cũng sẽ sôi động hơn, một số "cổ phiếu hiếm" (số
lượng được phép lưu hành ít) thanh khoản hơn, diễn biến giá cả hợp lý hơn khi có thêm cổ
phiếu được đưa vào giao dịch, tạo sự cân bằng về cung cầu.
Nguyễn Văn Nam – Tp. Hồ Chí Minh: Nhu cầu đầu tư cổ phiếu trong ngắn hạn rất lớn
và đa dạng, nếu các công ty chứng khóan thực hiện được nghiệp vụ bán khống chứng khóan
thì góp phần tạo thêm lợi nhuận của công ty và thanh khỏan cho TTCK.
Hoàng Xuân Quyến – Hà Nội: Giao dịch ký quỹ đang là nhu cầu chính đáng và bức
thiết của đa số các nhà đầu tư, của các công ty môi giới chứng khoán, ngân hàng thương mại
và cũng là đòi hỏi chính đáng để thị trường phát triển.
Vũ Quý Hưng – Hà Nội: bản thân các hình thức CKPS không có lỗi gì mà nó là một
công cụ hết sức hữu hiệu để mọi nhà quản lý có thể quản lý được rủi ro về giá trong quá trình
kinh doanh tại thị trường tương lai. Nếu chỉ kinh doanh trên thị trường truyền thống như hiện
nay thì không thể nào hạn chế được rủi ro vì giá cả thay đổi hàng giờ, hàng ngày. Rất tiếc các
cơ quan chức năng không làm rõ ưu điểm nổi bật này và cũng chưa chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể
bằng văn bản để mọi người đều thấy tham gia sàn phải như thế nào và làm sao có được lợi
ích thiết thực cho mọi người, chứ không biến sàn trở thành một sòng bạc hay dùng các mánh
khoé để lừa nhau.

Ông Bùi Nguyên Hoàn, Trưởng đại diện UBCKNN tại Tp. HCM: “Cần cho phép giao
dịch bán khống hạn chế và mua bảo chứng hạn chế. Tuy nhiên, hai hình thức giao dịch này
không thể thực hiện tràn lan, mà các CTCK phải chọn lựa khách hàng để thực hiện giao
dịch”
14
.
Ông Nguyễn Thanh Kỳ, Tổng thư ký Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán: “Với các sản
phẩm phái sinh, nhà đầu tư có thể linh hoạt và năng động hơn trong việc lựa chọn các công
cụ để tham gia thị trường. Chẳng hạn trong thời gian vừa qua, khi thị trường trồi sụt thất

11
Diễn đàn chứng khoán, “Đừng chần chừ với sản phẩm mới”, Báo đầu tư chứng khoán số 87(871) ngày
21/7/2010
12
Diễn đàn chứng khoán, “Đừng chần chừ với sản phẩm mới”, Báo đầu tư chứng khoán số 87(871) ngày
21/7/2010
13
Diễn đàn chứng khoán, “Đừng chần chừ với sản phẩm mới”, Báo đầu tư chứng khoán số 87(871) ngày
21/7/2010
14
Diễn đàn chứng khoán, “Đừng chần chừ với sản phẩm mới”, Báo đầu tư chứng khoán 87(871) ngày
21/7/2010
18

thường, nếu các nghiệp vụ này được áp dụng thì có thể các nhà đầu tư có được những quyết
định hợp lý hơn, bám sát theo những biến động của TTCK”.
15

3. Các biện pháp quản lý
Trước thực tiễn giao dịch công cụ CKPS và sản phẩm giao dịch mới của các trung

19

Ngày 22/07/2010, TTLK đã có công văn cảnh cáo CTCK dầu khí (PVS) do vi phạm
quy định thanh toán bù trừ. Cụ thể ngày 14/7/2010, PVS đặt lệnh bán chứng khoán cho khách
hàng nhưng thiếu đến 47.200 cổ phiếu PGS (CTCP kinh doanh khí hóa lỏng miền Nam).
TTLK đã gửi thông báo về các tài khoản đặt bán vượt quá số dư chứng khoán sở hữu nhưng
đến ngày thanh toán vẫn không nhận được phản hồi từ PVS. Vì vậy, TTLK đã thực hiện hủy
thanh toán bán thiếu chứng khoán nói trên. TTLK yêu cầu PVS rà soát lại quy trình kiểm soát
nội bộ, tránh lặp lại tình trạng cho khách hàng bán khống chứng khoán.
Ngày 1/06/2011, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 74 về hướng dẫn giao dịch
chứng khoán, trong đó có việc cho phép NĐT mở một tài khoản tại mỗi công ty chứng khoán,
được cùng mua và bán cổ phiếu trong cùng ngày giao dịch, được thực hiện nghiệp vụ ký quỹ
và giao cho UBCKNN hướng dẫn thực hiện nghiệp vụ này.
4. Kết luận
Từ thực tiễn phát triển của thị trường CKPS trên thế giới có thể khẳng định công cụ
phía sinh là một sản phẩm tài chính tất yếu trong tiến trình phát triển của thị trường tài chính.
Với một TTCK đang ở giai đoạn đầu phát triển như Việt Nam, trước sự biến động tương đối
mạnh theo các thái cực nóng và lạnh, việc thiếu vắng các công cụ phòng ngừa rủi ro tương lai
từ CKPS là một trong những nhân tố dẫn đến sự bất ổn trên thị trường về dài hạn.
Khảo sát nhanh của Phòng PTDB cho thấy trên thị trường, nhu cầu đối với các sản
phẩm CKPS đã xuất hiện. Tuy nhiên, những vấn đề phát sinh từ hoạt động này cũng chỉ ra
rằng, nếu để thị trường phát triển tự phát, thiếu khung pháp lý điều chỉnh và không có sự
giám sát nghiêm ngặt của các cơ quan quản lý nhà nước sẽ dẫn đến rủi ro cho các chủ thể
tham gia (nhà đầu tư, CTCK) và có thể ảnh hưởng đến toàn bộ TTCK (gồm cả TTCK cơ sở)
nếu xảy ra sự đổ vỡ mang tính hệ thống.
Các cơ quan quản lý nên cho phép thực hiện thí điểm hoạt động giao dịch các sản
phẩm CKPS và bắt đầu từ những công cụ đơn giản, đặc biệt là những loại hình đã và đang
được các thành viên triển khai áp dụng trên thực tế. Đồng thời, do tính chất đầu cơ cao của
các công cụ phái sinh, nên công tác tuyên truyền, đào tạo nhà đầu tư và thị trường là vô cùng
quan trọng nhằm phổ biến những ý nghĩa tích cực của TTCK phái sinh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status