Liên kết một số ngành kinh tế giữa ba tỉnh trung du miền núi phía Bắc Phú Thọ Yên Bái Lào Cai - Pdf 12

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
Lời nói đầu
Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới nói chung và mỗi địa
phương trong cả nước nói riêng đều có nguồn lực phát triển kinh tế- xã hội
nhất định. Do nguồn lực có hạn nên việc sử dụng hiệu quả nguồn lực đồng
thời phát huy lợi thế so sánh luôn là vấn đề nhận được sự quan tâm hàng
đầu ở mỗi quốc gia.
Nhận thấy được tầm quan trọng đó, Đảng, nhà nước và các cấp
chính quyền không ngừng đổi mới đường lối, chính sách nhằm phát triển
kinh tế- xã hội của vùng và cả nước. Trong đó, phát triển liên kết kinh tế
góp phần thúc đẩy phân công lao động xã hội giữa các vùng, các doanh
nghiệp trong nước và quốc tế, thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ, tập trung, xã
hội hoá sản xuất công nghiệp; huy động có hiệu quả nguồn lực của đất
nước vào phát triển kinh tế, thực hiện thành công công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
Liên kết kinh tế giữa các địa phương trong vùng là một bộ phận trong quá
trình liên kết kinh tế nói chung. Trong đó, các địa phương trong vùng sẽ
phối hợp xây dựng, rà soát, bổ sung quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội
vùng.
Là một sinh viên thực tập tại ban nghiên cứu phát triển vùng- Viện
chiến lược phát triển- Bộ kế hoạch đầu tư em lựa chọn đề tài " Liên kết một
số ngành kinh tế giữa ba tỉnh trung du miền núi phía Bắc: Phú Thọ; Yên
Bái; Lào Cai" làm đề tài cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
Chuyên đề gồm ba chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về liên kết kinh tế giữa các
địa phương trong vùng.
Chương II: Thực trạng liên kết kinh tế ở ba tỉnh: Phú Thọ, Yên Bái,
Lào Cai.
Chương III: Định hướng và giải pháp thực hiện liên kết kinh tế ở

tái sản xuất mở rộng, như khâu chuẩn bị các yếu tố cho sản xuất, sản xuất,
phục vụ cho sản xuất, nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, đào tạo,
bảo vệ tài nguyên môi trường, tổ chức khai thác thị trường, thúc đẩy qúa
trình lưu thông tiêu thụ sản phẩm...
Liên kết kinh tế có thể diễn ra trong một phạm vi không gian hẹp
như: liên kết kinh tế giữa các bên trong một khu công nghiệp, một địa
phương, vùng kinh tế. Nhưng cũng có thể diễn ra ở phạm vi không gian
2
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
rộng như: toàn quốc gia, giữa các quốc gia với nhau. Và hoạt động liên kết
kinh tế giữa các bên có thể thực hiện trong một thời gian ngắn là kết thúc
(Liên kết kinh tế theo từng vụ việc cụ thể) và có thể diễn ra một cách
thường xuyên, liên tục nhiều năm.
Liên kết kinh tế được thực hiện thông qua hình thức hợp đồng liên
kết kinh tế giữa các chủ thể kinh tế độc lập. Đồng thời quan hệ liên kết kinh
tế cũng có thể được thực hịên thông qua việc hình thành một loại hình tổ
chức mới, làm nhiệm vụ điều phối hoạt động của các bên tham gia. Liên
doanh là một biểu hiện cụ thể của hoạt động liên kết kinh tế.
Để nhận thức rõ bản chất của hoạt động liên kết kinh tế, cần chú ý
phân biệt giữa quan hệ liên kết kinh tế với các quan hệ kinh tế nói chung.
Mọi quan hệ liên kết kinh tế nói chung dều là những q4uan hệ kinh tế,
nhưng ngược lại thì không nhất thiết. Quan hệ kinh tế bao gồm tất cả các
hoạt động kinh tế như hoạt động mua bán, trao đổi, vay mượn, tổ chức sản
xuất của các chủ thể kinh tế. Nhưng chỉ những quan hệ kinh tế nào phản
ánh sự phối hợp mang tính cộng đồng trách nhiệm của các chủ thể kinh tế
liên quan thì mới được coi là quan hệ liên kết kinh tế.
