Luận văn: Tăng cường huy động vốn TDNN cho NSNN và cho ĐTPT qua việc phát hành TPCP - Pdf 12

Luận văn
Tăng cường huy động vốn
TDNN cho NSNN và cho
ĐTPT qua việc phát hành
TPCP 1
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TDNN VÀ TPCP
5
1.1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TDNN 5
1.1.1. Khái niệm về TDNN 5
1.1.2. Bản chất của TDNN 6
1.1.3. Đặc điểm của TDNN 6
1.1.4. Chức năng của TDNN 8
1.2 – TPCP - CÔNG CỤ HUY ĐỘNG VỐN TDNN CHO NSNN VÀ CHO ĐTPT 10
1.2.1. Khái niệm về TPCP 10
1.2.2. Phân loại TPCP 10
1.2.3. Các yếu tố cơ bản của TPCP 14
1.2.4. Các phương thức phát hành TPCP để huy động vốn cho NSNN và cho
ĐTPT 15

CHO NSNN VÀ ĐTPT GIAI ĐOẠN 2001 - 2010 55
3.2 – GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN TDNN CHO NSNN VÀ
ĐTPT QUA VIỆC PHÁT HÀNH TPCP TRONG GIAI ĐOẠN TỚI 56
3.2.1 – Đa dạng hóa TPCP phát hành 57
3.2.1 –Tiêu chuẩn hóa TPCP phát hành 58
3.2.3 – Xây dựng lãi suất TPCP phù hợp với nguyên tắc thò trường 59
3.2.4 – Củng cố và hoàn thiện các phương thức phát hành TPCP 60
3.2.5 – Phát triển thò trường thứ cấp TPCP 63
3.2.6 – Cải tiến công tác kế hoạch hoá phát hành TPCP 66
3.2.7 – Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác phát hành, quản lý và
thanh toán TPCP 66
3.2.8 – Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và đẩy
mạnh tuyên truyền về TPCP và thò trường TPCP 67
3.2.9 – Tạo lập môi trường kinh tế vó mô ổn đònh 68
3.2.10 – Hoàn thiện khung pháp lý phát hành TPCP để huy động vốn cho
NSNN và cho ĐTPT 69
KẾT LUẬN 71
PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Để bù đắp thiếu hụt NSNN và bổ sung nguồn vốn cho ĐTPT nhằm thúc đẩy
nhanh quá trình phát triển kinh tế - xã hội, Nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ
và giải pháp khác nhau như : tăng thuế, phát hành tiền hoặc vay nợ, trong đó huy
động vốn TDNN dưới hình thức phát hành TPCP là một giải pháp tài chính quan

Xuất phát từ lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Tăng cường huy động vốn
TDNN cho NSNN và cho ĐTPT qua việc phát hành TPCP”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận về TDNN và TPCP, tham khảo kinh
nghiệm phát hành TPCP của một số nước trên thế giới để từ đó áp dụng vào thực
tiễn công tác phát hành TPCP của nước ta. Nghiên cứu thực trạng phát hành TPCP
ở nước ta trong thời gian qua, đánh giá những thành tựu đã đạt được và những tồn
tại, hạn chế qua đó đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường công tác huy động
vốn TDNN cho NSNN và cho ĐTPT qua việc phát hành TPCP ở Việt Nam trong
những năm sắp đến.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là TPCP trong việc huy động vốn TDNN
cho NSNN và cho ĐTPT.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là thực trạng huy động vốn TDNN cho
NSNN và cho ĐTPT qua việc phát hành TPCP giai đoạn 1991 - 2004 và những giải
pháp chủ yếu nhằm tăng cường và hoàn thiện công tác phát hành TPCP huy động
vốn cho NSNN và cho ĐTPT trong giai đoạn tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như : phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lòch sử của chủ nghóa Mác - Lê nin, kết hợp với các phương pháp
truyền thống như phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kế, phương pháp so
sánh và phân tích…
5. Kết cấu nội dung của luận văn
Nội dung của luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận, gồm 3 chương :
Chương 1 : Một số vấn đề lý luận về TDNN và TPCP
Chương 2 : Thực trạng huy động vốn TDNN cho NSNN và cho ĐTPT qua
việc phát hành TPCP giai đoạn 1991 - 2004
Chương 3 : Giải pháp tăng cường huy động vốn TDNN cho NSNN và cho
ĐTPT qua việc phát hành TPCP trong giai đoạn tới


trong quan hệ đối ngoại giữa Chính phủ nước này với nước khác hoặc với các tổ
chức tiền tệ - tín dụng quốc tế. Như vậy, TDNN là một phạm trù kinh tế gắn liền
với chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, phản ảnh mối quan hệ tín dụng trong đó
Nhà nước là người đi vay để đảm bảo các khoản chi tiêu của NSNN, đồng thời là

