1
Luận văn
Bước đầu nghiên cứu nhãn
sinh thái và áp dụng thí điểm
cho ngành dệt may Việt Nam
2
MỞ ĐẦU
Ngày nay, nhận thức về môi trường trong người tiêu dùng được nâng cao
và điều đó dẫn tới tăng nhu cầu sử dụng sản phẩm và dịch vụ thân thiện với
môi trường. Để đáp ứng thực tế đó, nhiều nước trên thế giới và cộng đồng quốc
tế đã tiếp cận một số biện pháp quản lý môi trường thông qua trao đổi thông tin
giữa các nhà sản xuất, cung cấp dịch vụ và người tiêu dùng, khách hàng, trong
đó có nhãn sinh thái.
Sự ra đời của nhãn sinh thái có mục đích giúp người tiêu dùng nhận biết
được tính năng thân thiện với môi trường của sản phẩm hoặc dịch vụ, để từ đó
có sự lựa chọn cho mình. Khi người tiêu dùng quan tâm nhiều tới những sản
phẩm được cấp nhãn sinh thái thì chứng tỏ nhãn sinh thái đã khuyến khích các
công ty thay đổi quá trình công nghệ nhằm đáp ứng được tiêu chí môi trường
và sở thích của người tiêu dùng, hay nói một cách khác là đạt được sản xuất và
môi trường bền vững.
Đây là một lĩnh vực tương đối mới với các nước đang phát triển và đặc
biệt rất mới với Việt Nam. Việt Nam chưa có một chương trình nhãn sinh thái
nào được phép công nhận sản phẩm hoặc dịch vụ thân thiện với môi trường.
Tuy nhiên, chúng ta đã bắt đầu nghiên cứu nhãn sinh thái và đề xuất quy trình
áp dụng vào một số ngành như: thuỷ sản, dệt may, lâm nghiệp…
- Lập tiêu chí cho các sản phẩm 4
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Khái niệm về nhãn sinh thái
Nhãn sinh thái hay còn gọi là “nhãn xanh”, “nhãn môi trường” là các
nhãn mác của sản phẩm hoặc dịch vụ cung cấp thông tin cho người tiêu dùng
về sự thân thiện với môi trường hơn so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại.
Nói cách khác, nhãn sinh thái là sự công bố bằng lời, ký hiệu, sơ đồ nhằm chỉ
rõ các thuộc tính môi trường của sản phẩm được gắn trên sản phẩm, bao gói,
tạp chí kỹ thuật…2.
Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu về nhãn sinh thái còn có nhiều khái
niệm khác nhau. Theo Mạng lưới sinh thái toàn cầu (GEN): “Nhãn sinh thái là
nhãn chỉ ra tính ưu việt về mặt môi trường của một sản phẩm, dịch vụ so với
sản phẩm, dịch vụ cùng loại dựa trên các đánh giá vòng đời sản phẩm”.
Theo quan điểm của tổ chức thương mại thế giới (WTO) và Ngân hàng
thế giới, nhãn sinh thái được định nghĩa: “Một công cụ do các tổ chức phát
hành ra để truyền thông và quảng bá tính ưu việt tương đối về tác động tới môi
trường của một sản phẩm so với các sản phẩm cùng loại”.
tác kinh doanh có thể tự quyết định tham gia vào chương trình cấp nhãn sinh
thái mà không gặp bất cứ một sự bắt buộc nào từ phía cơ quan quản lý, từ phía
tổ chức cấp nhãn sinh thái. Các cơ quan quản lý, tổ chức cấp nhãn không có
quyết định bắt buộc các nhà sản xuất phải sự dụng nhãn khi đã đước chứng
nhận và cấp. Nếu không muốn sử dụng nhãn, nhà sản xuất có thể huỷ bỏ hợp
đồng với chương trình.
2.2. Nguyên tắc công khai, minh bạch
Việc xây dựng và quản lý chương trình cấp nhãn sinh thái phải công
khai, mở rộng đối với tất cả các bên liên quan. Thông tin về quy trình, phương
pháp luận phải có sẵn. Thông tin về nhóm sản phẩm, tiêu chí và hoạt động quản
lý của chương trình (trừ những thông tin cần bảo mật) cần đảm bảo được cung
cấp kịp thời và đầy đủ theo yêu cầu.