Hoạt động liên kết kinh tế giữa các chủ thể kinh tế bao gồm những
hoạt động kinh tế được pháp luật cho phép, khuyến khích và bảo trợ. Đó là

một vùng thì xu hướng mở rộng quan hệ hợp tác giữa các vùng với nhau và
giữa các địa phương trong vùng
với nhau cũng biểu hiện một cách rõ rệt.Vì vậy, liên kết hay hợp tác phối
hợp phát triển giữa các địa phương là một xu hướng tất yếu.
Đặt vấn đề theo một khía cạnh khác, lực lượng sản xuất càng phát
triển thì phân công lao động theo vùng lãnh thổ càng diễn ra mạnh mẽ, do
đó, xuất hiện ngày càng nhiều các ngành chuyên môn hóa. Mỗi một địa
phương, một vùng không thể có đủ điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên
nhiên và lao động để phát triển toàn diện các ngành sản xuất chuyên môn
hóa theo kiểu khép kín, mà chỉ có thể có lợi thế hơn trong việc phát triển
một ngành chuyên môn hóa nào đó.Hơn nữa, trong quá trình phát triển, các
địa phương thường phải đối mặt với nhiều vấn đề vượt ra khỏi phạm vi giải
quyết của một tỉnh như: ô nhiễm môi trường, đầu tư công cộng, đầu tư xây
4
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
dựng cơ sở hạ tầng, đòi hỏi phải có sự liên kết giữa các địa phương cùng
giải quyết.
Trong lĩnh vực khoa học công nghệ cũng vậy. Ngày nay cuộc cách
mạng khoa học công nghệ có tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời
sống và xã hội. Các tiến bộ khoa học, công nghệ được áp dụng trong mọi
lĩnh vực từ văn hóa, kinh tế, xã hội, quốc phòng...Nghiên cứu vấn đề khoa
học cũng như áp dụng thành tựu khoa học mà khép kín trong phạm vi một
địa phương, một vùng thì mất nhiều ý nghĩa. Nước ta cũng như nhiều nước
trên thế giới, không dễ gì ở một địa phương nào đó lại hội tụ đầy đủ các
trường đào tạo cán bộ, công nhân kỹ thuật và các viện nghiên cứu khoa
học. Do đó, có nơi thì phát triển trình độ khoa học- công nghệ, có nợi thì
chưa hay kém phát triển. Để có thể nâng cao trình độ khoa học – công nghệ
và ứng dụng một cách có hiệu quả các tiến bộ của lĩnh vực này đòi hỏi phải

kinh tế muốn phát triển đều phải chịu một áp lực cạnh tranh rất lớn. Trong
điều kiện như vậy, sự liên kết, hợp tác sẽ làm tăng quy mô, tận dụng được
lợi thế nhờ quy mô, nâng cao năng lực cạnh tranh chủ động hội nhập vào
thị trường khu vực và thế giới.
Vì vậy, liên kết kinh tế giữa các vùng nói chung và giữa các địa
phương trong một vùng nói riêng là một xu hướng phát triển khách quan
theo yêu cầu của sự phát triển lực lượng sản xuất, yêu cầu của một nền kinh
tế thị trường hiện đại. Tham gia vào xu thế này, các địa phương không
những khai thác được các lợi thế so sánh của mình mà còn tận dụng được
những lợi thế so sánh của địa phương khác vào phục vụ cho phát triển kinh
tế của địa phương mình, góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế vùng
và cả nước.
3. Mục đích của việc liên kết kinh tế
Liên kết kinh tế giữa các địa phương trong vùng là rất quan trọng và
cần thiết nhằm:
- Đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất của nhà nước đối với nền kinh tế
theo đúng định hướng chiến lược chung của đất nước.
