Tiểu luận: Vi phạm hành chính và trách nhiệm hành chính - Pdf 12


1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG……………

Tiểu luận

Vi phạm hành chính và trách nhiệm hành chính

Tp.HCM, ngày 12 tháng 5 năm 2012

3
A. THUẬT NGỮ PHÁP LÝ

1. Hành chính là các hoạt động liên quan chủ yếu đến giấy tờ dựa trên quy định của
pháp luật.
2. Luật Hành chính là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm các
điều luật quy định về nguyên tắc tổ chức, quản lý và điều hành các hoạt động liên quan đến
lĩnh vực hành chính.
3. Cơ quan hành chính là cơ quan hoạt động trong lĩnh vực hành pháp, nghĩa là cơ
quan có chức năng thực thi pháp luật
4. Thủ tục hành chính là các hoạt động liên quan chủ yếu đến giấy tờ dựa trên quy
định pháp luật và được thực hiện tại các cơ quan nhà nước.
5. Quy phạm pháp luật hành chính là các điều luật quy định về các hoạt động liên
quan đến lĩnh vực hành chính.
6. Xử lý vi phạm hành chính là hình thức xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật về
hành chính.
7. Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ
chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành, quyết định về
một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc
một số đối tượng cụ thể.
8. Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức
khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc không thực hiện
nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
Để tìm hiểu rõ hơn, chúng ta cần nghiên cứu và nắm rõ các văn bản Pháp luật sau:
- PHÁP LỆNH CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI SỐ 44/2002/PL-
UBTVQH10 NGÀY 2 THÁNG 7 NĂM 2002 VỀ VIỆC XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH –
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI NGUYỄN VĂN AN ĐÃ KÝ

1. Mặt khách quan
Mặt khách quan của cấu thành vi phạm pháp luật là chỉ những gì thể hiện ra bên ngòai
của hành vi vi phạm pháp luật.
Dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của vi phạm hành chính là hành vi vi phạm
hành chính tức là hành vi mà tổ chức, cá nhân thực hiện là hành vi xâm phạm các quy tắc quản
lý nhà nước và đã bị pháp luật hành chính ngăn cấm. Việc bị ngăn cấm được thể hiện rõ ràng
trong các văn bản pháp luật quy định về xử phạt hành chính, theo đó pháp luật quy định rằng
những hành vi này sẽ bị xử phạt bằng các hình thức, biện pháp xử phạt hành chính. Như vậy,
khi xem xét, đánh giá hành vi cá nhân hay tổ chức có phải là vi phạm hành chính hay không,
bao giờ cũng có những căn cứ pháp lý rõ ràng xác định hành vi đó phải được pháp luật quy
định là sẽ xử phạt bằng các biện pháp xử phạt hành chính. Không được áp dụng “nguyên tắc
suy đoán vi phạm” hoặc “áp dụng pháp luật tương tự” trong việc xác định vi phạm hành chính.
Đối với một số loại vi phạm hành chính cụ thể, dấu hiệu trong mặt khách quan có tính chất
phức tạp, không đơn thuần chỉ có một dấu hiệu nội dung trái pháp luật trong hành vi mà còn
có thể có sự kết hợp với những yếu tố khác. Thông thường những yếu tố này có thể là:
a) Thời gian thực hiện hành vi vi phạm.
Ví dụ minh hoạ: Biển cấm dừng, đỗ xe ôtô theo luật Giao thông đường bộ quy định cấm
dừng đỗ ngày chẵn hay ngày lẻ.
b) Địa điểm thực hiện hành vi vi phạm.
Ví dụ minh hoạ: cũng theo Luật giao thông đường bộ, một số đoạn đường có dựng biển
báo cấm dừng cấm đậu hoặc một số đoạn đường cấm một số loại xe lưu thông.
c) Công cụ phương tiện vi phạm.
Ví dụ minh hoạ: Tàng trữ và sử dụng súng không có giấy phép sử dụng.