Những thông tin về lợi ích, đặc tính môi trường phải dễ tiếp cận với
người tiêu dùng. Người tiêu dùng có thể sẽ không tin tưởng để lựa chọn khi họ
6
còn nghi ngờ về tính chính xác, rõ ràng của những cam kết về môi trường của
sản phẩm. Thông tin thiếu minh bạch, thiếu sự rõ ràng sẽ làm giảm uy tín của
nhãn sinh thái mà chương trình gây dựng nên.
2.3. Nhất quán với nguyên tắc hoạt động của tiêu chuẩn quốc tế ISO
14000
Bộ tiêu chuẩn ISO 14000 là bộ tiêu chuẩn quốc tế về Quản lý môi trường
, với mục tiêu làm giảm những tác động xấu đến môi trường trong quá trình
khai thác, sản xuất, sử dụng và thải bỏ hàng hoá. Do việc chấp nhận và thông
qua các tiêu chuẩn ISO 14000 của các cơ sở công nghiệp và các chính phủ ngày
càng tăng, điều đó cho thấy sự nhất quán tuân thủ các tiêu chuẩn chung về việc
cải thiện môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế. Nhãn sinh thái là một trong các
tiêu chuẩn của ISO 14000 vì vậy việc cần tuân thủ các nguyên tắc hoạt động
của tiêu chuẩn quốc tế ISO 14000 trong quá trình hoạt động.
- ISO 14022 - Các ký hiệu cấp nhãn sinh thái
- ISO 14023 - Phương pháp luận về thử nghiệm và kiểm định
- ISO 14024 - Các nguyên tắc và các thủ tục - Nhãn sinh thái kiểu I
- ISO 14025 - Các công bố môi trường và nhãn sinh thái - Nhãn sinh thái
kiểu III
Tiêu chuẩn ISO 14020 - Các nguyên tắc cơ bản cho các kiểu nhãn
sinh thái
ISO 14020 cung cấp một sự tiếp cận quốc tế đối với các chương trình ghi
nhãn môi trường chung. Vì vậy, khi gắn một nhãn sinh thái thì sản phẩm đó
phải thoả mãn các yêu cầu quốc gia, đồng thời phải thực hiện sự phù hợp với
Đánh gía tiêu chuẩn Đánh giá sản phẩm
ISO 14000-Bộ tiêu chuẩn về Quản lý môi
trường
Hệ
thống
quản lý
môi
trường
Kiểm
tra
đánh
giá
môi
trường
Đánh
giá kết
quả
hoạt
động
phẩm
8
các yêu cầu của ISO có như mới sản phẩm của công ty mới có sức lôi cuốn đối
với thị trường thế giới.
ISO 14024 – Các nguyên tắc và các thủ tục - Nhãn sinh thái kiểu I
Đây là chương trình tự nguyện, do một bên thứ ba cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng nhãn sinh thái trên sản phẩm, biểu thị sự thân thiện với môi
trường dựa trên các nghiên cứu về vòng đời của sản phẩm. Bên thứ ba có thể là
cá nhân hoặc tổ chức được thừa nhận như một bên độc lập. Mối quan hệ giữa
các bên trong chương trình cấp nhãn sinh thái được mô tả bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ1.2: Chương trình cấp Nhãn sinh thái kiểu I
Bên thứ nhất là nhà cung cấp: đó là những nhà sản xuất hàng hoá, dịch
vụ, đại lý buôn bán, nhà nhập khẩu… Bên thứ hai là người tiêu dùng bao gồm:
người tiêu dùng hiện tại và người tiêu dùng tiềm ẩn.
14021 - Các khẳng định môi trường tự công bố - Nhãn sinh thái kiểu II
Đây là giải pháp môi trường do các nhà sản xuất, nhập khẩu, phân
phối… hoặc bất cứ ai được lợi nhờ các công bố môi trường mà không có sự
tham gia của cơ quan chứng nhận. Do lợi ích của các “khẳng định môi trường
tự công bố” nên có nhiều tổ chức, cá nhân có thể lợi dụng để đưa ra các “khẳng
định môi trường” trong khi họ hoàn toàn không có bất cứ một hoạt động nào
nhiệm vụ đưa ra các những quyết định chính thủ tục và các tiêu chí cho hoạt
động cấp nhãn. Các cơ quan dưới sẽ hỗ trợ và xúc tiến cho chương trình để
hoạt động được triển khai một cách rộng rãi.