- Đảm bảo phát triển và thực hiện đúng các quy hoạch đã được phê
duyệt
6
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
- Đảm bảo khai thác nguồn lực của từng địa phương, từng vùng
không mâu thuẫn với lợi ích của cả nước.
- Đảm bảo sự phát triển hài hòa, công bằng giữa các địa phương.
Vì trong vùng sự phát triển không đồng đều giữa các tỉnh, nguồn
lực và yếu tố phát triển kinh tế -xã hội rất khác nhau nên yêu cầu
của sự liên kết giữa các tỉnh là có sự giúp đỡ và tạo điều kiện để
các tỉnh yếu phát triển.

lý nhất có lợi cho các ngành, các địa phương trong vùng.
Đánh giá đầu tư công cộng sẽ có ý nghĩa nhiều hơn nếu được phân
cấp, bởi vì nhu cầu đầu tư công cộng sẽ được hiểu rõ hơn ở cấp tỉnh do các
cán bộ tỉnh chứ không phải trung ương, hàng ngày phải trực tiếp đối diện
với các vấn đề của tỉnh. Nếu như đại diện các tỉnh trong vùng cùng nhau
phối hợp thực hiện, thì công tác đánh giá và xác lập thứ tự ưu tiên của các
dự án đầu tư sẽ được cải thiện hơn. Sau đó, các tỉnh có thể chuyển kết quả
đánh giá và xác lập thứ tự ưu tiên lên trung ương để phê duyệt và chi ngân
sách.
4.2.Tăng cường khả năng thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển du lịch
của các tỉnh.
Các nhà đầu tư nước ngoài thích đầu tư vào những nơi có nhiều
nguyên liệu thô, lao động, các nguồn tài nguyên khác. Việc liên kết giữa
các tỉnh trong việc cung cấp những yếu tố đầu vào, về mặt chính sách, tạo
môi trường đầu tư hấp dẫn hơn, tăng khả năng thu hút các nhà đầu tư nước
ngoài vào các tỉnh trong vùng.
Tương tự như vậy, các du khách trong và ngoài nước đều thích trong
cùng một chuyến đi có thể đến thăm quan ở những nơi có nhiều điểm thu
hút du lịch. Vì vậy, các tỉnh có thể thu hút nhiều khách du lịch hơn nếu
cùng liên kết các phương tiện phục vụ du lịch ở tất cả các tỉnh, hợp tác hình
thành các tuyến du lịch liên tỉnh. Bằng cách này, các tỉnh có thể cùng góp
chung các nguồn tài nguyên có hạn của mình để đẩy mạnh hoạt động du
lịch của cả vùng.
8
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
4.3.Nâng cao tính hiệu quả trong việc thực hiện các tiêu chuẩn về môi
trường
Ngày nay, các vấn đề về môi trường đã và đang là mối quan tâm của

các tỉnh yếu kém, giúp các tỉnh đó đạt đến trình độ phát triển cao hơn
II.TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA CÁC ĐỊA
PHƯƠNG
1. Mối quan hệ nội bộ giữa các địa phương trong vùng
Mối quan hệ trong nội bộ vùng được thể hiện qua mối liên kết và bổ
sung cho nhau. Trong vùng, mỗi tỉnh luôn có những lợi thế và trình độ phát
triển kinh tế khác nhau. Khi các tỉnh phối hợp và liên kết với nhau sẽ bổ
sung cho nhau về mọi mặt thúc đẩy nhau cùng phát triển.Những tỉnh có thế
mạnh về kinh tế và là nơi tập trung khu vực thành thị phát triển cao với các
trung tâm thương mại, các ngành công nghiệp mạnh, kỹ thuật cao, cơ sở hạ
tầng tương đối phát triển, đội ngũ lao động được đào tạo tốt sẽ là cực tăng
trưởng để thúc đẩy các tỉnh khác cùng phát triển. Tuy nhiên chúng ta cần
phải chú ý tới các mối liên kết với các vùng kém phát triển, nơi có thu nhập
thấp, thiếu vốn,dư thừa lao động, đất đai và khả năng quản lý còn hạn chế
để tạo ra những hiệu ứng phát triển lan truyền đối với những vùng này,
giảm bớt sự bất bình đẳng trong phát triển kinh tế/
Liên kết và bổ sung kinh tế cho nhau nó phản ánh mối quan hệ giữa
các ngành với nhau(giữa các ngành sản xuất vật chất với nhau, giữa các
ngành phi sản xuất vật chất với nhau, và giữa hai ngành này với nhau), mối
liên hệ giữa ngành với lãnh thổ, giữa các bộ phận lãnh thổ với nhau. Ngoài
ra trong vùng trọng điểm cũng cần chú trọng đến các mối quan hệ giữa lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa sản xuất với bảo vệ môi trường,
giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Đảm bảo cho việc phát triển bền vững
nền kinh tế trong vùng.