6
người cho vay để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình trong quản lý kinh
tế - xã hội và phát triển quan hệ đối ngoại.
1.1.2. Bản chất của TDNN

Hình thức biểu hiển bên ngoài của TDNN là sự vay mượn tạm thời một vật
hoặc một số vốn tiền tệ, nhưng bản chất bên trong chứa đựng mối quan hệ kinh tế
giữa người cho vay và người đi vay thông qua sự vận động giá trò vốn tín dụng được
phân phối tạm thời từ người cho vay sang người đi vay.
Bản chất của TDNN, một mặt cũng có đặc trưng là sự hoàn trả và có lợi tức
giống như bản chất của tín dụng nói chung. Mặt khác, nó còn có những đặc trưng
khác đó là tính nghóa vụ, chính trò, xã hội. Những đặc trưng này xuất phát từ quyền
lực chính trò, từ những chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong quản lý kinh tế -
xã hội và quan hệ đối ngoại. Ngoài ra bản chất của TDNN còn phụ thuộc và
chuyển biến theo sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội và gắn liền với
bản chất của Nhà nước. Bản chất TDNN trong thời kỳ nô lệ, phong kiến mang tính
cưỡng chế, bất bình đẳng giữa Nhà nước và các chủ thể khác. Bản chất TDNN thời
kỳ Tư bản chủ nghóa khởi đầu chú trọng sự tự nguyện và tính lợi ích kinh tế, có ý
nghóa tích cực hơn. Bản chất TDNN trong thời đại ngày nay vừa kế thừa những mặt
tích cực của giai đoạn TDNN thời kỳ đầu Tư bản chủ nghóa, vừa được mở rộng
nhiều mối quan hệ kinh tế - chính trò - xã hội trong nước và quốc tế, thể hiện rỏ nét
bản chất của Nhà nước hiện đại.

Tính chính trò của TDNN thể hiện lòng tin của nhân dân đối với Chính phủ,
thể hiện trách nhiệm của Chính phủ đối với nhân dân qua việc cho dân vay ưu đãi;
thể hiện mối quan hệ chính trò, ngoại giao giữa Chính phủ các nước với các tổ chức
tài chính - tiền tệ thế giới qua việc ký kết các hiệp đònh vay nợ và phát hành TPCP
ra nước ngoài.
TDNN mang tính nghóa vụ bắt buộc khi Nhà nước có thể huy động vốn trong
nước bằng cách phát hành các loại công trái phiếu mang tính nghóa vụ, bắt buộc;
yếu tố lợi ích kinh tế trong trường hợp này chỉ là yếu tố phụ.
- Phạm vi huy động vốn của TDNN rộng lớn, cả trong nước lẫn nước ngoài
Trong nước, TDNN huy động vốn tạm thời nhàn rổi của mọi tầng lớp dân cư,
các tổ chức đoàn thể xã hội, các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, các tổ chức tài
chính trung gian… thông qua các hình thức phát hành công trái, các loại tín phiếu,
TPCP.
Ở nước ngoài, việc huy động vốn được thông qua vay vốn ODA và phát
hành trái phiếu quốc tế của Chính phủ ra nước ngoài.
- Đối tượng huy động vốn của TDNN phong phú, hình thức huy động vốn đa
dạng

8
TDNN có thể huy động vốn bằng tiền, vàng, ngoại tệ, hiện vật dưới nhiều
hình thức khác nhau như: công trái, TPCP vô danh, ký danh; bằng chứng chỉ hoặc
ghi sổ; có thể thanh toán từng lần hoặc một lần khi đến hạn; có thể thanh toán ở nơi
phát hành hoặc trong phạm vi cả nước… điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho các đối
tượng dễ dàng tiếp cận giao dòch với TDNN, giúp cho Nhà nước có thể huy động
vốn nhanh chóng và chủ động đảm bảo các khoản chi tiêu từ nguồn vốn TDNN.
- Lợi ích kinh tế của TDNN chứa đựng nhiều nội dung khác nhau một cách
trực tiếp hoặc gián tiếp