6
d) Hậu quả và mối quan hệ nhân quả
Nói chung hậu quả của vi phạm hành chính không nhất thiết là thiệt hại cụ thể. Tuy
nhiên, trong nhiều trường hợp, hành vi của tổ chức, cá nhân bị coi là vi phạm hành chính khi
hành vi đó đã gây ra những thiệt hại cụ thể trên thực tế.
Ví dụ minh hoạ: Hành vi làm thi công xây dựng nhà nhưng do không đảm bảo biện pháp

7
hành chính đối với tổ chức vi phạm. Theo quan điểm này, lỗi của tổ chức được xác định thông
qua lỗi của các thành viên trong tổ chức đó khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao. Về
phương diện pháp luật, pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hiện hành quy định chung rằng tổ
chức phải chịu trách nhiệm về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra và có nghĩa vụ chấp
hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Đồng thời, còn phải có trách nhiệm xác định lỗi
của người thuộc tổ chức của mình trực tiếp gây ra vi phạm hành chính trong khi thi hành
nhiệm vụ, công vụ được giao để truy cứu trách nhiệm kỷ luật và để bồi thường thiệt hại theo
quy định của pháp luật.
3. Chủ thể vi phạm hành chính
Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính là các tổ chức, cá nhân có năng lực chịu
trách nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật hành chính.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, cá nhân là chủ thể của vi phạm hành chính phải là
người không mắc các bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác làm mất khả năng điều khiển
hành vi và đủ độ tuổi do pháp luật quy định, cụ thể là:
a). Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là chủ thể của vi phạm hành chính
trong trường hợp thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Như vậy, khi xác định người ở độ tuổi này có
vi phạm hành chính hay không cần xác định yếu tố lỗi trong mặt chủ quan của họ. Pháp lệnh
xử lý vi phạm hành chính hiện hành không định nghĩa thế nào là có lỗi cố ý hoặc vô ý trong vi
phạm hành chính. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, thông thường người thực hiện hành vi
với lỗi cố ý là người nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật
cấm đoán nhưng vẫn cố tình thực hiện.
b). Người từ đủ 16 tuổi trở lên có thể là chủ thể của vi phạm hành chính trong
mọi trường hợp.
c). Tổ chức là chủ thể vi phạm hành chính bao gồm: các cơ quan nhà nước, các
tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và các tổ
chức khác có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật;
Cá nhân, tổ chức nước ngòai cũng là chủ thể vi phạm hành chính theo quy định
của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia
có quy định khác.

c) Vi phạm hành chính và tội phạm đều là hành vi trái pháp luật, tức là trái với
yêu cầu cụ thể của pháp luật hay trái với tinh thần của pháp luật. Đã là hành vi trái pháp luật
thì dù là vi phạm hành chính hay tội phạm đều là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Sự khác nhau
giữa chúng chỉ là ở mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi.
d) Vi phạm hành chính và tội phạm đều được thực hiện bởi hành vi có lỗi của
các chủ thể.
e) Vi phạm hành chính và tội phạm đều là những hành vi nguy hiểm cho xã hội
được pháp luật quy định chặt chẽ bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền (vi phạm hành chính
và tội phạm khác với các vi phạm đạo đức và vi phạm tôn giáo ở chỗ vi phạm đạo đức và vi
phạm tôn giáo không dược pháp luật quy định). Chủ thể thực hiện vi phạm hành chính và tội

9
phạm đều bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước, việc áp dụng các biện pháp cưỡng
chế đều dựa trên cơ sở, trình tự do pháp luật quy định.
f) Những vi phạm hành chính và tội phạm được thực hiện trong điều kiện: phòng
vệ chính đáng, tình thế cấp thiết và sự kiện bất ngờ, theo quy định của pháp luật hành chính
và hình sự, đều được miễn truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những người thực hiện hành
vi vi phạm đó.
g)Vi phạm hành chính và tội phạm có những khách thể chung
Giữa vi phạm hành chính và tội phạm giống nhau ở chỗ có những khách thể chung.
Khách thể vi phạm pháp luật là những quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh và bảo vệ.
Điều đó có nghĩa chỉ có những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ mới là khách thể của vi
phạm pháp luật, không được quy phạm pháp luật điều chỉnh thì quan hệ xã hội tương ứng
không thể trở thành khách thể của vi phạm pháp luật.
Những quan hệ xã hội được pháp luật hành chính bảo vệ nhưng bị xâm phạm tới, gây ra
thiệt hại hoặc đe doạ gây ra thiệt hại là khách thể của vi phạm hành chính. Những quan hệ xã
hội đó không chỉ là quan hệ hành chính mà còn nhiều quan hệ pháp luật thuộc ngành luật khác
bảo vệ nhưng vẫn bị xử lý hành chính. Nói một cách khái quát hơn, khách thể của vi phạm
hành chính là cái mà vi phạm hành chính xâm hại tới, là cái mà pháp luật hướng tới để bảo vệ
khỏi sự xâm phạm. Cái đó là những quan hệ xã hội khách quan chứ không phải là các quy tắc