Trong vùng cần phải chú trọng mối liên kết về mặt địa lý và phát
triển cơ sở hạ tầng. Vì đây là yếu tố quan trọng trong việc thiết lập một môi
trường kinh tế thuận lợi cho việc phát triển các mối quan hệ khác trong
vùng. Do vậy, cần thực hiện các công việc như phát triển hệ thống đường
10
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

11
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
đảm bảo cho các bên tham gia có trách nhiệm cao trong các quan hệ thỏa
thuận phối hợp thực hiện.
3. Nội dung liên kết
Nội dung liên kết giữa các địa phương trong vùng được thể hiện qua
sự hợp tác, phối hợp phát triển giữa các đơn vị kinh tế thuộc các ngành
đóng trên địa bàn vùng, giữa các địa phương hành chính trong vùng. Cụ thể
như sau:
Thứ nhất: liên kết kinh tế giữa các đơn vị kinh tế thuộc các ngành
kinh tế khác nhau trên phạm vi vùng. Sự liên kết này được thể hiện trong
việc hình thành các tổ chức sản xuất trong nội bộ ngành, các hình thức liên
kết theo góc độ cung cấp và trao đổi các sản phẩm lẫn nhau giữa các ngành
trong vùng theo những mối quan hệ ngược chiều, xuôi chiều, trực tiếp và
gián tiếp. Sự liên kết này đảm bảo tính hợp lý trong việc phân công lao
động theo ngành ở trên vùng và nhằm nâng cao hiệu quả của các hoạt động
kinh tế, mở rộng tính chất hàng hóa trên vùng.
Theo quyết định số 145/2004/QD-TTg, 146/2004/QD- TTg của Thủ tướng
Chính phủ và thông tư số 05/2003/TT- BKH ngày 22/7/2003 của Bộ kế
hoạch và đầu tư hướng dẫn nội dung, trình tự lập, thẩm định và quản lý các
dự án quy hoạch, bao gồm:
- Liên kết trong việc phát triển các lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội và ngành sản phẩm chủ yếu.
Đối với lĩnh vực kết cấu hạ tầng, bao gồm mạng lưới giao thông vận
tải, bưu chính viễn thông, hệ thống cung cấp điện,cung cấp và sử dụng
nguồn nước, xử lý chất thải, cơ sở dạy nghề, đào tạo cao đẳng, đại học, các
cơ sở nghiên cứu khoa học, các bệnh viện và hệ thống đô thị, các Bộ ngành
plhối hợp chặt chẽ với các địa phương trong vùng đồng thời rà soát, bổ

Thứ hai: Liên kết giữa các địa phương hành chính với nhau trong
vùng kinh tế: Sự liên kết này nhằm giải quyết hợp lý các vấn đề: phân chia
và quy hoạch đất đai, các tiểu vùng chuyên môn hóa, các điểm dân cư,
phân bố cụ thể các doanh nghiệp; tạo ra các môi trường đồng bộ và thống
nhất về thu hút, sử dụng các yếu tố nguồn lực trong vùng. Sự liên kết này
13
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
là cơ sở hình thành thế đứng vững chắc của vùng kinh tế, đồng thời tạo cơ
hội phát triển các ngành kinh tế trong ngắn hạn và dài hạn ở phạm vi vùng.