- Chức năng tập trung và phân phối lại các nguồn lực tài chính trong xã
hội dựa trên nguyên tắc có hoàn trả
Thông qua TDNN, Nhà nước có thể huy động mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong
cũng như ngoài nước, đồng thời phân phối lại một phần nguồn lực của xã hội nhằm
thoả mãn nhu cầu ĐTPT hoặc tiêu dùng. Khác với cấp phát không hoàn lại của
NSNN, chức năng phân phối của TDNN là phân phối có hoàn lại. Nhà nước sử
dụng TDNN như là một biện pháp hỗ trợ tài chính của Nhà nước cho các mục tiêu,
chương trình dự án được Nhà nước phê duyệt; là một giải pháp cung cấp, hổ trợ
vốn cho các chủ thể nhằm thoả mãn nhu cầu đầu tư hoặc tiêu dùng của họ; tạo điều
kiện thúc đẩy lưu thông hàng hoá phát triển, mở rộng và phát triển sản xuất, tạo
công ăn việc làm và thúc đẩy hiệu quả sử dụng vốn. Mặt khác, TDNN là biện pháp
để Nhà nước tổ chức quản lý, sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước một cách có hiệu
quả nhất, từ đó là đòn bẩy kinh tế quan trọng để điều tiết tỷ lệ giữa tích lũy và tiêu
dùng.
- Chức năng kiểm tra, kiểm soát tài chính, các hoạt động kinh tế
Trong quan hệ tín dụng người cho vay vốn không chỉ quan tâm đến lợi ích do
việc cho vay vốn mang lại, mà còn quan tâm đến việc ngăn ngừa rủi ro, mất vốn.
Do đó, mà người cho vay phải kiểm tra việc sử dụng vốn vay của người đi vay, vì
vậy, kiểm tra là một trong những chức năng quan trọng của tín dụng.
Đối với TDNN, với vai trò là người đi vay ở phạm vi trong nước, chức năng
kiểm tra của TDNN thể hiện qua sự tín nhiệm của người dân đối với Chính phủ.
Nhưng đối với việc vay nợ nước ngoài, Chính phủ phải chòu sự kiểm tra nhiều mặt
của các tổ chức tài trợ về việc sử dụng vốn vay nợ nước ngoài. Với vai trò là người
cho vay, ở phạm vi trong nước, chức năng kiểm tra của TDNN được thực hiện
trước, trong và sau quá trình phát sinh quan hệ tín dụng như : thẩm đònh dự án vay
vốn, kiểm tra việc thế chấp tài sản, bảo lãnh tín chấp, kiểm tra việc sử dụng vốn
vay… Trong phạm vi đối ngoại, chức năng kiểm tra được thực hiện qua việc đàm
phán, tìm hiểu nhau giữa các đối tác, kiểm tra các dự án tiền khả thi, bảo lãnh vốn
vay, tư vấn tài trợ, kiểm tra việc sử dụng vốn vay ODA…
Mặt khác với chức năng tổ chức và quản lý nền kinh tế, Nhà nước sử dụng

+ Tín phiếu kho bạc
Là loại TPCP có kỳ hạn dưới1 năm, mục đích của việc phát hành là huy
động vốn để bù đắp thiếu hụt tạm thời NSNN và nhằm phát triển thò trường tiền tệ.
Tín phiếu kho bạc được phát hành theo phương thức đấu thầu qua NHNN, khối
lượng và lãi suất tín phiếu Kho bạc được hình thành qua kết quả đấu thầu. Tín
phiếu Kho bạc được NSTW đảm bảo nguồn thanh toán gốc và lãi. Tín phiếu kho
bạc được giao dòch trên thò trường tiền tệ hoặc được chiết khấu tại Sở giao dòch của
NHNN, là loại trái phiếu có tính thanh khoản cao nhất trong tất cả các loại TPCP. 11
+ Trái phiếu kho bạc
Là loại TPCP có kỳ hạn từ 1 năm trở lên để huy động vốn bù đắp thiếu hụt
của NSNN hằng năm đã được Quốc hội phê chuẩn. Trái phiếu kho bạc được bán lẻ
qua hệ thống KBNN hoặc đấu thầu qua thò trường giao dòch chứng khoán, bảo lãnh
phát hành và đại lý phát hành. Trái phiếu kho bạc được đảm bảo thanh toán (cả
gốc và lãi) bởi NSTW, vì vậy có độ rủi ro không đáng kể.