4.2. Lựa chọn sản phẩm
Những nhân tố được xem xét trong việc lựa chọn sản phẩm:
+ Mức độ tác động môi trường
+ Khả năng để làm giảm tác động môi trường
+ Sự quan tâm của công chúng và khả năng cung cấp thông tin
+ Sự quan tâm của nhà sản xuất
+ Cơ hội thực hiện
10
4.3. Thiết lập tiêu chí
Sau khi nhóm sản phẩm được lựa chọn, ban tổ chức sẽ hướng dẫn và
thông báo quy trình xây dựng tiêu chí cho đai diện nhà sản xuất, người sử dụng
sản phẩm,… Những nhóm này cần tiến hành thu thập tài liệu, các tác động và
những vấn đề môi trường tìêm ẩn. Đánh giá tác động môi trường của sản phẩm
dựa vào việc nghiên cứu chu trình sống và nhấn mạnh khả năng làm giảm
những tác động xấu đến môi trường.
4.4. Tính công khai và việc tư vấn
Quá trình lựa chọn sản phẩm, xây dựng tiêu chí cần được công khai trên
các phương tiện thông tin đại chúng. Bộ phận tư vấn sẽ tư vấn cho người tiêu
dùng để giúp họ hiểu biết về chương trình nhãn sinh thái. Bộ phận tư vấn cho
nhà sản xuất nhằm đảm bảo tính cập nhật thông tin về yêu cầu của người tiêu
dùng, những sản phẩm có áp nhãn sinh thái để giúp họ thiết kế những sản phẩm
thân thiện với môi trường.
4.5. Đăng ký và cấp giấy chứng nhận
Người nộp đơn cung cấp những số liệu, mẫu sản phẩm cần thiết cho ban
tổ chức. Dựa trên sản phẩm và tiêu chí cụ thể, mẫu sản phẩm sẽ được kiểm tra
(1). Liên minh CHÂU ÂU (EU):
EU đã thông qua một đạo luật vào năm 1992 (sửa đổi năm 2000) để phân
biệt các sản phẩm có tác động tới môi trường thông qua hệ thống nhãn hiệu tự
nguyện được gọi là nhãn hiệu sinh thái. Chương trình nhãn sinh thái của EU
bao gồm nhiều cơ quan tham gia, có hiệu lực tối đa là 3 năm.
Khoảng 21 mặt hàng tiêu dùng bao gồm: ti vi, máy tính cá nhân (xem
phần Phụ lục) có thể sử dụng nhãn hiệu sinh thái. Với quy định mới sửa đổi
năm 2000, loại hình dịch vụ cung cấp chỗ ăn nghỉ cho khách du lịch cũng có
thể sử dụng nhãn hiệu sinh thái EU.
(2). Cộng hòa Liên Bang(CHLB) Đức:
CHLB Đức được xem là quốc gia đầu tiên thực hiện dán nhãn sinh thái
cấp quốc gia cho các sản phẩm hàng tiêu dùng. Chương trình nhãn sinh thái
12
“Thiên thần xanh” tại CHLB Đức đã được khởi xướng từ năm 1977. Nhãn
“Thiên thần xanh” có thời hạn hiệu lực tối đa là 4 năm, trong quá trình này các
tiêu chí của nhãn thường xuyên được xem xét và nâng cấp khi cần thiết.
Theo thống kê, đến năm 1996 đã có khoảng 3.800 sản phẩm thuộc 75
nhóm mặt hàng khác nhau đã được dán nhãn này, như các loại máy lạnh, tủ
lạnh không dùng CFC (Cloroflocacbon)…
Ở Đức việc gắn nhãn hiệu môi trường lên các sản phẩm dệt đang trở nên rất
quan trọng. Nhãn hiệu quan trọng nhất là Oko – Tex Standar 100. Nhãn hiệu Oko
– Tex được đưa vào sử dụng để đánh dấu các sản phẩm dệt ít có tác động xấu đến
môi trường xét về hàm lượng hóa chất có nguy cơ độc hại trong nguyên liệu. Đối
với nhãn hiệu này, sản xuất và chế biến là những khâu không cần lưu ý.