Thứ ba: Liên kết giữa ngành và các địa phương hành chính trên
vùng và với toàn vùng lãnh thổ. Nội dung liên kết này nhằm phân định rõ
chức năng quản lý ngành và chức năng quản lý của chính quyền địa
phương và cơ quan quản lý vùng(nếu có), tránh sự mâu thuẫn, chồng chéo
trùng lặp gây khó dễ cho quá trình phát triển.
4. Các hình thức liên kết
Việc liên kết giữa các tỉnh nhằm đảm bảo sự thống nhất trong phát
triển theo địa phương trên vùng có thể được tiến hành theo nhiều cách thức
khác nhau, mỗi cách thức cho một kết quả không giống nhau. Trên thực tế
cần sử dụng kết hợp nhiều hình thức.
4.1.Liên kết bằng cách trao đổi thông tin
Việc liên kết giữa các địa phương trong vùng ở một mức độ nào đó
có thể thực hiện bằng phương thức thường xuyên trao đổi cho nhau các kế
hoạch, các chính sách ban hành ở cấp tỉnh, sự thay đổi, bổ sung trong quy
hoạch phát triển của các tỉnh, các dữ liệu thống kê, các thông tin có liên
quan đến công tác lập kế hoạch và hoạch định chính sách của các tỉnh khác.
Phương thức này có thể mang lại một số lợi ích như: các tỉnh có thể
cùng nhau xem xét các dự án đầu tư của các tỉnh khác khi lập kế hoạch đầu
tư của riêng mình, có thể sử đổi các laọi thuế địa phương cho phù hợp với

thành lập các ủy ban chức năng giải quyết chi tiết các vấn đề khác nhau mà
các tỉnh thành viên gặp phải như ủy ban cơ sở hạ tầng, ủy ban các vấn đề
xã hội, ủy ban quản lý phát triển....
Lợi ích của hội đồng phát triển vùng chính là thể chế hóa công tác
liên kết. Các địa phương bắt đầu xuy nhgĩ cho vùng của họ hơn là chỉ suy
nghĩ cho lọi ích riêng của địa phương mình. Hội đồng cũng có thể sẵn sàng
hỗc trợ cho các tỉnh thành viên trong việc nâng cao năng lực điều hành
trong các lĩnh vực khác nhau. Hội đồng cũng có thể nghiên cứu lại, liên kết,
đánh giá và xác định các thứ tự ưu tiên và trình lên trung ương các đề án
đầu tư công cộng của mỗi tỉnh thành viên. Điều này giúp đảm bảo tính
thống nhất của các dự án và theo đúng định hướng phát triển. Sự tồn tại của
15
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
hội đồng phát triển vùng cho phép trung ương chuyển giao các kế hoạch,
chương trình, dự án quốc gia cho hội đồng vùng để chính quyền cấp tỉnh
xem xét. Các tỉnh thành viên có thể cùng nhau thẩm định các dự án này
trong khuôn khổ của hội đồng liên kết. Do đó chính phủ không cần phải
trực tiếp làm việc với nhiều tỉnh. Như vậy, hội đồng vùng tồn tại như một
tổ chức trung gian làm cầu nối liên lạc các tỉnh với trung ương.
Quan điểm hình thành hội đồng phát triển vùng là mới ở nước ta, tuy
vậy đây là một nhu cầu thiết thực xuất phát từ chính yêu cầu ngày càng cao
của sự liên kết phát triển của các địa phương.
III. KINH NGHIỆM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ LIÊN KẾT PHÁT
TRIỂN KINH TẾ VÙNG.
1. Kinh nghiệm của Nhật Bản
Khi nghiên cứu về quá trình phát triển của Nhật Bản, một cường
quốc về kinh tế hiện nay, các nhà nghiên cứu kinh tế đều thấy rằng ngay từ
giai đoạn đầu của quá trình phát triển nền kinh tế đất nước cho đến nay,

quan quản lý nhà nước ở cấp dưới và chính quyền địa phương.