cứ pháp lý duy nhất để xem xét một hành vi vi phạm có bị coi là tội phạm hay không - không
có trong luật thì không có tội, “vô luật bất hình”.
Vi phạm hành chính không được quy định trong một bộ luật cụ thể nào mà được quy
định trong nhiều văn bản khác nhau như luật, pháp lệnh, nghị định, nghị quyết, thông tư. . .
luật ở đây là các bộ luật là nguồn của luật hành chính chứ không phải là bộ luật hành chính, ví
dụ: hiến pháp, luật tổ chức chính phủ… nguyên nhân mà chúng ta không có riêng một bộ luật
hành chính đơn giản vì nó quá rộng, quá nhiều lĩnh vực với quá nhiều các văn bản pháp luật và
chúng ta không thể pháp điển hóa thành bộ luật. các văn bản dưới luật ở đây có thể là nghị
quyết của Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban thường vụ quốc hội, hội đồng nhân dân; pháp lệnh của
ủy ban thường vụ quốc hội; Nghị định của chính phủ; các Quyết định, Chỉ thị, Thông tư. .
Ví dụ minh hoạ: pháp lệnh cán bộ công chức, pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính của
Ủy ban thường vụ quốc hội; Nghị quyết của chính phủ số 09/2003/NQ-CP ngày 28/07/2003 về
sửa đổi, bổ sung nghị quyết số 16/2000/ND-CP ngày 18/10/2000 của chính phủ về việc tinh
giảm biên chế trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp.
c)Về hậu quả pháp lí
Người nào thực hiện tội phạm hay vi phạm hành chính sẽ bị xử lí bằng các biện pháp
cưỡng chế nhà nước để trả giá cho những gì mình đã gây ra cho xã hội.
Tuy nhiên, tội phạm là hành vi vi phạm pháp luật nặng nhất, nên phải chịu biện pháp
cưỡng chế Nhà nước nghiêm khắc nhất là hình phạt. chỉ có tội phạm mới phải chịu hình phạt
và ngược lại hành vi nào mà phải chịu hình phạt thì hành vi đó là tội phạm.
11
Cũng là biện pháp cưỡng chế nhà nước nhưng ở mức độ ít nghiêm khắc hơn, người vi
phạm hành chính có thể sẽ bị xử phạt hành chính.
Ví dụ minh hoạ: A lấy cắp tài sản của UBND xã Y. nếu tài sản là 490.000 nghìn đồng
mà không có tình tiết nào khác để cấu thành tội phạm, thì nếu bị xử phạt hành chính thì chủ
tịch xã Y chỉ có thể phạt mức cao nhất là 500.000 đồng. nếu tài sản để từ 500.000 trở lên hoặc
dưới 500.000 nhưng có tình tiết khác cấu thành tội phạm thì có thể sẽ bị phạt cải tạo không
giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm, ngoài ra có thể phải chịu thêm hình
phạt tiền bổ sung theo khoản 5 điều 138 bộ luật hình sự.
3. Dấu hiệu căn bản để phân biệt giữa vi phạm hành chính và tội phạm là mức độ nguy

công cụ, phương tiện phạm tội cũng là một căn cứ để đánh giá mức độ nguy hiểm cho hành vi
vi phạm.
13

C. TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH

I. Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm hành chính
1. Khái niệm
Trách nhiệm hành chính là một loại trách nhiệm pháp lý. Trong khoa hoc pháp lý, thuật
ngữ “ trách nhiệm pháp lý ” của tổ chức, cá nhân thường được hiểu là hậu quả pháp lý bất lợi
mà Nhà nước buộc tổ chức, cá nhân phải gánh chịu khi họ thực hiện hành vi vi phạm pháp
luật.
Tương ứng với mỗi loại vi phạm pháp luật là một hình thức trách nhiệm pháp lý nhất
định.
Trách niệm hành chính là hậu quả pháp lý bất lợi mà Nhà nước buộc các tổ chức, cá
nhân vi phạm hành chính phải gánh chịu. Nó có những nét chung, đồng thời cũng có những
điểm khác biệt với các loại trách nhiệm pháp lý khác như trách nhiệm hình sự, trách nhiệm
dân sự và trách nhiệm kỷ luật.
* Quan điểm truyền thống (hay còn gọi là Quan điểm “tiêu cực”) cho rằng, trách
nhiệm hành chính là sự đánh giá phủ nhận của nhà nước và xã hội đối với những vi phạm pháp
luật chưa đến mức là tội phạm xâm hại đến trật tự quản lý. Hậu quả là người vi phạm pháp luật
phải chịu các biện pháp cưỡng chế nhà nước do các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền
thực hiện. Trách nhiệm hành chính theo nghĩa tiêu cực có một số vấn đề sau:
 Cơ sở trách nhiệm hành chính mang đặc thù được quy định trong Pháp lệnh
xử lý vi phạm hành chính (ban hành ngày 02-7-2002). Các vi phạm pháp luật trong xã hội rất
đa dạng về khách thể bị xâm hại, về mức độ nguy hiểm v.v từ đó dẫn đến những hậu quả
pháp lý khác nhau. Trách nhiệm hình sự phát sinh do có hành vi vi phạm pháp luật được Bộ
luật Hình sự coi là tội phạm, còn trách nhiệm dân sự xuất hiện khi có hành vi gây thiệt hại về
mặt tài sản cho Nhà nước và công dân. Trách nhiệm kỷ luật được ấn định đối với người có
hành vi vi phạm nội quy, điều lệ kỷ luật. Trách nhiệm hành chính được áp dụng đối với các

→ Trách nhiệm hành chính là một loại trách nhiệm pháp lý, là quan hệ pháp luật
đặc thù xuất hiện trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, trong đó thể hiện sự đánh
giá phủ nhận về pháp lý và đạo đức đối với hành vi vi phạm hành chính và người vi phạm
(cá nhân hay tổ chức) phải chịu những hậu qua bất lợi, những sự tước đoạt về vật chất hay
tinh thần tượng ứng với vi phạm đã gây ra.
2. Đặc điểm
a) Trách nhiệm hành chính là trách nhiệm pháp lý đặt ra đối với tổ chức, cá
nhân vi phạm hành chính
Trách nhiệm pháp lý chỉ đặt ra đối với những chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp
luật. Vì vậy, để tiến hành truy cứu trách nhiệm hành chính đối với một tổ chức hoặc cá nhân
cần xác định tổ chức, cá nhân đó có thực hiện vi phạm hành chính trên thực tế hay không.
15
Truy cứu trách nhiệm hành chính đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính thực chất là
việc áp dụng các hình thức, biện pháp xử phạt hành chính đối với các tổ chức, cá nhân này.
Tuy nhiên, trong thực tế một số trường hợp cơ quan thẩm quyền áp dụng một số biện
pháp cưỡng chế hành chính cũng làm hạn chế quyền, tài sản hoặc tự do của đối tượng bị áp
dụng, nhưng điều này không có nghĩa là truy cứu trách nhiệm hành chính đối với đối tượng đó
Vì vậy, trách nhiệm hành chính đặt ra đối với cả cá nhân và tổ chức. Đây là điểm khác
biệt giữa trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự do trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra đối
với cá nhân thực hiện hành vi phạm tội
Ví dụ minh hoạ: Một DNTN kinh doanh loại hình Karaoke nhưng không tuân thủ theo
quy định như: bán rượu mạnh không giấy phép, không ký kết HĐLĐ với NLĐ, ánh sáng không
đủ sáng…thì Đội Liên ngành 814 của Quận, Phường có quyền tạm giữ GPĐKKD hoặc yêu
cầu đóng cửa. Đây là việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và đảm bảo để xử phạt hành
chính, không có nghĩa là DNTN này đã bị truy cứu trách nhiệm hành chính.
b) Trách nhiệm hành chính là trách nhiệm trước Nhà Nước
Nhà nước thiết lập các quy định về trật tự quản lý hành chính nhà nước. Nhà nước buộc
tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi để bảo vệ
trật tự quản lý hành chính nhà nước mà mình đã thiết lập ra
Chủ thể vi phạm hành chính phải thực hiện biện pháp chế tài của tổ chức, cá nhân vi