+ Trái phiếu công trình
Là loại TPCP có kỳ hạn từ 1 năm trở lên nhằm huy động vốn theo quyết
đònh của Thủ tướng Chính phủ cho các dự án thuộc nguồn vốn đầu tư của NSNN đã
ghi trong kế hoạch nhưng chưa được bố trí vốn ngân sách trong năm. Trái phiếu
công trình được phát hành theo phương thức bán lẻ qua hệ thống KBNN, đấu thầu
hoặc bảo lãnh phát hành. NSNN (NSTW đối với công trình trung ương, NSĐP đối
với công trình đòa phương) đảm bảo việc thanh toán gốc, lãi và phí cho trái phiếu
công trình.
+ Trái phiếu đầu tư

+ Trái phiếu ngắn hạn
Trái phiếu ngắn hạn là loại trái phiếu có thời hạn dưới 1 năm. Trái phiếu
ngắn hạn được phát hành nhằm huy động vốn để phục vụ nhu cầu chi tiêu thường
xuyên trong năm tài chính của Chính phủ. Trái phiếu ngắn hạn được coi là không
có rủi ro và tính thanh khoản khá cao, nên được công chúng ưa thích, các tổ chức
tài chính cũng thích mua loại trái phiếu này khi có vốn tạm thời nhàn rổi.
+ Trái phiếu trung hạn
Trái phiếu trung hạn là loại trái phiếu có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Đây
là loại trái phiếu có tỷ lệ phát hành khá cao trong các loại TPCP. Trái phiếu trung
hạn thường trả lãi 6 tháng một lần (một năm 2 kỳ). Trái phiếu trung hạn được phát
hành nhằm mục đích bù đắp thiếu hụt cho NSNN và cho đầu tư các công trình cơ sở
hạ tầng kinh tế - xã hội.
+ Trái phiếu dài hạn
Trái phiếu dài hạn là loại trái phiếu để giải quyết nhu cầu vốn đầu tư dài
hạn của Nhà nước. Trái phiếu dài hạn thông thường có thời hạn từ 10 đến 20 năm.
Các loại trái phiếu này phát hành rất mạnh ở những nước có thò trường chứng
khoán phát triển như Mỹ, Nhật và các nước Tây Âu. Về nguyên tắc, trái phiếu có
thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao. Người đầu tư có thể thu hồi vốn trước hạn
thông qua thò trường chứng khoán. Những nước chưa có thò trường thứ cấp phát
triển, tức là chưa tạo ra khả năng thanh khoản dễ dàng cho vốn đầu tư trái phiếu,
thì người đầu tư không thích đầu tư vào loại trái phiếu này.

13
- Phân loại theo lợi tức trái phiếu
+ Trái phiếu có lãi suất cố đònh
Trái phiếu có lãi suất cố đònh là loại trái phiếu mà lợi tức được xác đònh theo
một tỷ lệ % cố đònh theo mệnh giá trong suốt thời hạn của trái phiếu.

ngoài để huy động vốn bằng ngoại tệ.
Ngoài các cách phân loại như đã nêu trên, người ta còn có nhiều cách phân
loại khác nhau như: phân loại theo mức độ rủi ro tín dụng, theo tính chất của trái
phiếu…
1.2.3. Các yếu tố cơ bản của TPCP
Có nhiều loại trái phiếu khác nhau, nhưng tất cả các loại trái phiếu đều có
chung những đặc điểm cơ bản sau đây