Cụ thể tham gia vào quá trình phối hợp này có các cơ quan nhà nước
cấp dưới, trung tâm quy hoạch Nhật Bản, trung tâm xúc tiến đưa công
nghiệp vào nông thôn, trung tâm thông tin doanh nghiệp, chi nhánh của các
Bộ, ngành tại địa phương, các tổ chức chính quyền địa phương như: tỉnh,
thành phố, thị xã, huyện...và các cơ quan khác ở địa phương như: trung tâm
phát triển khu vực, phòng thương mại và công nghiệp, giao dịch kỹ thuật...
Như vậy, ngay từ những ngày đầu phát triển, chính phủ Nhật Bản đã
nhận thức được vai trò quan trọng của việc liên kết phát triển giữa các địa
phương trong một vùng và đã hình thành quan điểm phát triển vùng có
trọng điểm một cách đúng đắn, đưa nền kinh tế nói riêng và kinh tế cả nước
nói chung phát triển phồn thịnh.
2. Kinh nghiệm của Philipines
Philipin thực hiện liên kết kinh tế thông qua mô hình hội đồng phát
triển vùng. Có thể nói đây là mô hình khá phù hợp và có hiệu quả trong
việc liên kết phát triển trên vùng lãnh thổ. Hội đồng vùng ở Philipin được
17
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
hình thành từ năm 1972 đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường
công tác kế hoạch hóa phát triển vùng và đề bạt các mối quan tâm của vùng
lên Chính phủ. Hội đồng phát triển vùng được thành lập nhằm phối hợp các
cán bộ chính quyền địa phương với cán bộ cấp trung ương(các giám đốc
phụ trách vùng của các Bộ và các cơ quan trung ương) nhằm tăng cường sự
phối hợp của các địa phương trong tham gia quản lý phát triển ngành.
Hội đồng phát triển vùng có trách nhiệm chuyển các mục tiêu phát
triển quốc gia thành các mục tiêu phát triển vùng, xây dựng, thông qua và
thực hiện chiến lược phát triển vùng của mình. Hội đồng vùng cũng có
nhiệm vụ phối hợp tất cả các hoạt động kế hoạch và chương trình của tất cả

trọng tâm phát triển và từ đó đề xuất, xây dựng chính sách vĩ mô cụ thể để
hướng việc khai thác huy động nguồn lực vào trọng tâm phát triển. Hội
đồng này nhằm phối hợp và giám sát sự hoạt động của các vùng, các cơ sở
kinh tế thuộc các ngành trong phạm vi quản lý của bang.Không sừng lại ở
đó, tiếp theo, để đáp ứng yêu cầu của sản xuất mang tính liên ngành, liên
vùng đòi hỏi phải có sự liên kết ở cấp địa phương với các ngành, các vùng,
chính phủ Mỹ đã chủ trương hình thành hội đồng. Cho đến nay khắp lãnh
thổ Mỹ có hơn 450 hội đồng vùng. Những hội đồng vùng này đảm đương
trách nhiệm liên kết các thnàh viên tham gia ở các cấp chính quyền khác
nhau nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác phát triển, xây dựng kế hoạch chung
cho cả vùng và chuyển giao dịch vụ phát triển ngành trong các vùng. Các
hội đồng vùng này thường xuyên tổ chức các diễn đàn về các vấn đề của
vùng, thực hiện kế hoạch hóa vùng, cung cấp thông tin và các dịch vụ hỗ
trợ kỹ thuật cho các địa phương, quản lý các chương trình liên bang, bang,
và địa phương có liên quan đến vùng thực hiện các hoạt động đào tạo
nghiệp vụ....