quan Bảo hiểm xã hội theo các văn bản quy định của Bộ LĐ-TBXH, Liên đoàn LĐ
So sánh sự khác biệt giữa vi phạm hành chính – hình sự – dân sự.
Nội dung Hành Chính Hình sự Dân sự
Mối quan hệ
Nhà Nước và
Tổ chức/Cá nhân
Nhà Nước và Cá nhân Tổ chức/Cá nhân và
Tổ chức/Cá nhân
Vai trò NN
NN có các biện pháp
cưỡng chế và chế tài
HC
NN truy tố TNHS, biện
pháp cưỡng chế và chế
tài HS
Đảm bảo việc thực hiện
đầy đủ các biện pháp chế
tài DS của các bên
Thủ tục
tố tụng
Luật tố tụng hành chính

Luật tố tụng hình sự Luật tố tụng dân sự

3. Mục đích
Xuất phát từ mục đích chung, trách nhiệm hành chính có mục đích trực tiếp là: giáo dục
người vi phạm và phòng ngừa các vi phạm pháp luật.
Mục đích phòng ngừa vi phạm pháp luật của trách nhiệm hành chính bao gồm phòng
ngừa riêng và phòng ngừa chung. ở đây, phòng ngừa riêng được hiểu là phòng ngừa sự tái
phạm và thực hiện vi phạm pháp luật mới từ phía người vi phạm hành chính và bị xử phạt

 Xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành theo những nguyên tắc, trình tự, thủ tục
được qui định trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính do các cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền ban hành. (Điều 3 – Pháp lệnh)
 Kết quả của các hoạt động xử phạt vi phạm hành chính thể hiện ở quyết định xử phạt
vi phạm hành chính ghi nhận các hình thức, biện pháp xử phạt áp dụng đối với tổ chức, cá
nhân vi phạm hành chính.
18
3. Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính
Theo Điều 3 Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính, hoạt động xử phạt vi phạm hành
chính phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
 Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay. Việc
xử lý vi phạm hành chính phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả
do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật.
(Khoản1)
Ví dụ minh hoạ: một người xây dựng căn nhà khi chưa có giấy phép xây dựng thì
Phòng Quản lý đô thị cấp phường phải lập biên bản và đình chỉ việc xây dựng, đến khi cá
nhân/ tổ chức hoàn thành các thủ tục cấp giấy phép xây dựng.
 Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt hành chính khi có vi phạm hành chính do pháp luật
qui định. (Khoản 2)
Ví dụ minh hoạ: một con đường cấm ngược chiều, thì chỉ người điều khiển phương tiện
giao thông đi ngược chiều thì bị xử phạt, còn người đi bộ thì không.
 Việc xử lý vi phạm hành chính phải do người có thẩm quyền tiến hành theo đúng qui
định của pháp luật. (Khoản 3)
Ví dụ minh hoạ: vi phạm hành chính về thuế thuộc thẩm quyền cơ quan thuế.
 Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt hành chính một lần. (Khoản 4)
Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm
đều bị xử phạt.
Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì bị xử phạt về từng hành vi vi
phạm.
 Việc xử lý vi phạm hành chính phài căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân

- Xử phạt cảnh cáo:
+ Chỉ áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành
chính theo quy định pháp luật.
+ Do người có thẩm quyền quyết định áp dụng.
- Kỷ luật cảnh cáo:
+ Áp dụng đối với cán bộ, công chức có hành vi vi phạm quy định
của pháp luật mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
+ Do thủ trưởng cơ quan, đơn vị sử dụng cán bộ, công chức thuộc
quyền theo thủ tục xử lý kỷ luật do pháp luật quy định.