- Mệnh giá của trái phiếu
Mệnh giá của trái phiếu hay còn gọi là giá trò danh nghóa của trái phiếu, là
giá trò được ghi trên trái phiếu; giá trò này được coi là số vốn gốc. Mệnh giá trái
phiếu là căn cứ để xác đònh số lợi tức tiền vay mà người phát hành phải trả cho
người sở hữu trái phiếu. Mệnh giá trái phiếu cũng thể hiện số tiền người phát hành
phải hoàn trả khi trái phiếu đến hạn thanh toán.
- Lãi suất danh nghóa
Là lãi suất được ghi trên tờ trái phiếu hoặc được người phát hành công bố,
lãi suất này được xác đònh theo tỷ lệ % so với mệnh giá của trái phiếu và cũng là
một căn cứ để xác đònh lợi tức của trái phiếu. Lãi suất trái phiếu là một trong
những yếu tố cơ bản nhất của trái phiếu, do vậy nó có ảnh hưởng nhiều đến giá của
trái phiếu. Lãi suất trái phiếu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời hạn của trái
phiếu, chỉ số lạm phát, cung cầu trái phiếu và những biến động khác của thò trường.
- Thời hạn của trái phiếu
Là khoảng thời gian từ ngày phát hành đến ngày người phát hành hoàn trả
tiền vốn lần cuối. Ngày mà khoản vốn gốc của trái phiếu được thanh toán lần cuối
được gọi là ngày đáo hạn. Có nhiều cách phân loại kỳ hạn trái phiếu khác nhau,
trên thực tế người ta thường phân ra các loại kỳ hạn sau: Trái phiếu ngắn hạn (có
kỳ hạn dưới 1 năm), trái phiếu trung hạn (có kỳ hạn từ 1 năm đến 5 năm), trái
phiếu dài hạn (có kỳ hạn từ 5 năm trở lên).
- Kỳ trả lãi
Là khoảng thời gian người phát hành trả lãi cho người nắm giữ trái phiếu.

đòi hỏi phải có nhiều thanh viên thường xuyên tham gia đấu thầu, khi đó lãi suất
trúng thầu mới phản ảnh đúng lãi suất thò trường thông qua cạnh tranh lành mạnh.
+ Phương thức đấu thầu kiểu Hà Lan:
Khối lượng và lãi suất trái phiếu trúng thầu theo phương thức này cũng được
xác đònh như phương thức đấu thầu kiểu Mỹ. Tuy nhiên khác với kiểu Mỹ, các đơn
vò trúng thầu (từ mức lãi suất cut - off trở xuống) được hưởng mức lãi suất như
nhau, với mức lãi suất trúng thầu cao nhất. Phương thức này có ưu điểm khuyến

16
khích các đơn vò tham gia đấu thầu, vì tuy đặt thầu với mức lãi suất thấp nhưng vẫn
có thể trúng thầu với mức lãi cao hơn. Tuy nhiên, so với phương thức đấu thầu kiểu
Mỹ, thì chi phí huy động vốn cao hơn do lãi suất trúng thầu là lãi suất cao nhất; kết
quả đấu thầu không phản ảnh sát nhu cầu của thò trường, vì các đơn vò có thể đặt
thầu với giá mua cao (lãi suất thấp) nhưng cuối cùng thì được mua trái phiếu với
giá thấp (lãi suất cao).
Hiện nay, việc tổ chức đấu thầu TPCP ở Việt Nam áp dụng cách xét thầu
theo phương thức kiểu Hà Lan, dưới 2 hình thức: cạnh tranh lãi suất và không cạnh
tranh lãi suất. Đấu thầu cạnh tranh lãi suất là việc các tổ chức tham gia đấu thầu
đưa ra các mức lãi suất dự thầu của mình để đơn vò tổ chức đấu thầu chọn ra mức
lãi suất trúng thầu. Đấu thầu không cạnh tranh lãi suất là việc các tổ chức tham gia
đấu thầu không đưa ra mức lãi suất dự thầu mà chỉ đăng ký khối lượng cần mua,
các tổ chức này mua trái phiếu theo mức lãi suất trúng thầu hình thành qua kết quả
đấu thầu cạnh tranh. Trong từng đợt phát hành, Bộ Tài chính có thể quy đònh hình
thức đấu thầu cạnh tranh hoặc kết hợp giữa cạnh tranh và không cạnh tranh lãi
suất, nghóa là lãi suất trái phiếu hình thành thông qua đấu thầu cạnh tranh đồng
thời là lãi suất trúng thầu chung cho cả đấu thầu cạnh tranh và không cạnh tranh lãi
suất, người đặt thầu không cạnh tranh sẽ được ưu tiên trúng thầu.