Với một lãnh thổ rộng lớn như nước Mỹ thì sẽ có rất nhiều các hội
đồng vùng trong cả nước và vấn đề đặt ra là phải có một cơ quan thực hiện
phối hợp hoạt động của các hội đồng để đảm bảo cho việc phát triển một
cách thống nhất và đúng hướng. Và để làm được điều này ở Mỹ đã thành
lập hiệp hội các hội đồng vùng bao gồm có đại diện của hội đồng vùng,
ngoài ra còn bao gồm đại diện của dân chúng khu vực tư nhân, giới trí thức
và các cơ quan quần chúng của vùng. Một trong những chức năng của hiệp
19
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
hội này là thúc đẩy các quan hệ hợp tác giữa các ngành, các khu vực kinh
tế và các địa phương trong vùng qua đó đề xuất các chính sách sử dụng có
hiệu quả hơn vốn đầu tư cho phát triển các ngành, cơ sở hạ tầng, môi

: 6.280.688
tạo lực lượng lao động. Đối với vấn đề về môi trường cũng đòi hỏi các tỉnh
phải phối hợp vơí nhau trong việc giải quyết tình trạng ô nhiễm nước của
sông Mêkông đặc biệt là đối với các tỉnh ở hạ lưu con sông.
Tại vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, chính phủ đã yêu cầu ngân
hàng ADB thông qua dự án ADB 3289 VIE cung cấp một dự án thí điểm
xây dựng cơ chế phối hợp liên tỉnh phù hợp cho bốn tỉnh miền Trung:
Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam.Theo dự án này, các
cán bộ chủ chốt của bốn tỉnh và một số cán bộ các bộ ngành đã được tham
quan Philipin, khảo sát tìm hiểu nội dung và cơ chế làm việc của hội đồng
phát triển vùng cũng như các dự án được thực hiện với sự hỗ trợ của hội
đồng vùng. Từ thực tế và kinh nghiệm quốc tế, trên cơ sở điều tra phân tích
các điều kiện hiện tại của Việt Nam, dự án tiến hành tổ chức các dự thảo
với các tỉnh,các Bộ, hội thảo quốc gia từ đó tổng hợp thành báo cáo về cơ
chế phối hợp cho bốn tỉnh miền Trung. Trên cơ sở đó, các tỉnh trong vùng
kinh tế trọng điểm miền Trung bước đầu đã có sự phối hợp trong các dự án
phát triển cơ sở hạ tầng như các tuyến đường vận tải quốc tế bao gồm các
đường cao tốc ASEAN số 7 từ cảng Cửa Lò và số 8 từ Đà Nẵng. Ngành
khai thác thủy sản miền Trung có khả năng sẽ đạt được mục tiêu 43% sản
lượng đánh bắt quốc gia so với hiện tại là 34% khi các tỉnh có sự phối hợp
xây dựng các chương trình nâng cấp các cơ sở chế biến và kỹ năng lao
động nhằm đáp ứng tiêu chuẩn sản xuất quốc tế phát triển bền vững các
nguồn lực thủy sản và đẩy mạnh quy mô nuôi trồng thủy sản.
Như vậy, trong những năm gần đây ở Việt Nam, chính phủ đã nhận
thức rõ tác dụng cấp thiết của việc phát triển các vùng kinh tế trọng điểm
và công tác liên kết phát triển giữa các địa phương trong vùng này và đã có
chủ trương xây dựng một quy chế chính thức cho vấn đề phối hợp liên tỉnh.
Thực hiện chủ trương này, các vùng kinh tế trọng điểm bước đầu đã có
những bước đi đúng hướng và đạt được những kết quả nhất định.
21

trong vùng khí hậu nhiệt đới, nhưng Đông Bắc lại chịu ảnh hưởng trực tiếp
của gió mùa Đông Bắc. Khí hậu phân dị tạo ra nhiều tiểu vùng...cho phép
phát triển nhiều loại cây đặc sản có giá trị kinh tế cao như: chè(chè Tuyên
22
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
Quang, chè Thái Nguyên, chè Tuyết, chè vàng), hồi, quế, Sơn, mận hậu,
mơ, hồng, nhiều dược liệu quý...