(3). Cộng hòa Pháp:
Nhãn “NF Environnement” là nhãn sinh thái của Pháp được thiết lập từ
năm 1992. Quá trình cấp phép được dựa trên cơ sở sự tiếp cận đa tiêu chuẩn,
trong phạm vi một số nhóm sản phẩm: sơn, túi rác có thể tái chế, nhớt ô tô…
hiệu lực từ 3 – 5 năm.
(2). Trung Quốc:
Ủy ban công nhận sản phẩm dán nhãn sinh thái Trung Quốc (CCEL)
được thành lập năm 1994. CCEL đã thành lập Văn phòng công nhận nhãn sinh
thái Trung Quốc được Ban chỉ đạo bảo vệ môi trường nhà nước công nhận là
cơ quan duy nhất có quyền công nhận và cấp nhãn sinh thái Trung Quốc. Từ
năm 1994 đến giữa năm 2005, chương trình nhãn sinh thái Trung Quốc đã xét
duyệt công nhận cho 800 xí nghiệp và 12000 sản phẩm đã được dán nhãn sinh
thái.
(3). Thái Lan:
Chương trình nhãn sinh thái “Green Label” của Thái Lan đã được khởi
xướng vào tháng 10 năm 1993. Chương trình đã được Bộ Công nghiệp kết hợp
14
với Viện Môi trường Thái Lan công bố chính thức vào tháng 8 năm 1994. Thời
hạn hiệu lực tối đa của hợp đồng nhãn sinh thái kéo dài trong 2 năm.
(4). Singapore:
Bộ Môi trường Singapore đã công bố chương trình nhãn sinh thái “Green
Label” vào tháng 5 năm 1992 nhằm nâng cao nhận thức về môi trường của
những công dân Singapore. Tính đến tháng 3 năm 1997, đã có 702 sản phẩm
của 137 nhà sản xuất khác nhau được dán nhãn sinh thái “Green Label”. Nếu
một công ty áp dụng chứng nhận nhãn sinh thái cho sản phẩm trong vòng 1
năm sau ngày công bố các tiêu chuẩn cho loại sản phẩm đó, thì sẽ được miễn
các loại phí sử dụng trong 5 năm đầu. Nếu áp dụng cho sản phẩm sau ngày
công bố tiêu chuẩn từ 1 năm trở lên thì chỉ được miễn các loại phí sử dụng
nhãn trong 3 năm.
5.2. Tình hình áp dụng nhãn sinh thái tại Việt Nam
Trong Chiến lược quốc gia bảo vệ môi trường đến 2010, định hướng đến
năm 2020, 100% sản phẩm hàng hoá xuất khẩu và 50% hàng tiêu dùng nội địa
chơi quốc tế.
6. Tính cấp thiết trong việc áp dụng nhãn sinh thái của ngành dệt
may Việt Nam
Dệt may là một trong những ngành sản xuất quan trọng trong chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Công nghiệp dệt may góp phần tăng tỷ
trọng xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm cho một lượng lớn lao động hiện
nay là 168196 người lao động trong các doanh nghiệp (2004). Theo thống kê
của ngành dệt may Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu của các sản phẩm dệt may
liên tục tăng nhanh với doanh thu năm 2004 là 4429,8 triệu USD, trong đó thị
trường EU đạt 360 triệu USD 10. Riêng trong năm 2006, xuất khẩu hàng Dệt
may đạt 5,8 tỷ USD tăng 20% so với năm ngoái, trong đó kim ngạch xuất khẩu
của Vinatex chiếm trên 1,7 tỷ USD. Hiện Việt Nam đang được xếp hạng
16/153 nước xuất khẩu dệt may trên thế giới. Năm 2007, Bộ Thương mại đã đề
16
ra mục tiêu xuất khẩu hàng Dệt may đạt 7 tỷ USD và sẽ là một trong 10 nước
xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất trên thế giới. Theo dự báo đến năm 2010,
ngành Dệt may cả nước sẽ sản xuất 2 tỷ mét vải, tạo ra 1,8 triệu việc làm, với
mức tăng trưởng hàng năm là 14%. Hiện nay hàng Dệt may đã có mặt trên 100
nước, chủ yếu tập trung vào 3 thị trường chính: EU, Nhật Bản, Mỹ. Hiện tại,
một số thương hiệu dệt may Việt Nam đã được đăng ký và tạo dấu ấn trên thị
trường xuất khẩu như: Vee Sendy (Việt Tiến), Novelty (Nhà Bè), F-House
(Phương Đông), Pharaon (May10)…13,14,16.