trong giá mua chứng khoán. Bảo lãnh cố gắng tối đa là sự bảo lãnh mà tổ chức bảo
lãnh hoạt động với tư cách là một đại diện bán tích cực, số chứng khoán còn lại
không bán được khi hết thời gian phát hành được trả lại cho tổ chức phát hành. Tổ
chức bảo lãnh được hưởng phí hoa hồng trên số trái phiếu đã được bán ra. Bảo lãnh
tất cả hoặc không là hình thức tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh phải bán
hết số chứng khoán, nếu không bán hết thì hủy bỏ toàn bộ số lượng đã phát hành.
Bảo lãnh tối thiểu - tối đa là phương thức bảo lãnh trung gian giữa bảo lãnh cố gắng
cao nhất và bảo lãnh tất cả hoặc không, theo phương thức này tổ chức bảo lãnh
phải bán tối thiểu một tỷ lệ nhất đònh chứng khoán phát hành. Nếu lượng chứng
khoán bán được thấp hơn tỷ lệ yêu cầu thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bò huỷ bỏ.
Hiện nay ở Việt Nam chỉ thực hiện một hình thức bảo lãnh duy nhất là bảo
lãnh chắc chắn. Vì vậy, nó có ưu thế là đảm bảo phân phối hết số TPCP dự kiến
phát hành, qua đó huy động được khối lượng vốn lớn trong thời gian ngắn; song tính
cạnh tranh không cao và các nhà bảo lãnh dể nhận biết được chủ trương khi Chính
phủ sử dụng công cụ TPCP để điều chỉnh cung cầu vốn đầu tư. Do đó, để thò trường
thứ cấp hoạt động tốt, các nhà bảo lãnh cần có cam kết hổ trợ sau khi phát hành
thông qua việc mua và bán các loại TPCP.
TPCP phát hành theo phương thức này có thời hạn từ 1 năm trở lên, theo
hình thức chiết khấu hoặc ngang mệnh giá dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi
sổ, đủ tiêu chuẩn niêm yết trên thò trường giao dòch chứng khoán tập trung; nhằm
mục đích tăng cường nguồn vốn trung và dài hạn cho NSNN và cho ĐTPT, đồng
thời bổ sung thêm hàng hoá cho thò trường chứng khoán.
- Phương thức đại lý phát hành

18
Là việc tổ chức phát hành sẽ uỷ thác cho một hoặc một số tổ chức làm đại lý
trái phiếu. Trường hợp, nếu bán không hết số lượng trái phiếu dự đònh phát hành

19
Mỗi một công cụ, giải pháp huy động vốn đều có ưu và nhược điểm riêng.
Vay nợ nước ngoài dưới hình thức ODA có ưu điểm là thời hạn vay dài, lãi suất
nhẹ; song có nhược điểm là phải phụ thuộc vào các điều kiện giải ngân của nhà
cung cấp tín dụng, nhiều khi các điều kiện này là hết sức ngặt nghèo. Vay nợ
thương mại nước ngoài có nhược điểm là thời hạn vay vốn ngắn và lãi suất cao, vì
các khoản vay thương mại phải chòu ảnh hưởng bởi các điều kiện của thò trường tài
chính quốc tế. So với các khoản vay thương mại, vay vốn dưới hình thức trái phiếu
ở thò trường tài chính trong nước có những ưu việt nhất đònh:
Một là, vay vốn dưới hình thức trái phiếu sẽ không bò rủi ro hay vỡ nợ trong
các điều kiện thông thường vì Chính phủ có thể phát hành trái phiếu mới để thanh
toán nợ cũ; trường hợp không thể phát hành trái phiếu, Chính phủ có thể phát hành
tiền để trả nợ.
Hai là, TPCP là công cụ nợ được coi là không có độ rủi ro nên lãi suất trái
phiếu là thấp nhất. Điều đó cho thấy vay vốn dưới hình thức TPCP có chi phí thấp
hơn các khoản vay thương mại khác.
Ngoài mục đích huy động vốn để cân đối thu chi ngân sách, TPCP còn được
sử dụng để huy động vốn đầu tư trực tiếp cho các công trình, dự án quan trọng của
đất nước. Hầu hết Chính phủ các nước trên thế giới đều sử dụng TPCP để huy động
vốn cho NSNN và cho ĐTPT, coi đây là một công cụ quan trọng trong việc điều
hành chính sách tài khóa quốc gia.
- TPCP là công cụ điều tiết vó mô nền kinh tế
TPCP không chỉ là công cụ huy động vốn cho NSNN và cho ĐTPT, mà còn
là công cụ để Chính phủ điều tiết vó mô nền kinh tế thông qua hoạt động mua vào
bán ra TPCP trên thò trường.
Khối lượng TPCP phát hành là yếu tố cấu thành lượng tiền trong lưu thông,
do vậy phát hành TPCP có ảnh hưởng đến cung cầu tiền tệ của nền kinh tế. Với