 PHẠT TIỀN
* Mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính là từ 10.000 đồng đến 500.000.000
đồng.
* Căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực quản lý
nhà nước được quy định như sau:
20
i) Phạt tiền tối đa đến 30.000.000 đồng được áp dụng đối với hành vi vi phạm
hành chính trong các lĩnh vực: an ninh, trật tự, an toàn xã hội; quản lý và bảo vệ các công
trình giao thông; khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi; lao động; đo lường, chất lượng sản
phẩm hàng hoá; kế toán; thống kê; tư pháp; bảo hiểm xã hội; phòng cháy, chữa cháy;
ii) Phạt tiền tối đa đến 40.000.000 đồng được áp dụng đối với hành vi vi phạm
hành chính trong các lĩnh vực: giao thông đường bộ; giao thông đường thủy nội địa; văn hoá
- thông tin; du lịch; phòng, chống tệ nạn xã hội; đê điều, phòng chống lụt, bão; y tế; giá; điện
lực; bảo vệ và kiểm dịch thực vật; bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản; thú y; giống cây trồng; giống vật
nuôi; quốc phòng; dân số và trẻ em; lao động đi làm việc ở nước ngoài; dạy nghề; biên giới
quốc gia;
iii) Phạt tiền tối đa đến 70.000.000 đồng được áp dụng đối với hành vi vi phạm
hành chính trong các lĩnh vực: thương mại; phí, lệ phí; hải quan; an toàn và kiểm soát bức
xạ; giao thông đường sắt; bưu chính, viễn thông và tần số vô tuyến điện; chuyển giao công
nghệ; kinh doanh bảo hiểm; quản lý vật liệu nổ công nghiệp; thể dục, thể thao;

Những biện pháp phòng ngừa gồm:
- Kiểm tra giấy tờ nhằm ngăn ngừa những vi phạm pháp luật (ví dụ, kiểm tra bằng lái xe ô tô,
xe máy, nhãn hiệu hàng hoá, chứng minh thư nhân dân, bằng tốt nghiệp phổ thông, đại học );
- Kiểm tra hộ tịch, hộ khẩu trong nhà ở của công dân khi có nghi ngờ về vi phạm chế độ đăng
ký tạm trú;
- Kiểm tra hàng hoá, hành lý và cá nhân do các cơ quan hải quan thực hiện nhằm ngăn ngừa
các vụ buôn lậu qua biên giới, trốn thuế hàng hoá nhập, xuất, hoặc để đảm bảo an toàn cho các
chuyến bay, phát hiện các chất dễ cháy, dễ nổ;
- Ngăn cấm hoặc hạn chế xe cộ đi lại trên một tuyến đường khi xuất hiện nguy cơ mất an toàn
giao thông trong các trường hợp sửa lại đường sá, xây cầu cống, bão lụt, cây đổ, v.v
- Ngăn cấm vào khu vực đang có dịch bệnh;
- Kiểm tra bắt buộc sức khoẻ của những người làm công việc dịch vụ có liên quan đến thực
phẩm, y tế, dễ gây ra dịch bệnh cho người tiêu dùng, bệnh nhân v.v
- Trục xuất đối với người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam;
- Giáo dục tại xã, phường, thị trấn;
- Đưa vào trường giáo dưỡng;
- Đưa vào cơ sở giáo dục;
- Đưa vào cơ sở chữa bệnh, đối với người nghiện ma tuý, người mại dâm có tính chất thường
xuyên;
- Quản chế hành chính đối với những người có hành vi vi phạm pháp luật phương hại đến lợi
ích quốc gia nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
 BIỆN PHÁP TRƯNG DỤNG
- Mục đích nhằm trưng mua tài sản của cá nhân, tổ chức trong các trường hợp thật cần thiết để
đảm bảo an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia.
 BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN HÀNH CHÍNH
22
Được áp dụng để dập tắt những hành vi vi phạm pháp luật, ngăn chặn hậu quả thiệt hại
do chúng gây ra, hoặc để bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính gồm:
- Đình chỉ những hành vi vi phạm pháp luật do các cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng;
- Sử dụng vũ lực, vũ khí có hành vi chống đối việc thi hành công vụ hay trốn tránh trách

- Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự,
Uỷ ban chứng khoán nhà nước, Hội đồng cạnh tranh và cơ quan quản lý cạnh tranh (Điều 40)
- Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự,
cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, Cục
quản lý lao động ngoài nước.
Như vậy, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính sẽ do nhiều cơ quan, cán bộ có thẩm
quyền khác nhau thực hiện. Do đó, để tránh khó khăn, vướng mắc trong việc xử lý vi phạm
hành chính, pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 tại điều 42 quy định nguyên tắc
thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính như sau:
 Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong các
lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương.
Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại các điều từ Điều 31 đến
Điều 40 của Pháp lệnh này có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực, ngành
mình quản lý.
Trong trường hợp vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người, thì
việcxử phạt do người thụ lý đầu tiên thực hiện.
 Thẩm quyền xử phạt của những người được quy định tại các điều từ Điều 28 đến Điều
40 của Pháp lệnh này là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính.
Trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt được xác định căn cứ vào mức tối đa
của khung tiền phạt quy định đối với từng hành vi vi phạm cụ thể.
 Trong trường hợp xử phạt một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì
thẩm quyền xử phạt được xác định theo nguyên tắc sau đây:
a) Nếu hình thức, mức xử phạt được quy định đối với từng hành vi đều
thuộc thẩm quyền của người xử phạt, thì thẩm quyền xử phạt vẫn thuộc người đó;
b) Nếu hình thức, mức xử phạt được quy định đối với một trong các hành
vi vượt quá thẩm quyền của người xử phạt, thì người đó phải chuyển vụ vi phạm đến cấp có
thẩm quyền xử phạt;
c) Nếu các hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người thuộc các
ngành khác nhau, thì quyền xử phạt thuộc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền xử
phạt nơi xảy ra vi phạm.

trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định.
 Hết thời hạn mà cá nhân hay tổ chức không thi hành quyết định xử phạt thì cơ
quan có thẩm quyền sẽ áp dụng biện pháp cưởng chế như sau :
 Khấu trừ lương, thu nhập, tài khoản NH ( Điều 6 chương 2 ).
 Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với tiền phạt để bán đấu giá.
 Áp dụng các biện pháp cưởng chế khác.
c) Thời hạn, thời hiệu trong xử lý vi phạm hành chính
* Thời hạn trong xử phạt hành chính
25
Đối với việc xử phạt cảnh cáo hay phạt tiền 200.000đ thì người có thẩm quyền phải
quyết định ngay việc xử phạt khi phát hiện ra vi phạm hành chính.
Đối với trường hợp khác, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập biên bản người có thẩm quyền
phải ra quyết định xử phạt.
Nếu có tình tiết phức tạp phải gia hạn thì thời gian gia hạn không vượt qua 6 ngày
(Điều 56 pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 ).
* Thời hạn chấp hành quyết định xử phạt hành chính
Cá nhân hay tổ chức vi phạm hành chính phải chấp hành trong thời hạn 10 ngày kể từ
ngày được giao quyết định xử phạt.
Khi đã ban hành quyết định xử phạt xong thì cán bộ có thẩm quyền phải nhanh chóng
giao quyết định đó cho cá nhân hay tổ chức vi phạm hành chính.
* Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính
- Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính
 Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 1 năm kể từ ngày vi phạm hành
chính được thục hiện.
 Đối với các lĩnh vực như : tài chính, xây dựng, môi trường, nhà ở, đất đai, đê
điều, xuất bản, xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, buôn lậu, sản xuất, buôn bán hang
giả. Thì thời hiệu được tính là 2 năm kể từ ngày vi phạm hành chính được thực hiện.
- Thời hiệu thi hành quyết định xử phạt
 Thời hiệu thi hành quyết định thi hành xử phạt vi phạm hành chính là 1 năm
kể từ ngày ban hành quyết định xử phạt.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status