Để giữ được vị trí như hiện nay, ngành dệt may phải cố gắng nhiều do sự
cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường xuất khẩu. Một trong những yếu tố ảnh
hưởng lớn đến xuất khẩu là yêu cầu về dán nhãn sinh thái đối với hàng hoá, có
thể coi đây là rào cản kỹ thuật đối với thương mại. Yêu cầu này sẽ ảnh hưởng
đến việc tiếp cận thị trường của các doanh nghiệp. Vì việc thực hiện yêu cầu
này là rất khó khăn do chúng ta chưa có chương áp nhãn sinh thái toàn quốc
Xác định mục tiêu và phạm vi
Phân tích kiểm kê
Đánh giá tác động
Diễn
giải
18
1.1. Xác định mục tiêu và phạm vi
Để có được một kết quả rõ ràng rõ ràng, dễ hiểu trong đánh giá chu trình
sống thì điều cần thiết là xác định mục tiêu và các điều kiện ngay từ đầu.
Những mục tiêu có thể là:
- Tối ưu hoá quá trình
- Tối ưu hoá sản phẩm
- Xây dựng mạng lưới những thồng tin hoạt động nội bộ
- Xây dựng mạng lưới thông tin hoạt động bên ngoài (với khách hàng,
nhà cung cấp…)
Trong khi nghiên cứu cần xác định rang giới của hệ thống nhằm giới hạn
vấn đề. Một hệ thống có thể tập hợp của nhiều công đoạn, vật liệu và năng
lượng liên hệ với nhau, thực hiện một chức năng nhất định. Hệ thống phải được
mô hình hóa sao cho các đầu vào và đầu ra tại các ranh giới của chúng đều là
các dòng cơ bản. Ranh giới của hệ thống được thể hiện ở hình sơ đồ 2.4.
Sơ đồ 2.4: Ranh giới của hệ thống
Năng lượng
Nguyên liệu thô
19
1.2. Phân tích kiểm kê
Sau khi mục tiêu và phạm vi nghiên cứu CTS đã được xác định rõ ràng,
giai đoạng tiếp theo là phân tích kiểm kê. Phân tích kiểm kê bao gồm việc chọn
dữ liệu để định lượng đầu vào và đầu ra của hệ thống sản phẩm. Quá trình kiểm
kê cần lượng dữ liệu từ nhiều nguồn cung cấp khác nhau. Các nguồn cung cấp
dữ liệu được mô tả trên hình 2.1
Hình 2.1: Các nguồn cung cấp dữ liệu
1.3. Phân tích tác động
Trên cơ sở những dữ liệu đã được kiểm kê, phân tích tác động là bước xác
định các ảnh hưởng tiềm tàng đối với môi trường, sức khoẻ con người, phát
sinh chất thải. Quy trình của phân tích tác động gồm 3 phần: phân loại, mô tả,
đánh giá.
có cái nhìn khái quát về đề tài nghiên cứu.
3. Phương pháp điều tra, phỏng vấn
Phỏng vấn các chuyên gia về nhãn sinh thái, tình hình sản xuất của
ngành dệt may, khả năng áp nhãn sinh thái cho sản phẩm dệt may… Phỏng vấn
người tiêu dùng về mức độ mức độ quan tâm, hiểu biết về nhãn sinh thái, mức
độ tin cậy vào sản phẩm có áp nhãn sinh thái (nếu có). Nhằm xác định và hiểu
rõ hơn về đối tượng nghiên cứu (mặt hàng dệt may) để từ đó xác minh độ chính
xác của thông tin. 21CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ DỰ KIẾN
1. Phân tích chu trình sống của sản phẩm dệt may Việt Nam
2. Đánh giá khả năng cấp nhãn sinh thái cho sản phẩm dệt may Việt Nam
3. Lập tiêu chí cho sản phẩm dệt may Việt Nam
22
23
1.4. Diễn giải 19
2. Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu 19
3. Phương pháp điều tra, phỏng vấn 19
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ DỰ KIẾN 20
1. Phân tích chu trình sống của sản phẩm dệt may Việt Nam 20
2. Đánh giá khả năng cấp nhãn sinh thái cho sản phẩm dệt may Việt Nam 20
3. Lập tiêu chí cho sản phẩm dệt may Việt Nam 20