phát hành TPCP, NSNN có thể đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Chính phủ, chấm dứt
việc phát hành tiền cho NSNN, góp phần ngăn chặn và kiểm chế lạm phát.
- TPCP góp phần thúc đẩy phát triển thò trường chứng khoán
Thông qua việc phát hành TPCP, Chính phủ thu hút được nguồn vốn nhàn
rổi trong xã hội để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của mình, đồng
thời góp phần thúc đẩy thò trường vốn và thò trường chứng khoán phát triển, cụ thể:
- TPCP cung cấp hàng hóa quan trọng cho TTCK nhất là trong giai đoạn đầu
mới đi vào hoạt động. Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, trong giai đoạn đầu
mới thành lập thò trường chứng khoán thì TPCP là hàng hoá chủ đạo của thò trường.
Do độ rủi ro của TPCP là thấp nhất nên nó là công cụ an toàn nhất cho các nhà đầu
tư trên TTCK. Cũng với đặc tính này, TPCP được coi là loại chứng khoán có lãi
suất chuẩn cho các công cụ nợ khác trên thò trường.

21
- Thông qua việc sử dụng công cụ lãi suất của TPCP, Nhà nước có thể điều
tiết và đònh hướng thò trường theo mục tiêu của mình, góp phần đònh hướng phát
triển và điều tiết thò trường chứng khoán.
- TPCP cung cấp hàng hoá cho thò trường chứng khoán, qua đó góp phần tạo
thói quen đầu tư, kinh doanh của các tầng lớp dân cư; thúc đẩy sự hình thành và
phát triển các đònh chế tài chính trung gian (các công ty Chứng khoán, các Quỹ đầu
tư…) với vai trò của nhà tạo lập thò trường.
Tóm lại sử dụng công cụ TPCP để huy động vốn bù đắp thiếu hụt NSNN và
bổ sung nguồn vốn cho ĐTPT đã khẳng đònh vai trò của TPCP trong quá trình phát
triển kinh tế. TPCP không chỉ đơn thuần là công cụ huy động vốn mà còn là công
cụ để điều tiết vó mô nền kinh tế, thực thi chính sách tiền tệ và góp phần thúc đẩy
sự phát triển của TTCK. Chính vì vậy huy động vốn thông qua việc phát hành
TPCP ngày càng được Chính phủ nhiều nước quan tâm, bởi những tác động tích cực