Đông Bắc có tiềm năng du lịch rất phong phú, đa dạng, đặc biệt là
tiềm năng du lịch biển (vịnh Hạ Long, bãi biển Trà Cổ...), du ngoạn các hồ
nước lớn trên núi như Núi Cốc, Ba Bể, Cấm Sơn, Thác Bà...), du lịch leo
núi và nghỉ dưỡng (Sa Pa, Tam Đảo, Cổng Trời...), tham quan di tích lịch
sử (Văn hóa Đông Sơn, Đền Hùng...), du lịch lễ hội (hội Lim, hội Đền
Hùng)
Quỹ đất lớn, nguồn nước dồi dào thuận lợi cho phát triển các ngành
kinh tế. Quỹ đất có khả năng sử dụng cho nông nghiệp, lâm nghiệp nhìn
chung không thuộc loại xấu và có thể được khoảng 5 triệu ha (trong đó
nông nghiệp khoảng một triệu ha, lâm nghiệp 4 triệu ha), hiện đã sử dụng
2,7 triệu ha, chiếm 54% so với tiềm năng hàng ngàn ha để phát triển các
khu, cụm công nghiệp và hình thành các khu đô thị mới.
Nguồn nước tương đối dồi dào, chất lượng tốt. Trên lãnh thổ Đông
Bắc có những sông lớn chảy qua là hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình,
Kỳ Cùng, sông Cầu...ngoài ra còn nhiều sông nhỏ ven biển Quảng
Ninh...tạo điều kiện thuận lợi khai thác nguồn nước và phát triển giao
thông phục vụ sản xuất và đời sống; ở nhiều khu vực nguồn nước ngầm
tương đối khá. Tuy nhiên, nguồn nước ở một số nơi thuộc vùng cao núi đá
vôi và khu vực ven biển bị hạn chế.
Cùng với sự đổi mới và phát triển của đất nước, vùng trung du miền
núi phía Bắc nói chung và vùng Đông Bắc nói riêng không ngừng tăng

kinh tế trọng điểm phía Bắc, cầu nối các tỉnh đồng bằng sông Hồng với các
tỉnh miền núi Tây Bắc và Đông Bắc. Phú Thọ chỉ cách Hà nội 80 km tính
theo đường ô tô và cách các tỉnh xung quanh từ 100 đến 300 km. Các hệ
thống đường bộ, đường sắt, đường sông từ các tỉnh phía Tây Đông Bắc đều
quy tụ về Phú Thọ rồi mới đi qua Hà nội, Hải Phòng và các tỉnh thành phố
khác trong cả nước.
Thành phố Việt trì là thủ phủ của tỉnh đồng thời cũng là một trong
năm trung tâm lớn của vùng miền núi phía Bắc, có các tuyến trục giao
thông quan trọng chạy qua như quốc lộ số 2 chạy từ Hà nội qua Việt trì đi
Tuyên Quang – Hà Giang sang Vân Nam Trung Quốc. Đây là tuyến nằm
24
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
trong hành lang kinh tế Côn Minh- Lào Cai – Hà nội - Hải Phòng - Quảng
Ninh. Dự báo đoạn Hà Nôi - Việt Trì sẽ có nhịp độ phát triển nền kinh tế
cao và đô thị hóa nhanh nên Phú Thọ cần có sự chuẩn bị tốt các điều kiện
về đất đai, lao động để tận dụng cơ hội này.
Khi Sơn Tây – Hòa Lạc được xây dựng trở thành chuỗi đô thị có
khoảng 30 – 50 vạn dân cũng sẽ mở ra cơ hội mới cho Phú Thọ phát triển
nhất là các huyện hữu ngạn sông Hồng như Tam Nông, Thanh Thủy,
Thanh Sơn, Yên Lập, Cẩm Khê, Hạ Hòa, có điều kiện phát triển mạnh hơn.
Ngoài ra Phú Thọ còn có đường sắt, đường sông chạy qua cũng là điều kiện
thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội nhanh hơn.
Tiềm năng về địa hình: Điểm nổi bật là điạ hình chia cắt tương đối mạnh vì
nằm phía cuối dãy Hoàng Liên Sơn, nơi chuyển tiếp giữa miền núi cao và
miền núi thấp, gò đồi, độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Căn
cứ vào địa hình chia Phú Thọ thành hai tiểu vùng sau:
+ Tiểu vùng miền núi: Gồm các huyện miền núi Thanh Sơn, Yên
Lập, Hạ Hòa một phần cuả huyện Cẩm Khê. Đây là một vùng tương đối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status