ngắn hạn, người đặt thầu nhận được trái phiếu theo mức lợi suất cao nhất của đấu
thầu cạnh tranh được chấp nhận. Các loại TPCP còn lại được áp dụng theo hình
thức đấu thầu nhiều giá, những người đặt thầu ở mức lợi suất thấp nhất sẽ nhận
được trái phiếu theo giá đặt thầu của họ, còn những người đặt thầu thành công ở
mức lợi suất cao hơn chỉ có được trái phiếu theo mức giá đặt thầu của họ cho đến
khi tổng giá trò chào bán được xác đònh.
- Thò trường TPCP thứ cấp: Ở Mỹ thò trường TPCP thứ cấp chính là thò trường
OTC, đó là nơi các nhà đầu tư và kinh doanh TPCP đặt mua và chào bán các loại
TPCP. Đặc điểm của thò trường này là có tính thanh khoản cao. Trên thò trường này
có một bộ phận TPCP được giao dòch trước khi Kho bạc phát hành, thò trường này
giao dòch cả tín phiếu kho bạc và trái phiếu coupon Chính phủ kể từ ngày được
công bố đấu thầu cho đến ngày phát hành và việc chuyển giao trái phiếu được diễn
ra vào ngày phát hành trái phiếu đó.
Các loại trái phiếu đòa phương được phát hành rộng rải, bởi việc huy động
nguồn vốn này có lãi suất thấp hơn đi vay các tổ chức khác do được miễn thuế thu
nhập. Trái phiếu đòa phương được giao dòch trên thò trường OTC, thông thường các
nhà đầu tư lớn, các NHTM là người nắm giữ loại trái phiếu này. Giao dòch trái
phiếu đòa phương không nhiều, do vậy việc xây dựng giá của nó trên thò trường thứ
cấp có thể gặp khó khăn, chênh lệch giữa giá mua và giá bán thường rất lớn.
1.3.2 Phát hành TPCP ở Nhật Bản
TPCP ở Nhật Bản phát hành chủ yếu tập trung vào các loại trái phiếu dài
hạn và siêu dài hạn. Ở Nhật Bản bên cạnh việc phát hành tín phiếu kho bạc, còn
có các loại kỳ phiếu kho bạc có coupon, kỳ phiếu kho bạc chiết khấu và trái phiếu
kho bạc dài hạn. TPCP được phát hành theo hai hình thức cơ bản là đấu thầu và
bảo lãnh phát hành. Đấu thầu TPCP được uỷ thác cho NHTW thực hiện theo hai
phương pháp đònh giá Hà Lan và Mỹ. Tổ hợp bảo lãnh trái phiếu bao gồm các ngân
hàng, các tổ chức tín dụng và tiết kiệm, các công ty tài chính và các đònh chế tài

sỡ hữu Nhà nước, trái phiếu của các đònh chế tài chính.
- Theo đánh giá của ADB - Government Bond Market Development in Asia
- năm 2001, thì đầu những năm 1990 Trung Quốc bắt đầu phát hành TPCP dưới
nhiều hình thức khác nhau; đến năm 1991 phát hành TPCP theo hình thức tổ hợp
bảo lãnh phát hành; đến năm 1994 áp dụng kết hợp hài hoà giữa hình thức bảo

24
lãnh phát hành với các hình thức truyền thống nhằm thoả mãn và đáp ứng nhu cầu
của người đầu tư trái phiếu. Trong năm 1998 quy mô thò trường trái phiếu Trung
Quốc là 776 tỷ USD, chiếm 30% GDP, trong đó TPCP chiếm khoảng 72%.
- Lãi suất của TPCP Trung Quốc được quy đònh bởi cơ quản lý, mặc dù trong
năm 1998 có cho phép thực hiện biên độ là 20% và được nâng lên 30% từ năm
1999. Trung Quốc mới áp dụng tự do hoá lãi suất đối với các khoản vay ngắn hạn,
còn trung hạn và dài hạn thì vẫn quy đònh tỷ lệ lãi suất cố đònh.
- Về thò trường sơ cấp: Tín phiếu kho bạc ngắn hạn được phát hành theo
phương thức chiết khấu; phương pháp phát hành truyền thống là đấu thầu qua hệ
thống điện tử kết nối giữa cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ với các nhà bán
buôn trái phiếu được chỉ đònh hoặc với các nhà tạo lập thò trường. Đối với phương
pháp bảo lãnh, việc bán trái phiếu cho các nhà đầu tư được thực hiện qua các tổ
chức bảo lãnh phát hành.
- Về thò trường thứ cấp: Thò trường thứ cấp ở Trung Quốc là thò trường OTC,
mọi giao dòch được thực hiện qua các nhà kinh doanh trái phiếu sơ cấp và các nhà
môi giới chứng khoán được cấp giấy phép. Ở Trung quốc chưa có một thò trường
thứ cấp thực sự, vì hầu hết các nhà đầu tư có khuynh hướng mua và giữ trái phiếu
cho đến khi tới hạn thanh toán. Nguyên nhân chủ yếu của việc thò trường thứ cấp
chưa phát triển ở Trung quốc là thiếu các yếu tố quan trọng đối với thò trường lãi
suất, hệ thống tài chính và hệ thống thanh toán bù trừ chưa phát triển.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status